Nữ sĩ Tương Phố - Ảnh: wikipedia.org
Về năm sinh của bà có vài sách ghi khác nhau như trong “Từ điển Văn học” (T2 Nxb KHXH, 1984, tr.491) đã ghi năm sinh của bà là năm 1896; Sách “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” (Nxb, KHXH, 1992, tr.203) thì ghi bà sinh năm Mậu Tuất 1898. Trên lăng mộ bà tại đồi Tương Sơn, Đà Lạt đã ghi trên tấm bia mộ bà năm sinh là 1900 và năm mất là 1973. Như vậy, năm nay 2010, tính từ năm sinh của bà thì đã tròn 110 năm (1900 -1973). Đỗ Thị Đàm là một nữ sĩ hiện đại, bút danh Tương Phố. Vì bà chào đời tại Đồn Đầm, tỉnh Bắc Giang, nơi thân sinh của bà làm việc, nên đặt tên bà là Đàm để ghi dấu tích làm kỷ niệm. (Đàm chữ Hán có nghĩa là Đầm). Bà sinh ra trong một gia đình nho học, thân sinh của bà là một nhà nho thanh bần là Đỗ Duy Phiên và bà Nguyễn Thị Yêm. Thân mẫu bà hiếm hoi, chỉ sinh được hai người con gái là Tương Phố và Song Khê. Song Khê - Đỗ Thị Quế cũng là một nữ sĩ có tiếng lúc bấy giờ. Hai chị em lúc nhỏ học chữ Hán với thân phụ, và học tiếng Pháp tại trường công lập ở tỉnh nhà Hưng Yên. Sau đó, bà Đỗ Thị Đàm lên học tại trường nữ Sư phạm Hà Nội. Thời kỳ đó, bà gặp anh chàng sinh viên trường thuốc Thái Văn Du (em ruột cụ Thái Văn Toản - Thượng thư Bộ Lại, triều Nguyễn thời Bảo Đại), người làng Quy Thiện, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị rồi thành vợ chồng và sống tại Hà Nội. Đỗ Thị Đàm được hưởng hạnh phúc cùng chồng chưa đầy một năm thì chồng bà phải sang Pháp để học tiếp lấy bằng Y Khoa Thuộc địa năm 1916. Sau đó bà sinh con trai mới 6 ngày thì chồng bà là Y sĩ Đông Dương nên Pháp điều đi tham chiến trong chiến tranh Pháp - Đức (1914-1918). Lúc bấy giờ bà mới có con trai đầu lòng tên là Thái Văn Châu. Sang Pháp được ba năm, ông Du không chịu nổi giá rét mùa đông nên bị bệnh lao phổi rất nặng phải đưa về Huế điều trị năm 1919. Hồi này, nữ sĩ đang bận bịu con thơ tại Hà Nội. Vả lại, đường sá xa xôi cách trở, nên không vào thăm chồng được. Không bao lâu thì bà được điện tín báo cho biết chồng bà đã tạ thế và đã đưa đám tang rồi (mùa thu 1920). Sau khi chồng qua đời, bà đem con về nương nhờ cha già. Đoạn tang, vì cảnh cha già con dại và cũng thương cha cứ khuyên con gái mình tuổi còn quá trẻ mới gần đôi mươi mà goá bụa nên đi thêm bước nữa cho đời đỡ trống trải, cô đơn, vất vả. Bà đành lòng phải tái giá (làm vợ bé) với quan Tuần Vũ Phạm Khắc Chánh ở tỉnh Phúc Yên năm bà 25 tuổi (1925). Nhưng sau cũng chẳng rõ bà có thêm con cái với ông Chánh nữa hay không? Năm 1954, bà di cư vào Nam, đi cùng với gia đình người con trai của bà với ông Thái Văn Du vào sinh sống tại thành phố Đà Lạt. Người con trai của bà là giáo sư Thái Văn Châu đã từng làm Giám đốc sở Thủy Lâm Đà Lạt. Bà Tương Phố đã sống gắn bó với Đà Lạt gần 20 năm cùng gia đình con trai và 10 người cháu nội của bà. Nhiều lần bà muốn cùng con trai Thái Văn Châu ra Huế thăm lăng mộ của người chồng cũ Thái Văn Du nhưng vì thời chiến