Nỗi buồn nhân thế của Trương Đăng Dung

15:12 26/08/2011
NGUYỄN TRỌNG ĐỨC (Cảm nhận về tập thơ "Những kỷ niệm tưởng tượng")SHO - Lâu nay, người ta biết đến Trương Đăng Dung với tư cách là một nhà nghiên cứu lí luận văn học. Nhưng gần đây, sự xuất hiện của tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng làm xôn xao văn đàn Việt Nam đã khiến đông đảo bạn đọc không khỏi ngạc nhiên khi nhận ra rằng: bên cạnh một Trương Đăng Dung lí luận còn có một Trương Đăng Dung thơ.

Nhà thơ Trương Đăng Dung

Có thể nói rằng ở Trương Đăng Dung, lí luận và thơ là hai thái cực khác nhau nhưng lại có sự xuyên thấm hài hòa; những công trình lí luận của ông không cứng nhắc trên lí thuyết, mà đã có sự tác động tích cực vào đời sống văn học nước nhà; còn với thơ, dù mới chỉ trình làng tập thơ đầu tay, nhưng Trương Đăng Dung đã chứng tỏ được tài năng của một cây bút có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư tưởng và cảm xúc, giữa chất trí tuệ và độ mặn mà của tâm tư tình cảm. Đó là chưa kể đến một lối diễn đạt mới lạ mang đậm dấu hiệu của Chủ nghĩa Hậu hiện đại.

Những kỷ niệm tưởng tượnglà một tập thơ hiện thực - sản phẩm của một tâm hồn lãng mạn, là nỗi lòng thất vọng về hiện thực đang diễn ra, và niềm khát vọng về một hiện thực bình yên, hạnh phúc trong tưởng tượng. Những ai không trải nghiệm đắng cay, gian khổ trong đời, những ai dửng dung với cuộc đời và tình người thì không dễ cảm được những điều tác giả gửi gắm trong tập thơ này.

Đến với Những kỷ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung, chúng tôi nhận ra trong cái dòng chảy trầm buồn của thơ ông một chiều sâu tư tưởng. Bao trùm lên tập thơ này là một nỗi buồn nhân thế. Nỗi buồn ấy được thể hiện ở nhiều trạng thái khác nhau. Có khi đó là sự hoài niệm về quá khứ, về hình ảnh dòng sông và dòng đời thủa thiếu thời, khi người với người sống với nhau đầy ắp nghĩa tình:
Anh trở về với bến sông xưa,
Em không nhớ thời gian nước chảy
Anh không biết những ngày thơ bé ấy
Những giọt nước qua má, qua môi
Rơi xuống bàn tay ấm nóng hơi người.
                                 (Có thể)

Và hình ảnh người mẹ với đức hy sinh cao cả cũng làm cho Trương Đăng Dung cháy lòng:
Có một thời
Đến bữa cơm mẹ ngồi đợi vét nồi
Răng mẹ rụng lúc nào không biết nữa.
                               (Có một thời)

Quá khứ thật nhiều gian khổ, nhưng Trương Đăng Dung không buồn vì sự gian khổ ấy, ông chỉ buồn vì sự đổi thay của xã hội và tình đời đã làm cho cuộc sống trở nên nhạt nhẽo, những giá trị tinh thần, những dấu tích văn hóa truyền thống đã trở nên phai nhạt:
Hơn nửa thế kỷ đi lại trên mặt đất này
Tôi không còn nhiều bạn
Cây gạo đầu làng cũng bị chặt mất rồi
Tôi không còn kí ức
Những giọt máu cuối trời tuổi thơ...
                   (Ghi chép hè 2009)

Điều đáng nói là lúc hoài niệm về quá khứ lại là lúc mà tác giả thiết tha với cuộc đời hơn. Ông viết:
Anh không thấy thời gian trôi
Chỉ thấy lòng ngày một tha thiết với trời xanh
                 (Anh không thấy thời gian trôi)

