Nữ sĩ Tương Phố - cuộc đời và tâm hồn thơ đậm đà tình nghĩa

09:39 02/01/2011
NGUYỄN HỒNG TRÂNNữ sĩ Tương Phố tên thật là Đỗ Thị Đàm sinh ngày 14/7/1900, nguyên quán ở xã Bối Khê, tổng Cẩm Khê, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên và mất ngày 8/11/1973 tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Nữ sĩ Tương Phố - Ảnh: wikipedia.org

Về năm sinh của bà có vài sách ghi khác nhau như trong “Từ điển Văn học” (T2 Nxb KHXH, 1984, tr.491) đã ghi năm sinh của bà là năm 1896; Sách “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” (Nxb, KHXH, 1992, tr.203) thì ghi bà sinh năm Mậu Tuất 1898. Trên lăng mộ bà tại đồi Tương Sơn, Đà Lạt đã ghi trên tấm bia mộ bà năm sinh là 1900 và năm mất là 1973. Như vậy, năm nay 2010, tính từ năm sinh của bà thì đã tròn 110 năm (1900 -1973).

Đỗ Thị Đàm là một nữ sĩ hiện đại, bút danh Tương Phố. Vì bà chào đời tại Đồn Đầm, tỉnh Bắc Giang, nơi thân sinh của bà làm việc, nên đặt tên bà là Đàm để ghi dấu tích làm kỷ niệm. (Đàm chữ Hán có nghĩa là Đầm). Bà sinh ra trong một gia đình nho học, thân sinh của bà là một nhà nho thanh bần là Đỗ Duy Phiên và bà Nguyễn Thị Yêm. Thân mẫu bà hiếm hoi, chỉ sinh được hai người con gái là Tương Phố và Song Khê. Song Khê - Đỗ Thị Quế cũng là một nữ sĩ có tiếng lúc bấy giờ. Hai chị em lúc nhỏ học chữ Hán với thân phụ, và học tiếng Pháp tại trường công lập ở tỉnh nhà Hưng Yên. Sau đó, bà Đỗ Thị Đàm lên học tại trường nữ Sư phạm Hà Nội. Thời kỳ đó, bà gặp anh chàng sinh viên trường thuốc Thái Văn Du (em ruột cụ Thái Văn Toản - Thượng thư Bộ Lại, triều Nguyễn thời Bảo Đại), người làng Quy Thiện, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị rồi thành vợ chồng và sống tại Hà Nội. 

Đỗ Thị Đàm được hưởng hạnh phúc cùng chồng chưa đầy một năm thì chồng bà phải sang Pháp để học tiếp lấy bằng Y Khoa Thuộc địa năm 1916. Sau đó bà sinh con trai mới 6 ngày thì chồng bà là Y sĩ Đông Dương nên Pháp điều đi tham chiến trong chiến tranh Pháp - Đức (1914-1918). Lúc bấy giờ bà mới có con trai đầu lòng tên là Thái Văn Châu. Sang Pháp được ba năm, ông Du không chịu nổi giá rét mùa đông nên bị bệnh lao phổi rất nặng phải đưa về Huế điều trị năm 1919. Hồi này, nữ sĩ đang bận bịu con thơ tại Hà Nội. Vả lại, đường sá xa xôi cách trở, nên không vào thăm chồng được. Không bao lâu thì bà được điện tín báo cho biết chồng bà đã tạ thế và đã đưa đám tang rồi (mùa thu 1920).

Sau khi chồng qua đời, bà đem con về nương nhờ cha già. Đoạn tang, vì cảnh cha già con dại và cũng thương cha cứ khuyên con gái mình tuổi còn quá trẻ mới gần đôi mươi mà goá bụa nên đi thêm bước nữa cho đời đỡ trống trải, cô đơn, vất vả. Bà đành lòng phải tái giá (làm vợ bé) với quan Tuần Vũ Phạm Khắc Chánh ở tỉnh Phúc Yên năm bà 25 tuổi (1925). Nhưng sau cũng chẳng rõ bà có thêm con cái với ông Chánh nữa hay không?

