Nobel văn chương 2016: sự giao hòa giữa âm nhạc và thi ca

16:12 05/12/2016

PHẠM TẤN XUÂN CAO

Chiều ngày 13/10/2016, Hội đồng Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã chính thức công bố giải Nobel Văn chương thuộc về nhạc sĩ, ca sĩ, nhà thơ người Mỹ Bob Dylan với thông cáo giải thưởng được trao vì những phát kiến của ông trong việc tìm kiếm những cách diễn đạt thi pháp mới lạ cho truyền thống âm nhạc Mỹ.

Ảnh: internet

Hẳn là, việc Dylan được nhận giải Nobel văn chương năm nay đã gây ra một nỗi ngạc nhiên lớn trong lòng công chúng yêu văn học, bởi lẽ, âm nhạc đã lấn sân văn học, hay chúng ta có thể đẩy cái nhìn rộng hơn một chút, sẽ thấy được rằng văn hóa đại chúng (tạm thời) soán ngôi văn hóa đương đại, khi mà lớp công chúng yêu văn học luôn đặt kỳ vọng vào những tác giả với các tác phẩm dày cộp mang âm hưởng của kiểu hình yêu thích tiểu thuyết trước đây. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra trước sự kiện này sẽ hướng đến một diện mạo mới, một cái nhìn mới về sự liên hệ chặt chẽ đến phạm vi của lý thuyết tiếp nhận, mà đặc biệt là vấn đề về ranh giới giữa các hình thức và thể loại nghệ thuật.

Bob Dylan là nghệ danh của Robert Allen Zimmerman, ông sinh ngày 24 tháng 5 năm 1941. Ông là một trong những nghệ sĩ danh tiếng của thế kỷ XX. Đặc biệt, ông còn tham gia vào các phong trào xã hội mà những ca khúc thời kỳ đầu của ông như Để gió cuốn đi (Blowin’ in the Wind) đã trở thành những bài thánh ca cho các hoạt động nhân quyền và phản đối chiến tranh. Ca từ của Dylan có một sự kết hợp rộng rãi và độc đáo giữa chính trị, xã hội, văn học và triết học. Không những được biết đến dưới danh hiệu nhạc sĩ, ca sĩ, Dylan còn là diễn viên, họa sĩ, nhà văn và nhà biên kịch. Năm 2008, ông được nhận giải Pulitzer báo chí cho những đóng góp lớn về âm nhạc và văn hóa mà đặc biệt là sự kết hợp phức tạp giữa thi ca và âm nhạc. Năm 2004, ông được tờ tạp chí Rolling Stone, bầu chọn là nghệ sĩ vĩ đại thứ hai mọi thời đại, chỉ sau ban nhạc The Beatles. Năm 2012, ông được tổng thống Mỹ Barack Obama trao Huân chương Tự do. Tính đến nay, Dylan đã nhận được tổng số giải thưởng danh giá là 11 giải Grammy, 1 giải Oscar và 1 giải Quả cầu vàng.

Dylan được coi là một trong số những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ XX, từ âm nhạc đến văn hóa. Trong danh sách “Các nhân vật quan trọng nhất của thế kỷ XX” của tờ tạp chí Time với lời tựa “nhà thơ bậc thầy, nhà phê bình xã hội chua cay và linh hồn thủ lĩnh gan dạ của thế hệ phản văn hóa.” Tổng thống Obama nói về ông trong lễ trao Huân chương Tự do hồi năm 2012, không có một tượng đài nào vĩ đại hơn. Tính đến năm 2008, ông đã bán được trên 120 triệu album trên toàn thế giới. Nhạc sĩ Paul Simon cho rằng, những sáng tác thời kỳ đầu của Dylan đã vượt ra khỏi khuôn khổ của nhạc folk thông thường. Như với ca khúc “Để gió cuốn đi” có giai điệu vô cùng ấn tượng, Dylan đã thả mình đi xa hơn môi trường của nhạc folk và góp phần định nghĩa lại thể loại này. Khi Dylan tiến hành phối trộn các thể loại nhạc với nhau, nhiều nhà phê bình nhận ra nơi ông có một sự ảnh hưởng về văn hóa một cách sâu đậm, khi chất nhạc của ông xuất hiện sự hòa trộn của các yếu tố ngày một trở nên phức tạp. Mike Marqusee cho rằng Dylan đã tạo ra một khối lượng sản phẩm rất khó lẫn lộn, ông ấy đã tiến hành hòa quyện folk, blues, đồng quê, rock’n’roll, Phúc âm, nhạc nền Anh, thơ tượng trưng, thơ cách tân và thi ca thế hệ Beat cũng như chủ nghĩa siêu thực và Dada, theo kèm là biệt ngữ và quan điểm xã hội.