Nỗi buồn nhân thế của Trương Đăng Dung có khi lại thể hiện ở những khắc khoải về kiếp người ngắn ngủi. Trạng thái này được lặp lại nhiều lần như một nỗi ám ảnh của tác giả. Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy thật đúng đắn khi bàn về vấn đề thời gian trong tập thơ này; đó không phải là thời gian bên ngoài như nỗi ám ảnh của các nhà Thơ mới, mà trong tập thơ này, tác giả quan niệm thời gian ở trong máu, trong khóe mắt, làn môi, trong dáng đi,... Thời gian chính là con người. Tác giả tập thơ dường như cảm nhận được bước đi rất nhanh của thời gian trong cơ thể mình. Bởi vậy mà ông luôn khắc khoải, lo sợ.
Anh không thấy thời gian trôi
Thời gian ở trong máu, không lời
Ẩn mình trong khóe mắt, làn môi
Trong dáng em đi nghiêng nghiêng như đang
viết lên mặt đất thành lời
về kiếp người ngắn ngủi.
           (Anh không thấy thời gian trôi)

Ý thức được bước đi của thời gian và sự ngắn ngủi của kiếp người, Trương Đăng Dung càng day dứt bởi những việc ấp ủ, những khát vọng còn chưa kịp thành hiện thực:
Sợi tóc rụng bàn tay nào giữ được
Mỗi ban mai khắc khoải việc chưa thành.
            (Anh không thấy thời gian trôi)

Những khắc khoải, lo sợ về kiếp người ngắn ngủi càng cho thấy tấm lòng hết mực yêu đời và tư tưởng lớn, khát vọng lớn của Trương Đăng Dung.

Đọc Những kỷ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung, chúng tôi thấy một trạng thái tư tưởng, cảm xúc được thể hiện tập trung và xuyên suốt tập thơ, đó là nỗi buồn, sự thất vọng trước hiện thực đời sống con người và xã hội. Khi hoàn niệm về quá khứ, Trương Đăng Dung tiếc nuối đến cháy lòng, lúc trở về hiện tại, ông đau đớn vô cùng bởi đâu đâu trên thế gian này cũng thấy chiến tranh, chết chóc, đói khổ, sự bon chen, chia lìa, đơn chiếc, lạnh lùng, đỗ vỡ; đâu đâu cũng đầy những trái ngang, phi lí,...

Trên dòng đời hối hả mấy ai dừng lại để thổn thức trước nỗi đau của đồng loại trên khắp thế gian này như tác giả của Những kỷ niệm tưởng tượng. Ông nhìn đâu cũng thấy đau thương. Đơn giản nhất là nỗi đau vì những toan tính mưu sinh, những gian nan vất vả của kiếp người:
Còn đây gương mặt của con người
Nhàu nát mưu sinh và hy vọng. 
           (Ba mươi năm hay ba triệu năm rồi)

Kế đến là nỗi đau sự đói khổ, túng thiếu:
Ngày ta sinh là ngày đầu tiên ta nằm bệnh viện
Các bác sĩ hân hoan khi có trẻ ra đời
Họ lấy nhau của mẹ ta làm đồ nhắm rượu.
Các nữ y tá nhìn ta
Kinh nguyệt chảy màu máu còn tươi rói
Không có bông, họ lấy tà áo choàng lau vội.
                     (Những kỷ niệm tưởng tượng)

Và nỗi đau của những cảnh ngộ:
Anh đã thấy những người dị dạng
Dang tay đòi hái mặt trời
Những bóng ma thọt chân, lang thang
Đòi trở về quê cũ,...
                       (Chân trời)

Cuộc đời vốn đã lắm gian nan, cớ sao con người lại chuốc thêm nhiều đau khổ, gây nên cảnh loạn lạc, và chiến tranh đãm máu. Đây là hậu quả của chiến tranh mà Trương Đăng Dung đã tái hiện một cách đau đớn và khủng khiếp đến ghê người:
.....và những chuyến tàu chở đầy ắp vũ khí
Trên nóc toa là trẻ nhỏ người già.
Cùng nhau thấy những đám tang không có hòm
chân người chết thò ra khỏi chiếu
cùng nhau thấy những người mẹ bị thương ruột lòi ra
vẫn ôm con nhảy xuống hầm, tranh nhau chỗ ngồi với rắn,                                 
và những cánh tay trẻ thơ bom hất lên cành cây vắt vẻo,...
                                   (Những kỷ niệm tưởng tượng)

Thánh đường Hồi giáo lẽ ra là nơi ban phát đức tin và tình yêu thương che chở của chúa, nhưng Trương Đăng Dung lại nhìn thấy:
Bom nổ ở một thánh đường Hồi giáo
Máu người nhuộm đỏ sách Kinh.
                      (Ghi chép hè 2009)

Trong bài Giấc mơ của Kafka, tác giả lại một lần nữa nhấn mạnh sự phi lí của xã hội loài người trong bối cảnh hậu hiện đại:
Ở New York chiều chiều
Những con voi nhảy từ tầng mười một xuống sông
cứu những con chim sẻ.