Năm 1954, bà di cư vào Nam, đi cùng với gia đình người con trai của bà với ông Thái Văn Du vào sinh sống tại thành phố Đà Lạt. Người con trai của bà là giáo sư Thái Văn Châu đã từng làm Giám đốc sở Thủy Lâm Đà Lạt. Bà Tương Phố đã sống gắn bó với Đà Lạt gần 20 năm cùng gia đình con trai và 10 người cháu nội của bà. Nhiều lần bà muốn cùng con trai Thái Văn Châu ra Huế thăm lăng mộ của người chồng cũ Thái Văn Du nhưng vì thời chiến tranh đi lại khó khăn và mất liên lạc bà con, người thân ngày xưa ở quê chồng nên không biết đâu mà tìm. Năm tháng trôi qua, bà buồn rầu chưa tìm được lăng mộ cha cho đứa con trai duy nhất của bà. Bà cứ canh cánh bên lòng một nỗi niềm thương nhớ, day dứt... Nhưng sau khi nước nhà hòa bình thống nhất, GS Thái Văn Châu đã ra Huế tìm thăm được ngôi mộ của cha mình trên đồi sát chùa Từ Hiếu do một người bà con ở Huế giúp đỡ. Về sau này các con của ông Châu có ra Huế và nhờ cô ni sư Diệu Thành dẫn đến thăm lăng ông nội Thái Văn Du.

Năm 1972, sau khi nghe tin đứa cháu đích tôn của bà là Thái Kim Đăng đã hy sinh vì Tổ quốc (liệt sĩ), bà vô cùng thương tiếc rồi dần dần lâm bệnh nặng và qua đời tại Đà Lạt vào ngày 14 tháng 10 năm Quý Sửu (tức ngày 8/11/1973).

Đỗ Thị Đàm rất yêu thích văn thơ từ thuở nhỏ, cũng do được thụ hưởng ở người cha những áng thơ văn đẹp và buồn trong văn chương trung đại của Trung Quốc và Việt Nam. Và nhất là trong thời gian bà ở Hà Nội đã quen thân làm bạn với một chàng trai từ Huế ra học trường Y rồi trở thành vợ chồng. Chồng của bà - Thái Văn Du - một chàng trai rất yêu văn thơ lại vừa có vốn cựu học và tân học ở kinh đô Huế, và đôi vợ chồng trẻ thường cùng nhau đàm đạo về văn thơ. Và nhất là khi vào học trường nữ Sư phạm Hà Nội (1918 - 1920) có dịp làm phong phú thêm vốn văn chương Đông - Tây, bà rất đam mê việc đọc văn thơ của các tác gia thi văn có tiếng trong và ngoài nước rồi sáng tác thơ văn với nhiều đề tài khác nhau nhưng đều toát lên một nội dung trữ tình sâu lắng tâm hồn man mác, thăm thẳm...

Bà vào làng văn thơ Việt Nam từ những năm cuối thập kỷ 20 (1927-1928). Từ đó, bà làm nhiều bài thơ và nhiều áng văn xuôi đậm đà chất thơ đã tuôn chảy dưới ngòi bút của bà. Những tác phẩm chính của bà là:

- Giọt lệ thu (được bà viết ở sông Thương năm 1923 và lần đầu tiên được in trên “Nam phong tạp chí” năm 1928).

- Trúc Mai (truyện dài bằng thơ),

- Một giấc mộng (truyện, 1928),

- Mối thương tâm của người bạn gái (văn xuôi, 1928),

- Bức thư rơi (văn xuôi, 1929),

- Tặng bạn chán đời (thơ 1929),

- Tái tiếu sầu ngâm (thơ lục bát, 1930),

- Khúc thu hận (thơ song thất lục bát, 1931),

- Đời đáng chán (thơ song thất lục bát, 1932),...


Trong những tác phẩm văn thơ của Tương Phố, về văn xuôi thì chẳng có tác phẩm nào gây được ấn tượng xúc động sâu sắc như tác phẩm thơ văn giao thoa Giọt lệ thu. Có lẽ do bao nỗi đau buồn dồn dập riêng tư và xã hội đã đè nặng lên vai bà, tâm trí bà lúc đương thời đã tạo nên tâm điểm sáng tác của bà một cách sâu sắc, hiện thực.

