Những vấn đề cần đặc biệt lưu ý trong xây dựng các hồ chứa nước lớn ở thượng nguồn sông Hương

09:36 13/07/2009
Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

Sau trận lũ lịch sử năm 1999 gây ngập toàn bộ vùng đồng bằng của tỉnh, gần 400 người đã chết, được Trung ương quan tâm đặc biệt, nhưng vốn xây dựng cơ bản khó khăn, đã phải nhờ Chính phủ Nhật Bản giúp đỡ, với sự hỗ trợ của JICA, JBIC, vừa qua đã tiến hành quy hoạch việc xây dựng hồ chứa nước (hồ Tả Trạch) ở thượng nguồn sông Hương với nhiệm vụ chống lũ là ưu tiên. Ngoài ra, hiện Tổng Công ty xây dựng Sông Đà, Tổng Công ty Điện lực cũng đang nghiên cứu để xây dựng các công trình thuỷ điện là hồ Hữu Trạch (Bình Điền) và hồ sông Bồ (Cổ Bi) trên sông Hương.

Trong tình hình đó, có những vấn đề cần được đặt ra:
1. Vấn đề đảm bảo nguyên tắc tổng hợp, lợi dụng tài nguyên nước và chọn phương án tối ưu.

Nhu cầu dùng nước cho phát điện và cung cấp nước cho nông công nghiệp, bảo đảm môi trường sinh thái, cơ bản không có mâu thuẫn. Vì đặc điểm nguồn nước cung cấp cho thuỷ điện không mất đi mà thả xuống sông Hương đưa về hạ lưu phục vụ cho các ngành. Mặt khác, do địa hình nên gần như không có điều kiện tưới tự chảy cho sản xuất nông nghiệp, mà chủ yếu là tăng nguồn nước sau đó dùng công trình động lực (bơm, tát...) để tưới. Mâu thuẫn chủ yếu là giữa yêu cầu chống lũ cho hạ du và quyền lợi của ngành điện. Tăng dung tích phòng chống lũ, thì lượng điện giảm đáng kể (nhất là mùa lũ). Đây là mâu thuẫn muôn thuở. Nếu công trình được đầu tư bằng nguồn vốn của ngân sách thì mâu thuẫn trên không có vấn đề gì lớn.

Vì yêu cầu lợi dụng tổng hợp nguồn nước lấy chống lũ là mục tiêu số 1, nên hồ Tả Trạch phải dành ~ 400 triệu m3 để chống lũ cho hạ lưu. Tuy mực nước chết ở cao trình + 23m, nhưng để bảo đảm nguồn nước cung cấp cho các ngành, đẩy mặn ở hạ du, nên mực nước trước lũ đặt ở cao trình + 35m ứng với dung tích 217,4 triệu m3, cuối mùa lũ, nếu năm đó nước đến ít, trữ không đầy hồ thì vẫn đảm bảo nhu cầu nước cho các ngành. Theo chúng tôi, khi đập Thảo Long hoàn thành, có tác dụng ngăn mặn giữ ngọt cho sông Hương, có khả năng đưa mực nước trước lũ xuống cao trình mực nước chết + 23m, và dung tích chống lũ sẽ tăng từ 392,6 m3 lên 610 triệu m3, mực nước lũ tại Huế giảm xuống cao trình + 3,0m (tính toán hiện nay của JBIC là + 3,5m). Cũng vì vậy mà phát điện chỉ còn 18Mw và điện lượng chỉ đạt 60 triệu Kwh. Nếu ở đây ưu tiên cho phát điện, có thể lắp công suất 40 - 70 Mw, sản lượng điện bình quân năm có thể đạt 160 ~ 280 triệu Kwh. Xây dựng hồ Tả Trạch với các nhiệm vụ cụ thể như trên là xuất phát từ yêu cầu dùng nước và chống lũ cho hạ du đạt hiệu quả tốt nhất.