Ở Paris trước cửa Viện bảo tàng
Người nằm ngáp
Trâu xếp hàng mua cỏ.

Ở Moskva những thiếu phụ da vàng
Chơi với hổ
Trên quãng trường ngập nước

Ở Tokyo nữ phát thanh viên truyền hình
Không có miệng
Huơ tay chào khán giả...

Chính những nơi được xem là văn minh nhất của thế giới lại là nơi ngập tràn những điều phi lí, trái ngang. Loài người đang đi đâu, về đâu? Hướng đến sự văn minh, hay đang đi ngược lại quy luật sinh tồn và phát triển. Trương Đăng Dung đau buồn trước hiện thực nhân loại "càng bước càng lún sâu vào đất".

Hiện thực cuộc sống vốn nghiệt ngã, lạnh lùng, lẽ ra con người phải xích lại gần nhau. Vậy mà vẫn còn đó cảnh khi cánh cửa nhà này mở ra/ cánh cửa nhà kia khép lại (Những người đàn bà), người với người đi theo hàng dọc, nên chẳng bao giờ họ gặp được nhau. Viết những dòng thơ như thế, Trương Đăng Dung dường như muốn gửi đến người đọc chúng ta một thông điệp giàu ý nghĩa nhân sinh: đời vô cảm thì con người cần phải hữu cảm, có như thế cuộc sống này mới bớt thương đau.

Hiện thực xã hội đang đỗ vỡ từng ngày đã nằm ngoài sức tưởng tượng của Trương Đăng Dung, khiến ông không chỉ buồn, không chỉ đau mà còn ngơ ngác không hiểu nổi. Trong bài thơ Chúa đã ra đi ông viết:
Ta lớn lên ngơ ngác cõi người
Tình thương, thù hận, buồn, vui
Hun hút đường xa cát bụi
Người đi không biết về đâu

Điều kì lạ vẫn là thế giới
Tôi lặng nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ
Chúa đã ra đi
Chúa không thể nào ngờ.

Trong một xã hội đầy nghịch lí như thế, hạnh phúc là điều rất mỏng manh và cũng không dễ gì có được. Trương Đăng Dung đã thể hiện điều này qua kết cấu đầy thú vị của bài thơ Ảo ảnh. Mở đầu bài thơ tác giả đã giới thiệu về một hiện thực đầy nghịch lí:
Bao năm rồi anh tìm em
Trong những bình minh không có mặt trời
Trong những lâu đài chỉ có cánh dơi
Trong những giấc mơ không đầu không cuối.

Khổ thơ tiếp theo được mở đầu bằng một mệnh đề nghi vấn: Anh hỏi dòng sông về hạnh phúc trên đời. Đến cuối khổ thơ, câu trả lời có được là hai từ Nước mắt. Vậy là, theo Trương Đăng Dung, cuộc đời trong xã hội này đồng nghĩa với nước mắt, khổ đau, còn hạnh phúc chỉ là ảo ảnh.

Cũng trong bài thơ này, tác giả mở đầu bằng hình ảnh bình minh không có mặt trời, đến cuối bài thơ tác giả lại kết thúc bằng hình ảnh ánh nắng nhạt nhòa thấp thoáng bên khung của. Cái kết cấu khép kín này đã mở ra cho người đọc nhiều suy nghĩ về một xã hội không có gì chắc chắn, không có gì rõ ràng, không có gì bất tử. Tất cả chỉ nhạt nhòa tựa như ảo ảnh.

Buồn đau, không hài lòng với thực tại xã hội loài người, nhưng Trương Đăng Dung không có cảm giác bi lụy khi đối diện với hiện thực ấy. Là một người lạc quan, yêu đời, ông luôn ấp ủ niềm khát vọng về một thế giới bình yên. Khi cuộc sống này có quá nhiều Những bức tường, khi xã hội này đầy nắng, mưa và gió,... Trương Đăng Dung vẫn âm thầm hy vọng về một thế thái nhân tình ấm áp nghĩa tình. Ông dặn con và cũng là để nhắc nhở chúng ta:
Bố chỉ mong trái tim con đừng bao giờ lạc lõng
Trước mọi vui buồn bất hạnh của thời con
                                    (Viết cho con).