tranh đi lại khó khăn và mất liên lạc bà con, người thân ngày xưa ở quê chồng nên không biết đâu mà tìm. Năm tháng trôi qua, bà buồn rầu chưa tìm được lăng mộ cha cho đứa con trai duy nhất của bà. Bà cứ canh cánh bên lòng một nỗi niềm thương nhớ, day dứt... Nhưng sau khi nước nhà hòa bình thống nhất, GS Thái Văn Châu đã ra Huế tìm thăm được ngôi mộ của cha mình trên đồi sát chùa Từ Hiếu do một người bà con ở Huế giúp đỡ. Về sau này các con của ông Châu có ra Huế và nhờ cô ni sư Diệu Thành dẫn đến thăm lăng ông nội Thái Văn Du. Năm 1972, sau khi nghe tin đứa cháu đích tôn của bà là Thái Kim Đăng đã hy sinh vì Tổ quốc (liệt sĩ), bà vô cùng thương tiếc rồi dần dần lâm bệnh nặng và qua đời tại Đà Lạt vào ngày 14 tháng 10 năm Quý Sửu (tức ngày 8/11/1973). Đỗ Thị Đàm rất yêu thích văn thơ từ thuở nhỏ, cũng do được thụ hưởng ở người cha những áng thơ văn đẹp và buồn trong văn chương trung đại của Trung Quốc và Việt Nam. Và nhất là trong thời gian bà ở Hà Nội đã quen thân làm bạn với một chàng trai từ Huế ra học trường Y rồi trở thành vợ chồng. Chồng của bà - Thái Văn Du - một chàng trai rất yêu văn thơ lại vừa có vốn cựu học và tân học ở kinh đô Huế, và đôi vợ chồng trẻ thường cùng nhau đàm đạo về văn thơ. Và nhất là khi vào học trường nữ Sư phạm Hà Nội (1918 - 1920) có dịp làm phong phú thêm vốn văn chương Đông - Tây, bà rất đam mê việc đọc văn thơ của các tác gia thi văn có tiếng trong và ngoài nước rồi sáng tác thơ văn với nhiều đề tài khác nhau nhưng đều toát lên một nội dung trữ tình sâu lắng tâm hồn man mác, thăm thẳm... Bà vào làng văn thơ Việt Nam từ những năm cuối thập kỷ 20 (1927-1928). Từ đó, bà làm nhiều bài thơ và nhiều áng văn xuôi đậm đà chất thơ đã tuôn chảy dưới ngòi bút của bà. Những tác phẩm chính của bà là: - Giọt lệ thu (được bà viết ở sông Thương năm 1923 và lần đầu tiên được in trên “Nam phong tạp chí” năm 1928). - Trúc Mai (truyện dài bằng thơ), - Một giấc mộng (truyện, 1928), - Mối thương tâm của người bạn gái (văn xuôi, 1928), - Bức thư rơi (văn xuôi, 1929), - Tặng bạn chán đời (thơ 1929), - Tái tiếu sầu ngâm (thơ lục bát, 1930), - Khúc thu hận (thơ song thất lục bát, 1931), - Đời đáng chán (thơ song thất lục bát, 1932),... Trong những tác phẩm văn thơ của Tương Phố, về văn xuôi thì chẳng có tác phẩm nào gây được ấn tượng xúc động sâu sắc như tác phẩm thơ văn giao thoa Giọt lệ thu. Có lẽ do bao nỗi đau buồn dồn dập riêng tư và xã hội đã đè nặng lên vai bà, tâm trí bà lúc đương thời đã tạo nên tâm điểm sáng tác của bà một cách sâu sắc, hiện thực. Một điều đặc biệt là sau khi bài Giọt lệ thu ra đời trên báo Nam Phong (số 131 tháng 7 năm 1928) đã làm cho nhiều người trong xã hội nước ta lúc bấy giờ vô cùng xúc động và ngưỡng mộ tài năng văn thơ của bà đã tạo nên được những nỗi niềm rung động trái tim thân thiết với bao người. Cho đến ngày nay, có nhiều cụ già xứ Huế tuổi gần 90 mà vẫn còn thuộc lòng nhiều đoạn thơ của bà Tương Phố. Chẳng hạn