Một điều đặc biệt là sau khi bài Giọt lệ thu ra đời trên báo Nam Phong (số 131 tháng 7 năm 1928) đã làm cho nhiều người trong xã hội nước ta lúc bấy giờ vô cùng xúc động và ngưỡng mộ tài năng văn thơ của bà đã tạo nên được những nỗi niềm rung động trái tim thân thiết với bao người. Cho đến ngày nay, có nhiều cụ già xứ Huế tuổi gần 90 mà vẫn còn thuộc lòng nhiều đoạn thơ của bà Tương Phố.

Chẳng hạn như bài Khóc chồng:

Ngoảnh lại trời Nam lệ chứa chan,

Lửa hương thôi đã lỗi muôn vàn./ Thương chàng vỡ lỡ đường danh vọng,/ Tủi thiếp bơ vơ lỗi đoạn tràng./ Chiếc bách dòng sâu e sóng cả./ Nửa chăn bụi lấp lửa canh tàn./ ừ đây non nước người xa vắng,/ Chi xiết lòng em nỗi dở dang...    
       

Có thể nói rằng bài Giọt lệ thu là bài nổi tiếng nhất của Tương Phố vì nó rất hay trên nhiều mặt mà rất nhiều người khác nhau về lứa tuổi và học vấn đều cảm nhận được một cách thấm thía trong tâm hồn. Nó có một cái gì đó vừa chân thực, vừa huyền ảo; vừa gần gũi lại vừa xa xôi; vừa tủi thân lại vừa thương nhớ.

Bao giờ quên được mối tình xưa,/ Sinh tử còn đâu mãi tới giờ!/ Giấc mộng tìm nhau, tìm chẳng thấy/ Mênh mang biển hận, hận không bờ!...

Có đoạn bà tự sự phận mình một cách đau buồn, tủi phận: 

“Duyên chẳng hẹn trăm năm, tình còn ghi muôn kiếp. Anh chàng Thái Văn Du mất ở Huế ngày 25 thánh 7 năm Canh Thân (1920). Đôi lứa trẻ trung, kẻ Nam người Bắc. Khi sống đã xa nhau, lúc mất không gặp mặt. Lòng em thương xót bao giờ cho nguôi!...”

Trời thu ảm đạm muôn màu,/ Gió thu hiu hắt thêm rầu lòng em./ Trăng thu bóng ngả bên thềm/ Tình thu ai để duyên em bẽ bàng...

(Bốn câu thơ này sau khi Tương Phố qua đời đã được ghi lên bia lăng mộ của bà tại đồi Tương Sơn, Đà Lạt).

Chúng ta thấy rằng, tác phẩm này tác giả không chỉ thể hiện bằng thơ mà cả văn xuôi xen lẫn giao thoa với nhau rất ăn ý và tạo thành một dòng chảy tình cảm đậm đà sâu lắng, thiết tha tình người.

“Anh ơi! thu về như gợi mối thương tâm. Mỗi độ thu sang, em lại vò lòng than khóc. Nghĩ năm có một lần thu, nhưng thu năm nay đi, năm sau còn trở lại. Hỏi ba sinh hương lửa, thời ái ân kia dễ mấy kiếp hẹn hò nhau? Chẳng hay cơ trời dâu bể vì đâu, xui nên chăn gối vừa êm, lửa hương mới bén, sắc cầm dìu dặt ngón đàn, bỗng ai xô lộn tình tan, gương vỡ cho người lỡ duyên!