Có thể nói rằng, mỗi câu, mỗi chữ của Trương Đăng Dung đều ẩn chứa một nét buồn, và cả tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng của ông là một khối buồn về thế thái nhân tình. Nỗi buồn của Trương Đăng Dung có cội nguồn từ một ý thức trách nhiệm cao đối với cuộc đời, con người. Nỗi buồn ấy cũng cho thấy những khát khao muốn cải tạo, muốn thay đổi để mai này cuộc đời sẽ tốt đẹp hơn. Nếu nói mỗi nhà thơ là một nhà tư tưởng, thì điều đó quả rất đúng với Trương Đăng Dung. Với tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng ông đã chứng tỏ được tầm cao tư tưởng của mình.

Nói về nghệ thuật biểu đạt trong tập thơ, chúng tôi thấy Trương Đăng Dung có một lối diễn đạt rất giản dị nhưng cũng rất mới mẻ. Lời thơ của ông thiên về kể, nhưng ông không kể tràn lan, ông chỉ điểm nhãn một số hiện tượng nổi bật mà ông đã trải nghiệm và chứng kiến trong đời nhưng không làm mất vẻ đẹp hàm súc vốn là đặc tính của thơ. Câu chữ của Trương Đăng Dung vừa giàu tính biểu tượng, lại vừa giàu sức gợi cảm. Với Trương Đăng Dung, thơ chỉ đơn giản là một trò chơi ngôn ngữ:
Ngôn từ kết nối
Phân chia,....
Và ngôn ngữ
tự do tạo nghĩa

Những gì thơ muốn nói thì người nghe tự hiểu.

Thơ luôn mang đặc tính ý tại ngôn ngoại, thơ hay lại càng nhiều bí ẩn. Những gì tác giả bài viết này thể hiện trên đây cũng chỉ là một góc nhìn, một cách nhìn về tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng. Những mong bạn đọc gần xa sẽ tiếp tục kiếm tìm và sẻ chia những điều bí mật đang tiềm ẩn trong tập thơ này.
                                                                                   
Thành sen, tháng 8 năm 2011
N.T.Đ












Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN QUANG HÀNgồi đọc NGÀN NĂM SAU mà như đang ngồi nói chuyện tay đôi với Nguyễn Trọng Bính. Giọng thơ anh cũng cứ chân chất, yêu quê hương và say đời như chính con người anh. Từ thời chiến tranh, chúng tôi đã ở trong rừng với nhau. Cứ ngồi với nhau là bộc bạch hết. Một lá thư riêng, một rung động mới, chúng tôi cũng chia sẻ với nhau.

  • PHAN THÀNH MINHĐó cũng là tựa đề tập thơ rất dễ thương của Trần Tịnh Yên - nhà thơ của đất kinh kỳ thơ mộng thuở nào - thú thật  là tôi đã vô cùng hạnh phúc khi nhận được tập thơ này do chính  tác giả gởi tặng, dễ thương ở chỗ khổ giấy nhỏ nhắn, trình bày đẹp trang nhã, sách 80 trang với 46 bài thơ cũng mỏng mảnh như thế nhưng nhìn rất thơ, càng thơ hơn nữa khi chính tác giả tự viết lời phi lộ cho mình, tôi rất hợp với anh ở điểm này bởi lẽ chẳng ai có thể thay thế cho mình bằng mình để nói hộ những gì mình muốn nói...:...năm xưa qua ngõ sân đìnhcó người nhặt được mối tình ai rơi

  • NAM NGỌC            (Về tập truyện ngắn mới nhất của nhà văn Võ Thị Xuân Hà do Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết NXB Phụ nữ xuất bản và phát hành quý I năm 2009)Tập truyện gồm 14 truyện  ngắn, với những mô típ khác nhau nhưng cùng chung gam màu thấm đẫm chất liệu hiện thực. Tất cả đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất mà ở đó các nhân vật dù xấu dù tốt cũng đều hướng tới cái đẹp, cái nhân bản của con người. Cách viết truyện lạ cùng với những chi tiết, tình tiết được lắp ghép một cách khéo léo, Võ Thị Xuân Hà đã một lần nữa gây ngạc nhiên cho người đọc bằng bút pháp ẩn không gian đa chiều của mình.