như bài Khóc chồng: Ngoảnh lại trời Nam lệ chứa chan, Lửa hương thôi đã lỗi muôn vàn./ Thương chàng vỡ lỡ đường danh vọng,/ Tủi thiếp bơ vơ lỗi đoạn tràng./ Chiếc bách dòng sâu e sóng cả./ Nửa chăn bụi lấp lửa canh tàn./ ừ đây non nước người xa vắng,/ Chi xiết lòng em nỗi dở dang... Có thể nói rằng bài Giọt lệ thu là bài nổi tiếng nhất của Tương Phố vì nó rất hay trên nhiều mặt mà rất nhiều người khác nhau về lứa tuổi và học vấn đều cảm nhận được một cách thấm thía trong tâm hồn. Nó có một cái gì đó vừa chân thực, vừa huyền ảo; vừa gần gũi lại vừa xa xôi; vừa tủi thân lại vừa thương nhớ. Bao giờ quên được mối tình xưa,/ Sinh tử còn đâu mãi tới giờ!/ Giấc mộng tìm nhau, tìm chẳng thấy/ Mênh mang biển hận, hận không bờ!... Có đoạn bà tự sự phận mình một cách đau buồn, tủi phận: “Duyên chẳng hẹn trăm năm, tình còn ghi muôn kiếp. Anh chàng Thái Văn Du mất ở Huế ngày 25 thánh 7 năm Canh Thân (1920). Đôi lứa trẻ trung, kẻ Nam người Bắc. Khi sống đã xa nhau, lúc mất không gặp mặt. Lòng em thương xót bao giờ cho nguôi!...” Trời thu ảm đạm muôn màu,/ Gió thu hiu hắt thêm rầu lòng em./ Trăng thu bóng ngả bên thềm/ Tình thu ai để duyên em bẽ bàng... (Bốn câu thơ này sau khi Tương Phố qua đời đã được ghi lên bia lăng mộ của bà tại đồi Tương Sơn, Đà Lạt). Chúng ta thấy rằng, tác phẩm này tác giả không chỉ thể hiện bằng thơ mà cả văn xuôi xen lẫn giao thoa với nhau rất ăn ý và tạo thành một dòng chảy tình cảm đậm đà sâu lắng, thiết tha tình người. “Anh ơi! thu về như gợi mối thương tâm. Mỗi độ thu sang, em lại vò lòng than khóc. Nghĩ năm có một lần thu, nhưng thu năm nay đi, năm sau còn trở lại. Hỏi ba sinh hương lửa, thời ái ân kia dễ mấy kiếp hẹn hò nhau? Chẳng hay cơ trời dâu bể vì đâu, xui nên chăn gối vừa êm, lửa hương mới bén, sắc cầm dìu dặt ngón đàn, bỗng ai xô lộn tình tan, gương vỡ cho người lỡ duyên! Than ôi! Hình dung đôi ngả, gió mây hồi ấy, anh đi mãi năm tháng thường về, người không dấu vết. Em muốn tìm anh tìm chẳng thấy! Hôm sớm bâng khuâng buồn lại nhớ. Thương nhau gầy gò khóc vì nhau. Anh vui non nước bấy lâu, bụi hồng khuất nẻo dứt đường cá chim. Trông bốn phía trời mây vơ vẩn, em còn biết đâu là lối phía bay mà tìm? Chốn phòng loan từ thuở vắng anh, lệch làn chăn gối đượm sầu. Gương xưa chiếu cũ nghiêng xiêu. Thu Đông đến chẳng cùng em ái ân nữa. Giấc cô miên trằn trọc một canh dài. Mắt muốn nhắm đi lòng nào có ngủ. Đường kia nỗi nọ, trăm năm tâm sự, khôn đem hồn mộng gửi chiêm bao! Ngày tới đêm lui, hôm mai lần nữa, những ngậm ngùi than xót cho thân”. Những dòng tâm sự của bà cứ liên tục tuôn trào ra từ những mạch ngầm thương yêu, tình nghĩa rồi cứ suy nghĩ liên miên chuyện thiên nhiên trời đất có hiểu cho chăng tâm trạng của mình trong những ngày tháng cô đơn, lạnh lẽo, tê tái lòng sầu... “Than ôi! lênh đênh sóng nước một con thuyền. Phong ba cuộc thế mấy phen dập vùi. Nghĩ cánh buồm bạt gió, bể hận không bờ. Con chèo tuyệt vọng khôn giò bến, em nay