Than ôi! Hình dung đôi ngả, gió mây hồi ấy, anh đi mãi năm tháng thường về, người không dấu vết. Em muốn tìm anh tìm chẳng thấy! Hôm sớm bâng khuâng buồn lại nhớ. Thương nhau gầy gò khóc vì nhau. Anh vui non nước bấy lâu, bụi hồng khuất nẻo dứt đường cá chim. Trông bốn phía trời mây vơ vẩn, em còn biết đâu là lối phía bay mà tìm? Chốn phòng loan từ thuở vắng anh, lệch làn chăn gối đượm sầu. Gương xưa chiếu cũ nghiêng xiêu. Thu Đông đến chẳng cùng em ái ân nữa. Giấc cô miên trằn trọc một canh dài. Mắt muốn nhắm đi lòng nào có ngủ. Đường kia nỗi nọ, trăm năm tâm sự, khôn đem hồn mộng gửi chiêm bao! Ngày tới đêm lui, hôm mai lần nữa, những ngậm ngùi than xót cho thân”.

Những dòng tâm sự của bà cứ liên tục tuôn trào ra từ những mạch ngầm thương yêu, tình nghĩa rồi cứ suy nghĩ liên miên chuyện thiên nhiên trời đất có hiểu cho chăng tâm trạng của mình trong những ngày tháng cô đơn, lạnh lẽo, tê tái lòng sầu...

“Than ôi! lênh đênh sóng nước một con thuyền. Phong ba cuộc thế mấy phen dập vùi. Nghĩ cánh buồm bạt gió, bể hận không bờ. Con chèo tuyệt vọng khôn giò bến, em nay còn biết buông theo ngả nào? Trên cầu đoạn trường bể khóc như nắm vỏ gầy thảm thiết thương anh. Trăm mối tơ lòng không tung mà rối. Xuân qua hạ lại, cảm tình đã chẳng khác chi Đông. Thu sang tâm sự lại dạt dào, thương tâm gió buổi mây chiều, lòng em lai láng biết bao sầu tình...

Anh ơi! phòng Thu vò võ một mình, mỗi khi nhớ anh em lại ngừng tay kim chỉ, muốn bước chân hiên xa trông non nước mà hồi tưởng đường xưa lối trước đi về có nhau thì muôn ngàn tâm sự lúc bấy giờ lại như xô lùi em về canh đời dĩ vãng, mà rồi ngọn trào trong dạ cũng mênh mông cồn sóng lệ. Em nhiều khi nghĩ thương nước mắt, muốn thôi đi không khóc nữa nhưng hai hàng châu lệ vẫn cứ chan hoà như mưa. Nước non ngao ngán tình xưa, gối chăn ngấm lệ lòng sầu đến nay...”

Có những đoạn bà tâm sự nỗi lòng mình như đang thầm nói bên bàn thờ chồng thật cảm động và khi đọc lên cũng như những dòng thơ cuộn vào dòng chảy tâm tư của người góa bụa trẻ trung:

“Anh ơi! non nước còn đó mà anh vội đi đâu? Ngày Xuân sao chẳng ở cùng nhau? Duyên thắm nỡ nào chia rẽ lứa. Ngoài nội uyên kia cùng chắp cánh, trên nương én nọ chẳng lìa đôi. Trong mây kết bạn liệng ngang trời. Nghĩ chim ríu rít, tủi người lẻ loi. Ôi chim có đôi, người sao lẻ bạn. Chăn đơn gối chiếc em biết cùng ai than thở chuyện trăm năm? Đời em phận mộc cánh chuồn, tóc tơ ngắn ngủi cùng anh không có phúc nối duyên lâu dài. Nhưng gieo chanh, rắc ớt chua cay lòng trẻ, để rày chếch mác dở dang... Cũng bởi tại khuôn xanh kia đã quá say lừa lọc. Trời ơi! ba sinh hương lửa đã có duyên kiếp ái ân bạn đời. Ví dầu chẳng để trăm năm nữa, cũng cho xuân thu đắp đổi độ vài mươi năm cho cam tấm lòng trẻ thì khăn túi. Nỡ nào chắt chiu em mới một xuân quân đã đem sinh ly tử biệt chia phôi bước đường. Con còn trong cữ chưa ra rốn, rộ qua bể cạn chưa hoàn hồn, anh đã vội vàng dứt áo ra đi. Ôi! ra đi nào phải đi gần, dặm đường Âu Mỹ ngàn trùng nước non. Buổi tiễn đưa, nhìn anh rồi lại nhìn con. Chén quan hà những uống lệ mà cay!...