Sự nghiệp của ông đã được rất nhiều những nhà chuyên môn, những nhà phê bình nghiên cứu một cách tỉ mỉ. Tiêu biểu như nhà phê bình văn học Christopher Ricks đã từng công bố cuốn sách dày tới 500 trang về những nghiên cứu tác phẩm của Dylan, ở đó tác giả cuốn sách đã đặt ông ngang hàng với Eliot, Keats và Tennyson, bên cạnh đó tác giả còn cho rằng Dylan hoàn toàn xứng đáng là một nhà thơ đúng nghĩa. Nhà thơ Andrew Motion từng đề nghị rằng ca từ của Dylan nên được đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường. Kể từ năm 1996, rất nhiều lần Dylan được đề cử vào danh sách Giải Nobel Văn chương của Viện hàn lâm Thụy Điển. Về vấn đề chất giọng của Dylan, Robert Shelton đã mô tả nó như một thứ chất giọng khàn đục giúp ta gợi nhớ về Guthrie, nhưng cũng chua chát như Dave van Ronk. Nhà phê bình Micheal Gray còn đánh giá phần hát của ông trong bài “Like a Rolling Stone” đạt tới điểm trẻ trung và châm biếm sâu cay. Bên cạnh đó, nhà phê bình Christophe Lebold còn nhận xét về chất giọng của ông gần như vỡ vụn, qua đó giúp cho Dylan giới thiệu với thế giới tính âm thanh hoàn toàn mới của ca khúc, một thứ chất giọng đã mang chúng ta qua bao góc nhìn của thế giới tan vỡ, sụp đổ.
 

Sự nghiệp ca hát của ông cũng đã gây ảnh hưởng lớn lên nhiều thể loại âm nhạc khác. Edna Gundersen cho rằng thứ âm nhạc của Dylan đã len lỏi vào từng dòng chảy của nhạc pop kể từ năm 1962. Nhạc sĩ Joe Strummer ca ngợi Dylan đã đặt nền móng cho ca từ, giai điệu, sự nghiêm túc, tính tinh thần và sự sâu sắc của nhạc rock. Nếu xem những tác phẩm trong thập niên 1960 của Dylan là góp phần mang tính trí tuệ tới âm nhạc quần chúng thì sang đến thế kỷ XXI, giới phê bình ngày nay đánh giá ông đã mở rộng văn hóa nhạc folk đi xa hơn rất nhiều so với lúc ông mới tiếp nhập với nó. Theo lời của Sara Danius, Thư ký thường trực của Ủy ban giải Nobel, khi cho rằng nếu ta quay ngược trở lại 2.500 năm trước đây, về đến thời của Homer và Sappho hẳn nhiên chúng ta sẽ tiếp xúc với các tác phẩm sử thi dùng để nghe và trình diễn cùng với các nhạc cụ, tuy nhiên, sức sống của hình thức nghệ thuật này đến ngày nay không phải là đã tàn lụi, người ta vẫn đọc và thưởng thức các tác phẩm của họ như một tác phẩm văn học, đối với Bob Dylan cũng vậy, người ta có thể nghe ông và hẳn là muốn hiểu ông hơn người ta nên đọc những tác phẩm của ông. Qua đây, chúng ta có thể rút ra được một nhận xét tổng quan về giải Nobel năm nay như một minh chứng cho sự giao hòa giữa âm nhạc và thi ca. Có thể xem phần văn học của Dylan thuộc về ca từ của ông, tuy nhiên, xét trên bình diện nghệ thuật, điểm đặc biệt còn nằm ở sự cách tân của ông trong phạm vi của nghệ thuật trình diễn.