còn biết buông theo ngả nào? Trên cầu đoạn trường bể khóc như nắm vỏ gầy thảm thiết thương anh. Trăm mối tơ lòng không tung mà rối. Xuân qua hạ lại, cảm tình đã chẳng khác chi Đông. Thu sang tâm sự lại dạt dào, thương tâm gió buổi mây chiều, lòng em lai láng biết bao sầu tình... Anh ơi! phòng Thu vò võ một mình, mỗi khi nhớ anh em lại ngừng tay kim chỉ, muốn bước chân hiên xa trông non nước mà hồi tưởng đường xưa lối trước đi về có nhau thì muôn ngàn tâm sự lúc bấy giờ lại như xô lùi em về canh đời dĩ vãng, mà rồi ngọn trào trong dạ cũng mênh mông cồn sóng lệ. Em nhiều khi nghĩ thương nước mắt, muốn thôi đi không khóc nữa nhưng hai hàng châu lệ vẫn cứ chan hoà như mưa. Nước non ngao ngán tình xưa, gối chăn ngấm lệ lòng sầu đến nay...” Có những đoạn bà tâm sự nỗi lòng mình như đang thầm nói bên bàn thờ chồng thật cảm động và khi đọc lên cũng như những dòng thơ cuộn vào dòng chảy tâm tư của người góa bụa trẻ trung: “Anh ơi! non nước còn đó mà anh vội đi đâu? Ngày Xuân sao chẳng ở cùng nhau? Duyên thắm nỡ nào chia rẽ lứa. Ngoài nội uyên kia cùng chắp cánh, trên nương én nọ chẳng lìa đôi. Trong mây kết bạn liệng ngang trời. Nghĩ chim ríu rít, tủi người lẻ loi. Ôi chim có đôi, người sao lẻ bạn. Chăn đơn gối chiếc em biết cùng ai than thở chuyện trăm năm? Đời em phận mộc cánh chuồn, tóc tơ ngắn ngủi cùng anh không có phúc nối duyên lâu dài. Nhưng gieo chanh, rắc ớt chua cay lòng trẻ, để rày chếch mác dở dang... Cũng bởi tại khuôn xanh kia đã quá say lừa lọc. Trời ơi! ba sinh hương lửa đã có duyên kiếp ái ân bạn đời. Ví dầu chẳng để trăm năm nữa, cũng cho xuân thu đắp đổi độ vài mươi năm cho cam tấm lòng trẻ thì khăn túi. Nỡ nào chắt chiu em mới một xuân quân đã đem sinh ly tử biệt chia phôi bước đường. Con còn trong cữ chưa ra rốn, rộ qua bể cạn chưa hoàn hồn, anh đã vội vàng dứt áo ra đi. Ôi! ra đi nào phải đi gần, dặm đường Âu Mỹ ngàn trùng nước non. Buổi tiễn đưa, nhìn anh rồi lại nhìn con. Chén quan hà những uống lệ mà cay!... Gió mưa chim chẳng lìa đôi,/ Giữa đường ân ái nào người lẻ duyên./ Lai sinh nguyện chuyển cánh uyên,/ Cao bay chẳng để khôn thiêng lọc lừa. Anh ơi! một năm qua mấy thời xuân, bốn mùa trăng để mấy rằm trong thu? Trăng đẹp khi tròn, hoa thơm khi úa. Đời xuân xanh ai trẻ mãi ru mà! người yêu hoa đem lòng luyến ái khách. Say trăng chén rượu vui mời, nhưng thêm 3 vạn 6 nghìn ngày, sinh thư cõi trần ai không hơn gì mộng cảnh. Cho nên thương hoa xuân ta cảm trắng thu tàn. Đã mang tấc dạ yên say, khách chung tình không nỡ để vì mình mà trăng sầu hoa tủi. Em nay vì anh mà đến nỗi nửa chừng xuân. Tơ liễu còn xanh mà nửa lần tâm sự, đã sang thu rồi... Than ôi! anh đi chẳng lại, đã đành rằng duyên kia dang dở. Những ngày xanh quãng vắng em đợi chờ ai? Ngày xanh luyến tiếc xuân dài,/ Oanh đưa liễu đón duyên ai đi về./ Xuân vui đôi lứa đề huề,/ Sầu xuân say tỉnh tê mê một thời./ Xuân xanh duyên đã phai rồi,/ Đời xuân thôi cũng là đời bỏ đi... Anh