Gió mưa chim chẳng lìa đôi,/ Giữa đường ân ái nào người lẻ duyên./ Lai sinh nguyện chuyển cánh uyên,/ Cao bay chẳng để khôn thiêng lọc lừa.

Anh ơi! một năm qua mấy thời xuân, bốn mùa trăng để mấy rằm trong thu? Trăng đẹp khi tròn, hoa thơm khi úa. Đời xuân xanh ai trẻ mãi ru mà! người yêu hoa đem lòng luyến ái khách. Say trăng chén rượu vui mời, nhưng thêm 3 vạn 6 nghìn ngày, sinh thư cõi trần ai không hơn gì mộng cảnh. Cho nên thương hoa xuân ta cảm trắng thu tàn. Đã mang tấc dạ yên say, khách chung tình không nỡ để vì mình mà trăng sầu hoa tủi. Em nay vì anh mà đến nỗi nửa chừng xuân. Tơ liễu còn xanh mà nửa lần tâm sự, đã sang thu rồi...

Than ôi! anh đi chẳng lại, đã đành rằng duyên kia dang dở. Những ngày xanh quãng vắng em đợi chờ ai?

Ngày xanh luyến tiếc xuân dài,/ Oanh đưa liễu đón duyên ai đi về./ Xuân vui đôi lứa đề huề,/ Sầu xuân say tỉnh tê mê một thời./ Xuân xanh duyên đã phai rồi,/ Đời xuân thôi cũng là đời bỏ đi...

Anh ơi! hờn xuân em lại hận trời. Trời đa đoan phũ phàng con trẻ. Nơi dở dang này em biết than thở với ai đây? Theo duyên những ước duyên may, em có ngờ đâu giữa đường đứt gánh chung tình. Anh đi để lại cho em những ngày mưa sầu gió thảm! Con anh măng sữa, em còn thơ ngây. Cuộc đời trăm đắng ngàn cay. Trông vào ai, cậy vào ai? Thấy gian nan chân chồn bước ngại. Tới lui đã dở, nắng mưa dễ biết lánh vào đâu? Đường mây vỗ cánh, chiều bóng mát cây cao. Chim kia còn hơn em có tổ, hôm mai đi về. Buông con mắt trông bốn phía trời, em chỉ biết ngậm ngùi rưng rưng nước mắt mà không biết đâu là nơi hy vọng được tháng ngày ấm no. Năm theo anh, em mười bảy thơ ngây, đào tơ sen gió, ái ân thuở đó, đem ngày xanh hẹn tuổi bạc đầu”.

Thực ra trong lòng bà Tương Phố, tuy thời gian xa cách chồng và chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi nhưng bà vẫn có niềm tin và hy vọng đến ngày vợ chồng hội ngộ vinh quang. Bà Tương Phố như muốn phân trần với chồng là người vợ hiền bao giờ cũng luôn luôn nghĩ tới chồng và muốn cho chồng mình được công thành danh toại. Vì vậy nên gian nan khổ cực mấy cũng gắng chịu đựng:

“Em những chắc cùng nhau đôi lứa thiếu niên. Bắc Nam dù cách trở, hương lửa vẫn nồng nàn thì nay dầu xa xôi, mai rồi lại gặp gỡ, và nước non còn đó, đâu hết cơ duyên. Nên chi con thơ măng sữa em chăm chút, chẳng phiền cha mẹ, chẳng phiền anh, rắp mong để yên lòng khoa danh gặp hội, anh đua bước. Một mai nam nhi toại chí. Dưới bóng tùng quân, em cũng được nở nang mày mặt”.

Rồi bà không ngờ niềm tin và hy vọng của bà đã tiêu tan hết khi nghe tin người chồng thân yêu của mình không còn nữa. Bà quay cuồng than khóc đau đớn, thương tiếc cho số phận của chồng và của mình rồi oán trách sự đời quá bạc bẽo:

“Than ôi! những cậy mình tuổi trẻ khinh li biệt. Em nào có học đến chữ “ngờ” mà biết trước sinh ly tử biệt đoạn trường dồn nhau. Sự duyên càng nói càng đau....