Vấn đề đặt ra trước giải Nobel Văn chương năm nay, phải chăng, Hội đồng trao giải có lý do riêng nào đó trong việc lựa chọn chủ nhân của giải thuộc về một nhạc sĩ hơn là một nhà văn, một ca sĩ hơn là một nhà thơ. Phần lớn ý kiến vẫn tập trung vào việc, sở dĩ, giải năm nay được trao cho một người hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc chính là nhắm đến một sự tái định nghĩa về vấn đề thể loại hay loại hình nghệ thuật, mà đặc biệt là tính ổn định và ranh giới giữa các loại hình nghệ thuật dường như trở nên mong manh hơn trước sự giáp ranh, tiếp nhập của nhiều thể loại trong sự tương tác với nhau. Do đó, việc giải Nobel năm nay được trao cho một người hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc với những cách tân trong việc trình diễn ca từ được xem như những tứ thơ, đoản thi hẳn nhiên, người ta sẽ không thể không tiến đến nhận xét về việc ranh giới giữa các loại hình nghệ thuật đã trở nên xô lệch đi. Hơn nữa, việc đẩy mạnh và liên hệ vấn đề này trên chiều kích lịch sử, qua đó, dường như có thể cho phép chúng ta có được một cái nhìn mới hơn về mối quan hệ giữa âm nhạc và thi ca, mà quan trọng hơn hết, ở đây chính là nguồn mạch chung của cả hai loại hình nghệ thuật có từ lâu đời này. Như thế, chúng ta có thể thấy được tính không bền vững giữa các loại hình nghệ thuật diễn ra trong giai đoạn hiện nay ra sao. Tính không bền vững của các thể loại, từ đó, đặt ra vấn đề nan giải cho lý thuyết tiếp nhận, rằng với một phương thức thể hiện nội dung đối với thể loại này chúng ta có thể tạo ra được những hệ quả tương ứng với những hệ quả mà thay vì không được thể hiện thông qua loại hình nghệ thuật trước nhưng vẫn có được chúng hay không.

Việc Hội đồng giải Nobel quyết định trao giải văn chương cho một nhân vật hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc, trên một phương diện nhất định nào đó, vấn đề phát sinh đặt ra cho lý thuyết tiếp nhận giúp chúng ta hướng đến vấn đề về hiệu ứng thẩm mỹ giữa các thể loại, đặc biệt, giải thưởng này được xem như một chứng tích cho sự giao thoa giữa hai hình thức nghệ thuật gắn bó chặt chẽ với nhau: âm nhạc và thi ca. Từ thời xa xưa, thơ được thể hiện bằng lời, cụ thể là ngâm; ở đây, một điều rõ ràng, chúng ta có thể thấy được rằng, việc ngâm thơ chính là một cách trình diễn nó và cũng chính bằng cách ấy, chúng ta có thể tạo ra được những hiệu ứng tương tự như với một bài nhạc mà chúng ta nghe thấy. Vấn đề đặt ra ở đây, chính là hiệu ứng thẩm mỹ được tạo ra khi chúng ta diễn xướng thơ bằng cách ngâm nó, như thế, sự vào cuộc của âm nhạc sẽ là phương tiện giúp cho quá trình diễn ngâm của thơ được thăng hoa lên đến những mức độ nào đó mang tính lắng đọng hơn cho người nghe. Và xem xét một bài hát ở khía cạnh ca từ của nó, hẳn nhiên, chúng ta không thể không thấy được rằng, bản thân ca từ của một ca khúc cũng có thể được xem như là một bài thơ đúng nghĩa của nó. Lý do được nêu ra trong thông cáo của Viện hàn lâm Thụy Điển chính là những cách tân của Dylan trong việc biểu đạt mang tính thi ca qua lời nhạc của ông. Bản thân con người Dylan hội tụ một năng lực có thể dung hợp được những giá trị văn hóa từ đó giúp cho ca từ của ông thấm đượm trên những chiều kích muôn màu của cuộc sống. Hiệu ứng thẩm mỹ giữa thơ và nhạc từ lâu được xem như là điều gì đó chung đụng sâu xa giữa hai loại hình nghệ thuật này. Bởi lẽ, trong thơ sở hữu một thứ nhạc tính thuộc về những nguyên lý biểu đạt hay thể hiện có nguồn gốc từ xa xưa, và trong nhạc dường như được vang lên trên nền ca từ của thơ, một sự giải phóng nguồn mạch âm thanh trên sự cộng hưởng nhạc tính đến từ tứ thơ, vần, đối ứng trong sự liên kết của những cách điệu về âm luật.