ơi! hờn xuân em lại hận trời. Trời đa đoan phũ phàng con trẻ. Nơi dở dang này em biết than thở với ai đây? Theo duyên những ước duyên may, em có ngờ đâu giữa đường đứt gánh chung tình. Anh đi để lại cho em những ngày mưa sầu gió thảm! Con anh măng sữa, em còn thơ ngây. Cuộc đời trăm đắng ngàn cay. Trông vào ai, cậy vào ai? Thấy gian nan chân chồn bước ngại. Tới lui đã dở, nắng mưa dễ biết lánh vào đâu? Đường mây vỗ cánh, chiều bóng mát cây cao. Chim kia còn hơn em có tổ, hôm mai đi về. Buông con mắt trông bốn phía trời, em chỉ biết ngậm ngùi rưng rưng nước mắt mà không biết đâu là nơi hy vọng được tháng ngày ấm no. Năm theo anh, em mười bảy thơ ngây, đào tơ sen gió, ái ân thuở đó, đem ngày xanh hẹn tuổi bạc đầu”. Thực ra trong lòng bà Tương Phố, tuy thời gian xa cách chồng và chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi nhưng bà vẫn có niềm tin và hy vọng đến ngày vợ chồng hội ngộ vinh quang. Bà Tương Phố như muốn phân trần với chồng là người vợ hiền bao giờ cũng luôn luôn nghĩ tới chồng và muốn cho chồng mình được công thành danh toại. Vì vậy nên gian nan khổ cực mấy cũng gắng chịu đựng: “Em những chắc cùng nhau đôi lứa thiếu niên. Bắc Nam dù cách trở, hương lửa vẫn nồng nàn thì nay dầu xa xôi, mai rồi lại gặp gỡ, và nước non còn đó, đâu hết cơ duyên. Nên chi con thơ măng sữa em chăm chút, chẳng phiền cha mẹ, chẳng phiền anh, rắp mong để yên lòng khoa danh gặp hội, anh đua bước. Một mai nam nhi toại chí. Dưới bóng tùng quân, em cũng được nở nang mày mặt”. Rồi bà không ngờ niềm tin và hy vọng của bà đã tiêu tan hết khi nghe tin người chồng thân yêu của mình không còn nữa. Bà quay cuồng than khóc đau đớn, thương tiếc cho số phận của chồng và của mình rồi oán trách sự đời quá bạc bẽo: “Than ôi! những cậy mình tuổi trẻ khinh li biệt. Em nào có học đến chữ “ngờ” mà biết trước sinh ly tử biệt đoạn trường dồn nhau. Sự duyên càng nói càng đau.... Nhưng cũng tưởng đầu xanh tuổi trẻ ái ân còn dài thì rồi đây sum họp âu sẽ có ngày cùng nhau hàn huyên kể lại mối sầu chia phôi. Nào hay đâu ông tạo hoá cơ cầu, xui nên vật đổi sao dời trong phút chốc. Đương đau đớn xa nhau, bỗng lại khóc mất nhau!... Ôi, tin đâu xé ruột, xé lòng!... Mảnh giấy xanh đưa đến tận nơi: Ngày hai mươi nhăm tháng bảy năm Canh Thân (1920) là ngày anh tạ đất tạ trời, cướp công cha mẹ, dứt tình vợ con, lìa rẽ anh em, chia đường kim cổ. Một gánh nợ đời trút cả cho người còn lại! Chao ôi! lưng trời sét đánh, em thật đã chết cả đời người. Thôi thế thì thôi! một dải khăn ngang, năm thân gấu xổ, trăm năm tâm sự còn nói năng gì! Con anh nào biết mặt cha, thân côi cút trái đào 3 tuổi, từ nay em dạy, em nuôi. Khoảng trời đất không mong gì thấy bố! Nghĩ mà thương xót cho con... nhà không nóc, mưa gió mai ngày, cuộc đời xoay xở biết toan sao? Đoạn trường em lại biết bao nhiêu giăng mắc. Con còn trẻ thơ, lo ăn, lo mặc, lo học, lo hành... Khi con khôn lớn lại phải lo sao cho thành danh phận để chen vai nối gót với đời. Nghĩ như thân em sức vóc liễu bồ, cánh vây không có, hai bàn tay trắng, đức tài cũng không, một mình mẹ goá nuôi con, em biết lo liệu sao cho tròn phận ấy?”