  • BÍCH THUHơn một thập niên trước đây, với hai truyện ngắn Hồi ức của một binh nhì và Vết thương lòng, Nguyễn Thế Tường đã đoạt giải cao trong cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức năm 1992 - 1994. Tôi còn nhớ một trong số các nhà phê bình đã thành danh của nhà số 4 Lý Nam Đế không kìm được cảm xúc của mình với chùm truyện dự thi của Nguyễn Thế Tường lúc ấy đã thốt lên: “Tôi thích truyện ngắn Nguyễn Thế Tường”. Từ đó đến nay, Nguyễn Thế Tường vẫn miệt mài viết và lặng lẽ ra sách. Người đàn bà không hoá đá là lần ra mắt thứ năm của anh.

  • HOÀNG VŨ THUẬT                (Đọc “Trăng đợi trước thềm”, thơ Hải Bằng, NXB Thuận Hoá - 1987)Đổi mới là trách nhiệm vừa là bổn phận đang diễn ra sôi động trong đời sống văn học hôm nay. Nhưng ranh giới giữa cũ và mới không dễ dàng phân định khi đánh giá một tác phẩm văn chương nghệ thuật.

  • ĐINH NAM KHƯƠNG               (Nhân đọc “ru em ru tôi” Thơ Trương Vĩnh Tuấn NXB: Hội nhà văn - 2003)Có một nhà thơ nổi danh thi sĩ, làm “quan” khá to ở báo văn nghệ. Nhưng chẳng bao giờ thấy ông vỗ ngực, ngạo mạn nói lời: “ta là quan đây” mà ông luôn dân giã tự gọi mình là hắn, xưng hô với bạn bè là mày tao:                          “...Hình như hắn là nhà quê                          Hình như hắn từ quê ra...”                                                                (Gốc)

  • NGÔ MINHKhông thể đếm là tập thơ đầu tay của cây bút nữ Nguyễn Thị Thái người Huế, sống ở thành phố Buôn Ma Thuột vừa được NXB Thuận Hóa ấn hành. Tôi đã đọc một mạch hết tập thơ với tâm trạng phấn khích. Tập thơ có nhiều bài thơ hay, có nhiều câu thơ và thi ảnh lạ làm phấn chấn người đọc.

  • MINH KHÔICuối tháng bảy vừa qua, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Wayne S.Karlin và nữ phóng viên Valerie, công tác ở một Đài phát thanh thuộc bang Maryland, Mỹ đã đến Huế tìm thăm nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, để chuyển cho chị bản hợp đồng in ấn và phát hành tập thơ Green Rice (Cốm Non) do cơ quan xuất bản gửi từ Mỹ sang.

  • FRED MARCHANTCó những vết thương chẳng thể nào lành lặn và có những nỗi đau chẳng bao giờ mất đi. Kinh nghiệm nhân loại khuyên ta không nên “chấp nhận” hay “bỏ đi” hay “vượt lên” chúng. Với một con người mà tâm hồn thương tổn vì đã làm cho người khác khổ đau hay chứng kiến nhiều nỗi đau khổ thì những câu nói như thế hoàn toàn vô nghĩa.

  • BÍCH THU          (Đọc thơ Dòng sông mùa hạ của Hoàng Kim Dung. NXB Hội Nhà văn, 2004)Nhìn vào tác phẩm đã xuất bản của Hoàng Kim Dung, tôi nhận thấy ở người phụ nữ này có sự đan xen giữa công việc nghiên cứu khoa học với sáng tạo thi ca. Ngoài bốn tập thơ và bốn cuốn sách nghiên cứu về nghệ thuật đã in, với tập thơ thứ năm có tựa đề Dòng sông mùa hạ mới ra mắt bạn đọc, đã làm cán cân nghiêng về phía thơ ca.

  • ĐÔNG HÀVăn hoá và văn học bao giờ cũng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể thấy rằng văn học là một bộ phận của văn hoá, nó chịu sự ảnh hưởng của văn hoá. Khi soi vào một thời kì văn học, người đọc có thể thấy được những khía cạnh về phương diện đời sống văn hoá tinh thần của một thời đại, một giai đoạn của xã hội loài người.

  • HÀ KHÁNH LINHViết được một câu thơ hay có khi phải chiêm nghiệm cả một đời người, hoàn thành một tập truyện, một tập thơ là sự chắt chiu miệt mài suốt cả quá trình, sau Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ VII Lê Khánh Mai liên tiếp trình làng tập thơ "Đẹp buồn và trong suốt như gương" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) và "Nết" tập truyện ngắn (Nhà xuất bản Đà Nẵng).