 Nhưng cũng tưởng đầu xanh tuổi trẻ ái ân còn dài thì rồi đây sum họp âu sẽ có ngày cùng nhau hàn huyên kể lại mối sầu chia phôi. Nào hay đâu ông tạo hoá cơ cầu, xui nên vật đổi sao dời trong phút chốc. Đương đau đớn xa nhau, bỗng lại khóc mất nhau!... 

Ôi, tin đâu xé ruột, xé lòng!... Mảnh giấy xanh đưa đến tận nơi: Ngày hai mươi nhăm tháng bảy năm Canh Thân (1920) là ngày anh tạ đất tạ trời, cướp công cha mẹ, dứt tình vợ con, lìa rẽ anh em, chia đường kim cổ. Một gánh nợ đời trút cả cho người còn lại!

Chao ôi! lưng trời sét đánh, em thật đã chết cả đời người. Thôi thế thì thôi! một dải khăn ngang, năm thân gấu xổ, trăm năm tâm sự còn nói năng gì! Con anh nào biết mặt cha, thân côi cút trái đào 3 tuổi, từ nay em dạy, em nuôi. Khoảng trời đất không mong gì thấy bố! Nghĩ mà thương xót cho con... nhà không nóc, mưa gió mai ngày, cuộc đời xoay xở biết toan sao? Đoạn trường em lại biết bao nhiêu giăng mắc. Con còn trẻ thơ, lo ăn, lo mặc, lo học, lo hành... Khi con khôn lớn lại phải lo sao cho thành danh phận để chen vai nối gót với đời. Nghĩ như thân em sức vóc liễu bồ, cánh vây không có, hai bàn tay trắng, đức tài cũng không, một mình mẹ goá nuôi con, em biết lo liệu sao cho tròn phận ấy?”.

Trong niềm xót xa, tuyệt vọng đó, bà vẫn có lúc liên hệ so sánh chuyện tình trong trời đất như để than vãn với linh hồn của người chồng quá cố với những lời đầy chân thành tình nghĩa nặng sâu:

“Anh ơi! anh mất đi để lại cho em bao nhiêu nỗi dở dang ở đời. Dầu em có nghĩ liều: mặc đời cua máy, cáy đào, nỗi dở dang âu đành chẳng bận. Nhưng tình nhớ thương khuây khoả sao đây! Ra về vắng vẻ, tháng ngày khăn áo cũ còn hình dung bóng dáng anh. Khoảng trời đất non buồn, nước lạnh. Người đi biền biệt, kiếp này còn gặp nhau đâu nữa mà mong!

Trên mây kia là Ngưu Chức chia phôi cũng đoạn trường, những khóc nhau rồi lại có ngày thấy nhau. Em khóc anh mấy thu nay lệ đã đắm lòng, người đành không lại, mộng sao chẳng về?... Nghĩ đau duyên ấy lại hờn với Ngâu!

Thu về đẹp lứa duyên Ngâu,/ Trăm năm Ô Thước bắc cầu Ngân giang./ Đôi ta ân ái lỡ làng,/ Giữa đường sinh tử, đoạn tràng chia hai./ Anh vui non nước tuyền đài,/ Cõi trần hương lửa riêng ai lạnh lùng./ Nhân gian khuất nẻo non bồng,/ Trăm năm nào thiếp tấm lòng bơ vơ...”

Tuy tâm trạng của bà trong thời đoạn này rất buồn bã, hoang mang không biết lo liệu cuộc đời ra sao, nhưng bà không gục ngã trước hoàn cảnh và số phận của mình. Bà cố bình tâm nhìn cảnh vật thiên nhiên để khuây khỏa nỗi lòng nhớ thương và tự an ủi cho mình mà gắng sức để sống nuôi con khôn lớn trưởng thành nhằm giữ lại một kỷ niệm thương yêu duy nhất huyết nhục của người chồng quá cố.