. Trong niềm xót xa, tuyệt vọng đó, bà vẫn có lúc liên hệ so sánh chuyện tình trong trời đất như để than vãn với linh hồn của người chồng quá cố với những lời đầy chân thành tình nghĩa nặng sâu: “Anh ơi! anh mất đi để lại cho em bao nhiêu nỗi dở dang ở đời. Dầu em có nghĩ liều: mặc đời cua máy, cáy đào, nỗi dở dang âu đành chẳng bận. Nhưng tình nhớ thương khuây khoả sao đây! Ra về vắng vẻ, tháng ngày khăn áo cũ còn hình dung bóng dáng anh. Khoảng trời đất non buồn, nước lạnh. Người đi biền biệt, kiếp này còn gặp nhau đâu nữa mà mong! Trên mây kia là Ngưu Chức chia phôi cũng đoạn trường, những khóc nhau rồi lại có ngày thấy nhau. Em khóc anh mấy thu nay lệ đã đắm lòng, người đành không lại, mộng sao chẳng về?... Nghĩ đau duyên ấy lại hờn với Ngâu! Thu về đẹp lứa duyên Ngâu,/ Trăm năm Ô Thước bắc cầu Ngân giang./ Đôi ta ân ái lỡ làng,/ Giữa đường sinh tử, đoạn tràng chia hai./ Anh vui non nước tuyền đài,/ Cõi trần hương lửa riêng ai lạnh lùng./ Nhân gian khuất nẻo non bồng,/ Trăm năm nào thiếp tấm lòng bơ vơ...” Tuy tâm trạng của bà trong thời đoạn này rất buồn bã, hoang mang không biết lo liệu cuộc đời ra sao, nhưng bà không gục ngã trước hoàn cảnh và số phận của mình. Bà cố bình tâm nhìn cảnh vật thiên nhiên để khuây khỏa nỗi lòng nhớ thương và tự an ủi cho mình mà gắng sức để sống nuôi con khôn lớn trưởng thành nhằm giữ lại một kỷ niệm thương yêu duy nhất huyết nhục của người chồng quá cố. “Anh ơi! chung cảnh thu này, Đông Tây Nam Bắc biết bao người cảm thu. Nhưng lòng ai thu hẳn như em! mà mây chiều vấn dạ, gió mai lạnh lùng. Như em, mỗi khi hạt sương giao là lệ thẳm, một lần lá rụng là một mảnh tình sầu. Thu càng thảm, sầu càng tăng. Anh ơi! em nghĩ đến về với anh mùa thu. Mất anh cũng lại mùa thu. Cho nên năm lại năm, cứ độ thu sang thì em lại bồi hồi nhớ trước, tưởng xưa mà lòng thu một tấm cũng ngây ngất sầu! Anh ơi, giọt lệ khóc thu, em chỉ vì anh mà năm năm lai láng... Than ôi, thu sang thu não lòng người biết bao! Sầu thu nặng, lệ thu đầy,/ Vi lau san sát, hơi may lạnh lùng./ Ngổn ngang trăm mối bên lòng,/ Ai đem thu cảnh hoạ cùng thu tâm” Chúng ta có thể nói rằng, bài Giọt lệ thu của nữ sĩ Tương Phố đã nổi tiếng vang xa và thấm sâu lâu dài trong lòng bạn đọc của nhiều thế hệ, nhiều tầng lớp của xã hội. Như vậy thật là đáng quý đáng trân trọng! Giọt lệ thu của Tương phố là lối văn thơ giao thoa uyển chuyển thật độc đáo, mới mẻ. Mặc dầu nó không nổi bật về ý nghĩa lịch sử và văn hóa lắm nhưng nó có một giá trị về xã hội nhân văn rất cao. Đó là được nhiều người trong xã hội lúc bấy giờ đã tìm thấy sự đồng cảm của tâm hồn và tình nghĩa con người. Xin trích một đoạn trong cuốn “Từ điển Văn học” (T2 Nxb, KHXH, 1984, tr.491) về nhận xét đánh giá chung văn thơ của Tương Phố mà tiêu