Việc trao giải Nobel Văn chương năm nay còn hướng chúng ta đến với vấn đề mang tầm vĩ mô hơn, đó không là gì khác ngoài sự giao thoa giữa văn chương và xã hội. Đi từ tính hiệu ứng giữa hai loại hình nghệ thuật thân thuộc ấy, mà đặc biệt được hội lại nơi bản thân Bob Dylan, một con người có sức hút kỳ lạ, một tượng đài cho văn hóa đại chúng trong thời đại của chúng ta ngày nay. Người ta đã dành rất nhiều mỹ từ khi nói về sự nghiệp cũng như phong cách trình diễn của Dylan, tầm ảnh hưởng của ông giúp chúng ta hướng đến phạm vi đặc biệt mà ở đó văn chương cất đôi cánh từ âm nhạc để đến với số đông. Giá trị hiệu dụng của âm nhạc trong sự tương tác với số đông sẽ có được với một trị số lớn hơn thơ rất nhiều thế nhưng không vì qua đó mà chúng ta thuyên giảm tầm quan trọng của thơ đối với nhạc. Những cách điệu về thơ trong việc áp dụng vào ca từ chính là lý do cơ bản để Dylan lọt vào tầm ngắm của các ủy biên hội đồng trao giải Nobel năm nay. Và vấn đề phát sinh từ sự kiện Nobel năm nay hẳn nhiên sẽ không loại trừ khỏi sự quan tâm đến từ phân ngành xã hội học văn học. Sự bùng nổ của phương pháp nghiên cứu liên ngành nhìn về sự kiện này có thể xem như là một dấu mốc cho sự vượt qua tính cố kết của loại hình, một kiểu thể loại bị xô lệch.

Tóm lại, thông qua sự kiện của giải Nobel Văn chương năm nay chúng ta có thể rút ra ba vấn đề then chốt sau: liệu rằng tính ổn định của các loại hình nghệ thuật sẽ được đảm bảo tới mức nào; và hiệu ứng thẩm mỹ được tạo ra từ mỗi loại hình nghệ thuật cụ thể có thể mang lại một sức bật cộng hưởng nào hay không; hay mức độ của sự giao thoa giữa văn chương và xã hội sẽ được đẩy đến một mức độ như thế nào trong dòng chảy của văn hóa của chúng ta hiện nay.

P.T.X.C
(TCSH333/11-2016)




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Triết học đôi khi được hiểu như là “nghệ thuật sống” và quả thật, điều này đúng. Nhưng cũng có những lý do để tin rằng triết học có thể còn là “nghệ thuật chết”.

  • BORIS CHEKHONIN

    Địa điểm là ở khu Tam giác Vàng, những câu chuyện không phải là nói về CIA, những tên gián điệp, những viên chức chính quyền địa phương thối nát hoặc những nhân vật quen thuộc khác. Thời thế đã thay đổi. Băng-cốc đang phát động cuộc chiến chống lại chất na-cô-tic.

  • L.T.S: Năm 1985 lần đầu tiên ở Pháp độc giả mới biết có một kịch bản văn học của Jean Paul Sartre viết từ 1959 mang tựa đề "Sigmund Freud hay là Bản giao kèo với quỷ sứ". Gần đây báo Văn học Xô viết số 22 tháng 6-1988 đã đăng kịch bản văn học đó kèm với bài viết của giáo sư A.Belkin - tiến sĩ y học, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tâm lý - nội tiết - thuộc Viện tâm thần học MOCKBA. Sau đây Sông Hương xin giới thiệu với độc giả kịch bản J.P.Sartre và bài viết nói trên của giáo sư tiến sĩ A.Belkin.

  • PANKAJ MISHRA - BENJAMIN MOSER

    Ở chuyên mục Bookends hằng tuần, sẽ có hai nhà văn đứng ra giải đáp các vấn đề đặt ra với thế giới sách. Xưa, Ezra Pound từng khích lệ đồng nghiệp: “hãy làm mới”. Tuần này, Pankaj Mishra và Benjamin Moser tranh luận xem ngày nay liệu có bất kỳ sự mới lạ thật sự nào còn lại cho các nhà văn khám phá.

  • Hơn 50 năm vừa viết văn vừa làm báo đã làm cho nhà văn Graham Greene trở thành một người nói tiếng nói của quần chúng trên thế giới.

  • LISANDRO OTERO

    Cách đây mấy tháng ở Thủ đô Buenos Aires (Argentina) một hội nghị các nhà văn quốc tế đã được tổ chức, để thảo luận về đề tài tiểu thuyết sẽ ra sao vào thế kỷ hai mươi mốt sắp sửa đến.