“Anh ơi! chung cảnh thu này, Đông Tây Nam Bắc biết bao người cảm thu. Nhưng lòng ai thu hẳn như em! mà mây chiều vấn dạ, gió mai lạnh lùng. Như em, mỗi khi hạt sương giao là lệ thẳm, một lần lá rụng là một mảnh tình sầu. Thu càng thảm, sầu càng tăng. Anh ơi! em nghĩ đến về với anh mùa thu. Mất anh cũng lại mùa thu. Cho nên năm lại năm, cứ độ thu sang thì em lại bồi hồi nhớ trước, tưởng xưa mà lòng thu một tấm cũng ngây ngất sầu!

Anh ơi, giọt lệ khóc thu, em chỉ vì anh mà năm năm lai láng... Than ôi, thu sang thu não lòng người biết bao!

Sầu thu nặng, lệ thu đầy,/ Vi lau san sát, hơi may lạnh lùng./ Ngổn ngang trăm mối bên lòng,/ Ai đem thu cảnh hoạ cùng thu tâm”

Chúng ta có thể nói rằng, bài Giọt lệ thu của nữ sĩ Tương Phố đã nổi tiếng vang xa và thấm sâu lâu dài trong lòng bạn đọc của nhiều thế hệ, nhiều tầng lớp của xã hội. Như vậy thật là đáng quý đáng trân trọng! Giọt lệ thu của Tương phố là lối văn thơ giao thoa uyển chuyển thật độc đáo, mới mẻ. Mặc dầu nó không nổi bật về ý nghĩa lịch sử và văn hóa lắm nhưng nó có một giá trị về xã hội nhân văn rất cao. Đó là được nhiều người trong xã hội lúc bấy giờ đã tìm thấy sự đồng cảm của tâm hồn và tình nghĩa con người.

Xin trích một đoạn trong cuốn “Từ điển Văn học” (T2 Nxb, KHXH, 1984, tr.491) về nhận xét đánh giá chung văn thơ của Tương Phố mà tiêu biểu là Giọt lệ thu như sau:

“Tương Phố đã góp vào bộ phận văn chương hợp pháp 30 năm đầu thế kỷ XX một tiếng khóc ảo não. Ít nhiều bà có làm sống lại tâm trạng người chinh phụ trong văn học quá khứ. Bà cũng tiếp nhận âm hưởng tiếng khóc của bao nhiêu văn nhân thi sĩ qua nhiều bài văn tế, văn điếu, bài vãn của nhiều đời. Nhưng nỗi đau xót bất hạnh của bà có nhiều sầu thảm, vô vọng hơn, cũng nhuốm màu sắc hiện đại hơn, vì trong đó không chỉ có nỗi đau riêng mà còn gói cả “Trời sầu” của thế hệ thanh niên tiểu tư sản thành thị Việt Nam trong những năm sau Đại chiến I...”.

Như vậy, vai trò của nữ sĩ Tương Phố trong văn chương dân tộc chủ yếu gắn với tác phẩm Giọt lệ thu - một trong những dấu ấn khó phai mờ trong lịch sử văn chương ở thập niên thứ ba của thế kỷ 20 như là tiếng than kêu xót xa, da diết của con người hòa trong không khí buồn đau chung của thời đại. Khi đọc những đoạn văn tâm tình than vãn của bà xen lẫn trong Giọt lệ thu cũng chứa đầy âm điệu hồn thơ. Chính vì thế mà nó có khởi sắc một lối thi pháp khá mới mẻ cho việc phát triển phong trào thơ mới sau này “Một thời đại mới trong thi ca” dân tộc - thời đại của thơ mới lãng mạn với sự xuất hiện những gương mặt các thi nhân tiếng tăm như Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Cù Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ v.v.

Phủ Cam, Huế tháng 5 năm 2010
N.H.T
(262/12-10)







Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.

  • Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.

  • PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.

  • ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.

  • NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".

  • HOÀNG KIM DUNG      (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập  truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)

  • PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...

  • Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.

  • ANH DŨNGLTS:  Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.

  • SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?

  • MINH QUANG                Trời tròn lưng bánh tét                Đất vuông lòng bánh chưng                Dân nghèo thương ngày Tết                Gói đất trời rưng rưng...

  • NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.

  • Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.

  • NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.

  • ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.

  • HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.

  • FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.

  • KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.