Với mục đích kinh doanh điện năng là chủ yếu, các nhiệm vụ khác là thứ yếu, Tổng Công ty Sông Đà, Tổng Công ty Điện lực có ý định xây dựng hai hồ Bình Điền và Cổ Bi. Do vậy, trong những tài liệu đã chuẩn bị, chúng tôi thấy việc tính toán kinh tế chọn phương án chỉ xuất phát chủ yếu từ lợi ích ngành điện, không phải là phương án tối ưu đối với nền kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy làm được hai công trình rất lớn (công trình cấp II), nhưng kết quả cụ thể chỉ bán được khoảng 350 - 400 triệu Kwh hàng năm, và các công ty của ngành điện quả là có lợi. Các hiệu quả khác gần như rất nhỏ, chưa nói đến ảnh hưởng môi trường tự nhiên và xã hội như thế nào.

Giải quyết mâu thuẫn này phải xuất phát từ hiệu ích xã hội tối đa. Nếu trước mắt chính phủ chưa có kinh phí đầu tư, nhưng ngành điện lại muốn khai thác nhanh, trong tình hình đó hiệu quả của các đơn vị kinh doanh được đặt lên trên hiệu ích xã hội là điều chắc chắn xẩy ra. Với một hình thức đầu tư bên ngoài trông rất hấp dẫn, nhưng đấy không phải là cứu cánh cho nhân dân Thừa Thiên Huế.

2. Vấn đề đánh giá tác động môi trường

Đây là một vấn đề rất rộng, bao gồm rất nhiều ngành chuyên môn khác nhau cả tự nhiên và xã hội. Dự án SAPROP do JBIC tài trợ để hoàn chỉnh dự án khả thi hồ chứa nước Tả Trạch phải kéo dài hai năm, với hàng chục chuyên gia Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên... cộng với nhiều Viện ở Việt Nam, phải khảo sát, nghiên cứu, tính toán, đến nay mới xong về cơ bản. Tuy vậy, còn một số vấn đề đang phải chuyển qua giai đoạn sau, như:

Môi trường xã hội: Xây dựng chương trình tái định cư, xác định ảnh hưởng của việc xây dựng hồ Tả Trạch đối với các thành phần có liên hệ, ảnh hưởng đến người khai thác cát, sạn trên sông, ảnh hưởng đến nuôi trồng thuỷ sản trên sông và đầm phá...

Môi trường tự nhiên: Tình hình địa chất (hoạt động kiến tạo, vết đứt gãy, động đất), vấn đề di chuyển bùn cát, bồi lắng, xói lở ở hạ du, các loại động vật (thuỷ hải sản, động vật trên cạn, động vật quí hiếm), thực vật trong hồ, quanh hồ, chất lượng nước, nước lợ để nuôi trồng thuỷ sản, ổn định cửa đầm phá, cửa biển, mối quan hệ của hồ Tả Trạch và đập Thảo Long...

Tất cả nhiệm vụ trên phải nghiên cứu tình hình hiện trạng, tính toán và dự đoán sự thay đổi khi có hồ Tả Trạch và các biện pháp quan trắc theo dõi, các biện pháp hạn chế các tiêu cực,...

Nay, nếu dự kiến xây dựng thêm hồ Hữu Trạch và hồ Sông Bồ thì tình hình phức tạp hơn. Ba hồ chứa dự định xây ở sông Hương đều thuộc loại lớn. Theo quốc tế quy định, loại đập lớn là loại đập có chiều cao từ 15m trở lên, tính từ nền, nếu đập cao giữa 5 và 15m và có hồ chứa hơn 3 triệu m3 nước thì cũng được xếp vào loại đập lớn. Như vậy hồ Tả Trạch với chiều cao  55m, dung tích  600 triệu m3, hồ Bình Điền với chiều cao  85m, dung tích  600 triệu m3, hồ Cổ Bi với chiều cao  50 ~ 60m, dung tích  300 ~ 500 triệu m3 nước đúng là thuộc loại rất lớn. Một đặc điểm quan trọng ở đây các hồ chứa rất gần thành phố Huế và các khu tập trung dân cư. Từ hồ Bình Điền về đến Huế khoảng 23 km, từ hồ Tả Trạch về đến Huế cũng khoảng 35 km. Điều này buộc chúng ta phải đặc biệt nghiên cứu rất nghiêm túc thêm các vấn đề sau:

