Những trang đời, trang văn

16:26 21/02/2023

LÊ XUÂN VIỆT

(Nhân đọc hồi ký "Âm vang thời chưa xa" của Xuân Hoàng. Nxb Văn học và Hội Văn nghệ Quảng Bình 1996)

Ảnh: tư liệu

Cầm cuốn sách in đẹp khá dày dặn trên tay, đọc với tâm trạng hào hứng từ những trang đời, trang văn của nhà thơ Xuân Hoàng, dù yêu thích nhưng tôi vẫn chưa dám viết những dòng nhận xét về tác phẩm này, nếu chỉ là độc giả chưa một lần hoặc ít nhất mới gặp gỡ nhà thơ qua đôi lúc bất chợt, tình cờ nào đó. May mà tôi đã có một khoảng thời gian sống cạnh nhà thơ từ sau ngày đất nước thống nhất. Tôi đọc hồi ký của Xuân Hoàng và từ trong sâu thẳm tâm hồn chợt nhớ lại ký ức được gặp ông lần đầu ngay tại trụ sở Hội Văn nghệ tỉnh. Có lẽ nhờ những ký ức ấy, tôi mới mạnh dạn đặt bút viết về “Âm vang thời chưa xa" - một tập hồi ký công phu và đầy tâm huyết, lắm trang đời, trang văn hay và sâu sắc, những kỷ niệm riêng chung thời thanh xuân của nhà thơ. Một nguyên nhân xa xôi nào đó nữa mà Xuân Hoàng đã động viên tôi rất tế nhị khi tôi đến thăm ông ở khách sạn 02 Lê Lợi đầu tháng mười này. Ông tiếp tôi với nụ cười rộng mở, đầm ấm. Nhà thơ đọc những bài thơ vừa sáng tác ở thành phố Hồ Chí Minh, ở Huế như thuở nào. Khi tiễn tôi ra về, chiều tối, mưa Huế rơi rả rích, Xuân Hoàng lặng lẽ tâm sự thêm: ''Mình có đọc bài viết của cậu về anh Mai Văn Tấn trên tạp chí Nhật Lệ số vừa rồi. Cậu viết ngắn, chân thật và giàu tình cảm với anh Tấn - một nhà văn trọn đời lo lắng cho đời và trang sách. Thú thật, mình mừng và tin rằng cậu đọc chắc sẽ hiểu hơn cuộc đời và những trang văn trong thơ mà mình đã sống và viết trong suốt nửa thế kỷ này".

Không biết có phải lời tâm sự thân tình của nhà thơ ở lứa tuổi “thất thập", đầu bạc phơ mái tóc với nụ cười khó quên ấy hay chính những ngày được sống gần gũi và làm văn chương cùng ông mà tôi bỗng dấy lên cảm hứng muốn viết một vài điều gì đó về tập hồi ký của nhà thơ. Chắc là cả hai lý do đó thì phải, vừa là quá khứ vừa là hiện tại cứ đan xen, thao thức, thúc giục tôi cầm bút và hãy viết. Với tâm trạng ấy, tôi không muốn bạn đọc coi bài này như những nhận xét phê bình một tác phẩm văn học mà chỉ mong sao được chia sẻ những cảm nhận ban đầu của một bạn đọc thông thường đến với cuộc đời và những trang văn, trang thơ của thi sĩ Xuân Hoàng.

Dễ chừng gần hai chục năm đã trôi qua, kể từ khi tôi được trực tiếp gặp nhà thơ lúc ông vừa từ “miền đất lửa" Quảng Bình vào Huế để hội nhập Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Tôi nhớ những ngày còn ăn thứ mì hạt mà dân vẫn gọi là “bo bo", cơm độn sắn khoai, "bo bo" đó. Thế mà đời sống tinh thần vẫn sôi nổi, hào hứng, sôi nổi là âm vang của ngày đất nước toàn thắng. Xuân Hoàng khi đó mới ngoài ngũ tuần, một trí thức, một nhà thơ yêu đời, yêu nghề, ham chơi thể thao, tính tình sôi nổi, vô tư. Tâm hồn ông đa sầu, đa cảm, lãng mạn, lạc quan giữa cuộc sống đời thường đầy bươn chải lúc bấy giờ. Thật là kỳ lạ, Huế với những vỉa hè ngút ngàn màu xanh khoai sắn, thành nội rêu phong, lác đác vài nhóm người đến thăm viếng, dạo chơi thì Xuân Hoàng chiều chiều vẫn tạt qua cơ quan để rủ tôi chơi bóng bàn. Như những vận động viên không chuyên khác, ông chỉ cầm vợt ra về sau khi đã hòa hoặc thắng đối phương cuộc chơi mới đến hồi kết thúc. Tôi yêu mến ông bằng những biểu hiện tình cảm giản dị, “dễ thương" như vậy, dù Xuân Hoàng ở bậc tuổi cha chú của tôi trong quan hệ xã hội. Đôi khi để hiểu thêm về cuộc sống gia đình nhà thơ, tôi gợi chuyện xa xôi, ông cười ha hả, trả lời một câu ngắn gọn và dí dỏm đọc ứng khẩu câu thơ: "Một đàn con gái lau nhau. Như bom nổ chậm nằm sau hiên nhà".

Bây giờ qua lời tâm sự với ông tôi được biết “đàn con gái lau nhau" đã trưởng thành, cả bốn cô đều tốt nghiệp đại học, hai cô là bác sĩ y khoa, một cô theo nghề văn, cô bé út làm báo đều sống làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, hai ông bà chiều theo ý các con vào sống cùng thành phố và chẳng hề phải lo "như bom nổ chậm, nằm sau hiên nhà" nữa vì ba cô chị đã có gia thất sống êm đẹp với chồng con, chỉ cô út sớm tối còn có điều kiện trực tiếp chăm nom, quan tâm đến vật chất, tinh thần của ba mẹ.