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCó người làm thơ dễ dàng như suối nguồn tuôn chảy không bao giờ vơi cạn. Có người làm thơ khó khăn như đàn bà vượt cạn trong cơn đau sinh nở. Có người không đầy cảm xúc cũng làm được ra thơ. Có người cảm xúc dâng tràn mà trước thơ ngồi cắn bút. Thơ hay, thơ dở, thơ dở dở ương ương tràn ngập chợ thơ như trên trời dưới đất chỉ có thơ. Thơ nhiều đến ngạt thở chứ thơ chẳng còn tự nhiên như hơi thở mà ta vẫn hoài vọng một thời.

  • THẠCH QUỲSuốt đời cần mẫn với công việc, luôn mang tấm lòng canh cánh với thơ, vì thế, ngoài tập “Giọng Nghệ” in riêng và bao lần in chung, nay Ngô Đức Tiến lại cho ra tập thơ này.

  • Trong đội ngũ những người hoạt động văn nghệ tại Thừa Thiên Huế, bên cạnh các Hội chuyên ngành trực thuộc Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (như Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật, Hội Âm nhạc…) có một tổ chức gọi là “Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên Huế”(CHNV).

  • Hà Khánh Linh xuất thân trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng ở Huế. Tên khai sinh của chị là Nguyễn Khoa Như Ý. Năm 20 tuổi, đang học dở dự bị đại học Khoa Học Sài Gòn thì chị quyết định bỏ học để gia nhập quân Giải phóng. Từ đó cho đến khi nghỉ hưu chị đã từng đi dạy, làm phóng viên Đài phát thanh Giải phóng, Đài phát thanh Bình Trị Thiên, làm biên tập, Thư ký Tòa soạn rồi Phó tổng biên tập Tạp chí Sông Hương. Chị quen biết và giao tiếp khá rộng từ các vị quan chức đến các vị đại đức, linh mục, trí thức... cùng những năm tháng gian khổ ở chiến trường Trị Thiên, những chuyến đi thực tế ở Căm pu chia... đã giúp chị có một vốn sống hết sức phong phú.

  • Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ra và lớn lên bên bờ sông Kiến Giang thơ mộng. Nhưng tuổi thơ của chị chứa đầy buồn đau và nước mắt: Mẹ không có cửa nhà/  Em đứa trẻ vắng cha/ Như mầm cây trên đá/ Biết khi nào nở hoa? Nỗi tuyệt vọng cứ ám ảnh suốt cả tuổi thơ của chị. Trong một bài thơ đầu tay chị viết: Tuổi thơ tôi như ráng chiều đỏ lựng/ Hắt máu xuống dòng sông đen.

  • Trần Thùy Mai bắt đầu được các bạn trẻ yêu thích văn chương ở Huế biết đến khi chị đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng (1975). Tốt nghiệp vào loại xuất sắc, chị được giữ lại làm cán bộ giảng dạy ở trường đại học Sư phạm Huế. Dạy ở trường đại học Sư phạm Huế được một vài năm, chị chuyển sang làm công tác biên tập ở nhà xuất bản Thuận Hóa. Đây là một quyết định khá táo bạo và sáng suốt. Làm việc ở nhà xuất bản, chị có điều kiện viết lách hơn.

  • LÊ HUỲNH LÂM                 (Đọc Viết bên Hộ Thành hào - thơ Nguyên Quân -, Nxb Thuận Hoá, 2009)Giữa những đổ nát hoang tàn quá khứ và hiện tại, khi mà thang giá trị bị đảo lộn, những mảnh vỡ đang vung vãi mọi nơi, tác giả lại tìm đến Hộ Thành hào để nhìn ngắm cõi lòng đang hỗn hênh mọi thứ và như chợt nhận ra niềm hy vọng mỏng mảnh, anh đã Viết bên Hộ Thành hào.

  • HOÀNG DIỆP LẠCBất chợt giữa một ngày mưa gió, nhìn những hạt nước toé lên từ mặt đất như những đoá hoa mưa. Một loài hoa của ảo giác. Có thể trong tâm trạng như vậy, Lê Tấn Quỳnh chợt hỏi:Hoa vông vangCó hay không