1. Về tính ổn định của đập. Chúng ta không đặt vấn đề có sự cố như vỡ đập vì như vậy sẽ trở thành đại họa không thể tính được, mà phải tính với tần xuất bảo đảm rất cao. Tuy đã tính với lũ 0,5% và kiểm tra với lũ p= 0,1% (một ngàn năm xuất hiện một lần) nhưng rủi ro làm sao lường hết được, cho nên phải bố trí thêm một tràn sự cố (hồ Tả Trạch tràn sự cố có chiều dài 100m ở độ cao + 52m, hồ Bình Điền cũng phải bố trí hạng mục này).

2. Về sự diễn biến hạ du. Đập Bình Điền với cao trình đỉnh đập 87m, cao trình ngưỡng tràn ở 73m, từ cao trình 73m, với 1 lưu lượng tràn với p=0,5% là 6213,43 m3/s và khi với p=0,1% thì lưu lượng tràn qua đập là 7550,84 m3/s. Với khối lượng nước qua đập tràn đó, ở độ cao 73,0m cách lăng Minh Mạng khoảng 6km, cách Huế 23 km, thử hỏi việc gì sẽ xảy ra ở hạ lưu nói chung và thành phố Huế nói riêng. Lòng sông Hương sẽ thay đổi mãnh liệt vì 3 lý do: do động năng lớn của khối nước tràn, do sự thay đổi hàm lượng bùn cát trong nước trước, sau khi có hồ chứa, và do nhà máy nước thuỷ điện sẽ làm việc ở phần lưng của biểu đồ phụ tải điện, dẫn đến mực nước sông Hương trong mùa hè sẽ giao động rất lớn trong ngày. Các yếu tố đó cùng xảy ra làm cho hiện tượng xói lở hạ du trở nên rất phức tạp và có thể gây phương hại cho di sản Huế. Các nhà tư vấn phải tính toán, cả bằng mô hình vật lý, để xác định cho được diễn biến sau khi hình thành công trình. Chưa có được đáp số đó và các biện pháp ngăn chặn nó, chúng ta không thể xây dựng công trình. Nếu vội vàng bất cẩn, hậu quả khó lường.

3. Về xử lý mối quan hệ giữa các đối tác đang nghiên cứu trên hệ thống sông Hương, nhất là đối với JBIC:
Hoạt động trên lưu vực sông Hương hiện có nhiều đối tác trong và ngoài nước. Phía Nhật Bản đang cùng Bộ NN & PTNT chuẩn bị khẩn trương cho việc xây dựng công trình Tả Trạch, công trình đợt 1, quan trọng nhất trên hệ thống sông Hương, mà mục tiêu là giảm lụt cho Huế và hạ du. Các công ty của ngành điện đang tích cực để chuẩn bị xây dựng thuỷ điện Bình Điền và Cổ Bi, công việc cũng rất khẩn trương. Trong không khí nhộn nhịp đó, cần coi trọng thứ tự xây dựng các công trình mà Bộ NN & PTNT đã thoả thuận với Nhật Bản. Nếu có sự đảo ngược về thứ tự xây dựng sẽ dẫn đến hậu quả là các số liệu tính toán 2 năm qua của JBIC, nhất là diễn biến môi trường tự nhiên ở hạ du sẽ không còn ý nghĩa, có khả năng gây khó khăn cho việc chuẩn bị xây dựng Tả Trạch.

Xây dựng các hồ chứa lớn ở thượng nguồn sông Hương để khai thác tổng hợp nguồn nước là một vấn đề lớn, góp phần cực kỳ quan trọng cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh nhà, nhưng cực kỳ nhạy cảm về môi trường tự nhiên và xã hội. Giữ sao cho sông Hương vẫn mãi là con sông thơ mộng, hiền hòa, đẹp giữa lòng cố đô Huế là trách nhiệm của chúng ta và muôn đời mai sau.

HỒ NGỌC PHÚ
(182/04-04)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.

  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.