biểu là Giọt lệ thu như sau: “Tương Phố đã góp vào bộ phận văn chương hợp pháp 30 năm đầu thế kỷ XX một tiếng khóc ảo não. Ít nhiều bà có làm sống lại tâm trạng người chinh phụ trong văn học quá khứ. Bà cũng tiếp nhận âm hưởng tiếng khóc của bao nhiêu văn nhân thi sĩ qua nhiều bài văn tế, văn điếu, bài vãn của nhiều đời. Nhưng nỗi đau xót bất hạnh của bà có nhiều sầu thảm, vô vọng hơn, cũng nhuốm màu sắc hiện đại hơn, vì trong đó không chỉ có nỗi đau riêng mà còn gói cả “Trời sầu” của thế hệ thanh niên tiểu tư sản thành thị Việt Nam trong những năm sau Đại chiến I...”. Như vậy, vai trò của nữ sĩ Tương Phố trong văn chương dân tộc chủ yếu gắn với tác phẩm Giọt lệ thu - một trong những dấu ấn khó phai mờ trong lịch sử văn chương ở thập niên thứ ba của thế kỷ 20 như là tiếng than kêu xót xa, da diết của con người hòa trong không khí buồn đau chung của thời đại. Khi đọc những đoạn văn tâm tình than vãn của bà xen lẫn trong Giọt lệ thu cũng chứa đầy âm điệu hồn thơ. Chính vì thế mà nó có khởi sắc một lối thi pháp khá mới mẻ cho việc phát triển phong trào thơ mới sau này “Một thời đại mới trong thi ca” dân tộc - thời đại của thơ mới lãng mạn với sự xuất hiện những gương mặt các thi nhân tiếng tăm như Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Cù Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ v.v. Phủ Cam, Huế tháng 5 năm 2010 N.H.T (262/12-10) |
Tải mã QRCode
HOÀNG THỤY ANH
Mùa hè treo rũ
Trong cái hộp hai mươi mét vuông
Ngổn ngang màu
Ký tự chen chúc như bầy ngỗng mùa đông
Ngày lên dây hết cỡ
Chật
Dâng đầy lên ngực
Chuông nhà thờ chặt khúc thời gian
NGUYỄN TRỌNG TẠO
Lâu nay, đọc thơ của trẻ em, tôi thường có cảm giác, hình như các em làm thơ dưới ngọn roi giáo huấn mà người lớn thường giơ lên đe nẹt trẻ con. Cho nên khi cầm trong tay tập thơ Cái chuông vú của bé Hoàng Dạ Thi “làm” từ 3 đến 5 tuổi, tôi không khỏi ngạc nhiên.
NGHIÊM LƯƠNG THÀNH
Đọc xong Những đứa con rải rác trên đường, cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn Hồ Anh Thái (Nxb. Trẻ 2014), thoạt đầu tôi có cảm giác trống vắng.
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Anh Cao Việt Dũng hỏi: anh có biết Lưu Quang Vũ không? Anh nghĩ gì về thơ Lưu Quang Vũ?
CHÂU THU HÀ
Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng văn hóa của dân tộc Việt Nam. Tinh hoa và cốt cách của Người là nguồn cảm hứng vô tận cho văn nghệ sĩ, nhà báo.
DÃ LAN - NGUYỄN ĐỨC DỤ
Cách đây mấy năm, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội có cho phát hành cuốn TỪ ĐIỂN VĂN HỌC (1983 - 1984). Sách gồm hai tập: tập I và tập II đầy cả ngàn trang, với sự cộng tác của nhiều tác giả.
MAI VĂN HOAN
"Dư âm của biển" - theo tôi là cách gọi hợp nhất cho tập thơ mới này của Hải Bằng. Đặt "Trăng đợi trước thềm" chắc tác giả gửi gắm một điều gì đó mà tôi chưa hiểu được. Song với tôi "Trăng đợi trước thềm" có vẻ mơ mộng quá, tên gọi ấy chưa thể hiện được giai điệu cuộc đời của thơ anh.