  • Sakharov sống trong một tòa nhà đồ sộ và không mấy vui vẻ ở Matxcơva. Tòa nhà do những tù nhân chiến tranh Đức thiết kế và xây dựng trên những công trường đã bị ném bom suốt thời chiến tranh.

  • PATRICK MODIANO

    (Phát biểu ngày 7/12/2014 tại Hàn lâm viện Thuỵ Điển ở Stockholm của Patrick Modiano, Giải Nobel Văn học 2014)

  • Mọi thông tin liên quan tới người được nhận giải Nobel sẽ chỉ được Viện hàn lâm Thụy Điển tiết lộ sau 50 năm. Giờ đây, sự thật về nhà văn duy nhất từng từ chối giải thưởng văn học danh giá nhất hành tinh đã được công bố.

  • Nhà văn người Mỹ F. Scott Fitzgerald - tác giả của cuốn tiểu thuyết kinh điển “Gatsby vĩ đại” - đã viết thư tay cho con gái trong ngày đầu năm. Lá thư dành cho một cô bé, nhưng khiến người lớn cũng phải suy nghĩ.

  • Trong năm nay, một nhà văn vĩ đại của Mỹ Latinh - Gabriel Garcia Marquez - đã qua đời. Ở đất nước Colombia quê hương ông, người ta đang chuẩn bị cho ra mắt hàng loạt tờ tiền có in hình chân dung nhà văn để mọi thế hệ người Colombia đều sẽ biết và nhớ về ông.

  • NGUYỄN VĂN DŨNG

    Thời trai trẻ tôi yêu nước Nga qua tác phẩm Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoi. Lớn lên tôi càng yêu nước Nga hơn bởi lịch sử hào hùng và nền văn hóa phong phú với những con người Nga nhân hậu, dễ thương. Nay về già, tôi quyết tâm đi thăm nước Nga cho bằng được. Tất nhiên Moskva là chọn lựa đầu tiên.

  • TRẦN HUYỀN SÂM

    LGT: Giải Goncourt ở Pháp 5/11 vừa qua, đã vinh danh cho bác sĩ, nữ văn sĩ Lydie Salvayre, với tác phẩm Pas Pleurer/ Đừng khóc.

  • VĨNH THƯ

    Trích ý kiến trao đổi về tình hình đổi mới công tác văn học nghệ thuật giữa đoàn cán bộ lãnh đạo văn hóa văn nghệ Việt Nam nghiên cứu học tập tại AOH (Viện hàn lâm khoa học xã hội trực thuộc TW Đảng cộng sản Liên Xô) với Ban thư ký và một số nhà văn Liên Xô.

  • Interstellar, bộ phim khoa học giả tưởng vừa ra mắt tháng 11 vừa qua của đạo diễn Christopher Nolan về hành trình tìm kiếm một trái đất khác - một ngôi nhà mới cho loài người, đã khiến khán giả trầm trồ, kinh ngạc và cảm động bởi nhiều yếu tố khác nhau: kỹ xảo điện ảnh đỉnh cao, cốt truyện đầy tính khoa học hấp dẫn, thông điệp đáng suy ngẫm về tình yêu và mối quan hệ của con người với Trái đất. Nhưng có lẽ ấn tượng mê hoặc nhất về bộ phim là hình ảnh hố đen (black-hole) và lỗ sâu (worm-hole) giữa vũ trụ mà đoàn làm phim đã mô phỏng - một kết quả tuyệt vời của sự cộng tác giữa khoa học và nghệ thuật.

  • Khác với mọi lần, năm nay, tin nhà văn Pháp Patrick Modiano được Viện Hàn lâm Thụy Điển chọn trao giải thưởng Nobel Văn học có phần làm cho báo chí, truyền thông ngoài nước Pháp ngỡ ngàng.

  • Tiến sĩ tâm thần học Brian L. Weiss kể về quá trình điều trị cho một bệnh nhân nhớ được tiền kiếp.

  • Sử gia kiêm nhà văn Italy Angelo Paratico vừa công bố một nghiên cứu mới gây sửng sốt, cho rằng mẹ danh họa Phục hưng Lenardo da Vinci (1452-1519) có thể là một nô lệ người Trung Quốc.

  • Theo nghiên cứu mới đây của nhà sử học, tiểu thuyết gia người Italy Angelo Paratico, mẹ của Leonardo da Vinci có thể là một nô lệ người Trung Quốc.