PHẠM PHÚ PHONG
Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984), hiệu là Lộc Đình, người làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, thị xã Sơn Tây, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc thủ đô Hà Nội, là nhà văn, nhà nghiên cứu, biên soạn, khảo cứu, về nhiều lĩnh vực như văn học, triết học, sử học, ngôn ngữ học, đạo đức học, chính trị học, kinh tế học, giáo dục học, gương danh nhân…
Chuyện gì xảy ra trong ngày 30/4/1975 tại Sài Gòn? Nhiều người đã viết về sự kiện này. Một lần nữa, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái - nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn đã lên tiếng, cùng với sự trợ giúp của vợ và hai con - Nguyễn Hữu Thiên Nga và Nguyễn Hữu Thái Hòa.
Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật cho ra mắt bạn đọc một số đầu sách về sự kiện lịch sử này, về lịch sử kháng chiến Nam Bộ và về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của toàn dân Việt Nam.
LÊ HUỲNH LÂM
Không khỏi bất ngờ khi cầm trên tay tập “Hôm qua hôm nay & hôm sau” của Vũ Trọng Quang do Nxb Đà Nẵng ấn hành vào tháng 1 năm 2006. Vậy là đã 9 năm.
PHẠM XUÂN DŨNG
Tôi và nhiều bạn bè sinh viên còn nhớ nguyên vẹn cảm giác lần đầu nghe bài thơ “Đêm qua” của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đêm cư xá Huế lạnh và buồn đến nao lòng tê tái.
Ý NHI
1.
Một buổi chiều, khoảng cuối năm 1989, chúng tôi có cuộc gặp gỡ tại nhà Trần Thị Khánh Hội, trong một con hẻm rộng, quận Phú Nhuận.
TRẦN HOÀI ANH
(Kỷ niệm 49 năm ngày mất cố Thi sĩ Nguyễn Bính 1966 - 2015)
DƯƠNG PHƯỚC THU
Kể từ lúc thị xã Huế được nâng lên cấp thành phố, cho đến khi người Nhật làm cuộc đảo chính hất chân người Pháp khỏi đông Dương vào ngày 9/3/1945 thì Huế vẫn là thành phố cấp 3, nhưng là thành phố của trung tâm chính trị, văn hóa, nơi đóng kinh đô cuối cùng của nhà nước quân chủ Việt Nam.
HỒ VĨNH
Thi hữu Quốc Hoa Nguyễn Cửu Phương là một thành viên trong hội thơ Hương Bình thi xã do Ưng Bình Thúc Giạ Thị làm hội chủ. Năm 1933 thi đàn đặt tên là Vỹ Hương thi xã, qua năm 1950 các thi hữu bắt đầu đổi tên Vỹ Hương thi xã thành Hương Bình thi xã.
Mùa xuân chiếm một ví trí quan trọng trong thơ Nguyễn Trãi. Xuân hiện lên bằng nhiều vẻ dáng khác nhau, được khắc họa bằng nhiều cung bậc khác nhau. Mỗi một bài thơ xuân như là một trang nhật kí và cảm xúc của cuộc đời thi nhân.
Đọc sách Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý (ảnh, NXB Khoa học xã hội, Sách Khai tâm, quý 1/2015) của Hoàng Xuân Hãn là cách để “gặp lại” danh tướng Lý Thường Kiệt.
CAO HUY THUẦN
Từ trong mênh mông, một sợi mưa rơi vào lá sen. Nước vốn không có hình. Nằm trong lá, nước tròn như một viên ngọc, tròn như một hạt lệ, tròn như một thủy chung. Gió thoảng qua, lá sen lay động, nước rơi không để lại một dấu vết, rơi như chưa bao giờ có, rơi như một hững hờ.
NGUYÊN QUÂN
Những lúc bứt thoát được những hệ lụy cuộc sống, tôi chỉ thích được lang thang lên mạng, mong bắt gặp một câu thơ, một dòng văn nào đó gần gũi với tâm trạng để ru dỗ mình bằng những phút giây đồng điệu.