Lan man về nhà thơ Xuân Hoàng như vậy, thế nào cũng có bạn đọc trách tôi sao không viết thẳng nhận xét về tập hồi ký cho gọn có hơn không? Tôi đành chịu trách thôi vì tôi quan niệm rằng đọc hồi ký của các bậc cha chú, đàn anh, trước hết phải hiểu họ sống hiện tại ra sao và mới hiểu được những chuyện đã qua mà người kể đã từng chiêm nghiệm. Với Xuân Hoàng trang đời là những trang văn. Ông chân thật kể chuyện mình như vốn đã diễn ra trong cả quãng đời có vui buồn, khổ đau, mất mát, đôi khi những chi tiết không lấy gì làm "đắt" lắm trong văn chương nhưng quả là tác giả tránh được lối viết “thi vị", "đánh bóng", làm hào nhoáng quá khứ của đôi người nào đó viết hồi ký cho riêng mình, vì mình mà chúng ta đã từng đọc. Với vốn hiểu biết ít ỏi và kinh nghiệm giảng văn ở bậc đại học, tôi đọc nhiều hồi ký của các nhà văn, những nghệ sĩ danh tiếng, những vị tướng lĩnh tài năng, những nhà ngoại giao thông minh sắc sảo nhưng thú thật tôi còn nhớ không lấy gì nhiều lắm về những trang hồi ký ấy. Có lẽ, do thời gian có sức "nhiệm màu" làm cho trí nhớ con người lắm nhớ, nhiều quên là lẽ thường tình. Khi đọc hồi ký của bất cứ ai, tôi thường yêu thích và có thói quen rất chú ý đến sự chân thực của trang văn, lời tự bạch của tác giả về số phận của một con người trong xã hội, trong thời đại mà họ đã sống hiện hữu như một người bình thường.

Đọc hồi ký của Xuân Hoàng, điều tôi quan tâm nhiều nhất là tâm sự của ông với bạn đọc ngay trang đầu: "... Với tư cách của một người làm thơ, tôi chỉ xin kể lại những điều tai nghe, mắt thấy, những cảm nhận và suy tưởng rút ra được trong thời đang sống có kiểm nghiệm và phê phán. Sự trung thực với chính mình cũng không phải dễ dàng. Đây là những cố gắng vượt lên của một tấm lòng muốn hướng về cái đẹp qua âm vang lắng đọng của "một thời chưa xa"."

Suy nghĩ từ hơn bảy trăm trang hồi ký, tôi rút ra một nhận xét nho nhỏ: tác giả đã nói là làm, là viết và trang viết như tấm lòng của ông đối với bạn đọc xa gần. Ở thời buổi cuộc sống đang cuốn theo cơn lốc kinh tế thị trường dù Huế một thành phố yên tĩnh, mơ màng như thời "sương khói mờ nhân ảnh" mà thi sĩ Hàn Mạc Tử cảm nhận thời xa xưa, để có được ngày giờ, phút giây lặng lẽ trầm lắng đọc hồi ký của nhà thơ thì tác phẩm ấy có sức hấp dẫn, cuốn hút nào đó. Sức sống những trang hồi ký của Xuân Hoàng do nhiều yếu tố tạo nên nhưng trước hết là sự trung thực trong sáng mà tác giả say mê, hào hứng, trầm buồn kể với bạn đọc. Nói cho khách quan đọc các tập hồi ký văn học của Nguyễn Công Hoan và Tô Hoài - hai nhà văn Việt Nam mà tôi yêu thích và mến mộ - "Đời viết văn của tôi", "Cát bụi chân ai", người đọc hiểu được nhiều, nhiều lắm về văn chương và cuộc sống. "Âm Vang thời chưa xa", Xuân Hoàng có cách thể hiện khác, không giống như hai nhà văn nổi tiếng, bậc đàn anh trên. Hồi ký chỉ tập trung viết về những số phận những mảnh đời ở một vùng đất, một thời gian hạn hẹp có sự dồn nén chọn lọc. Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong hồi ký tuy không dài, không rộng nhưng tác giả cũng khá ngợp trước những kỷ niệm, chi tiết bộn bề của hiện thực. Vì thế cũng dễ hiểu khi đọc tác phẩm, chúng ta thấy đôi chỗ bị dàn trải, lặp lại chi tiết, hình ảnh, sự kiện mà nhà thơ không làm chủ được lúc kể và viết trên trang giấy. Thời gian nghệ thuật của hồi ký bao quát từ những năm ba mươi đến kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngòi bút Xuân Hoàng biểu hiện thời gian nghệ thuật có sức thuyết phục, đa dạng xen kẽ quá khứ, hiện tại, dự cảm tương lai, dĩ nhiên quá khứ bao giờ cũng chiếm phần quan trọng hơn cả. Cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định, nhà thơ thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật của mình trước dung lượng lớn của hiện thực. Trong thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật bộc lộ qua những trang văn hay và tinh tế. Với số lượng trang viết khá dài, thời gian nghệ thuật trong “Âm vang thời chưa xa" thường nghiêng về xu hướng miêu tả chi tiết nên thời gian trôi chậm. Việc làm chủ tư liệu, chọn lọc, xử lý các sự kiện, con người, giải quyết mối quan hệ khăng khít, gắn bó giữa thời gian nghệ thuật với không gian nghệ thuật... là thử thách khá nghiệt ngã đối với tài năng của người nghệ sĩ viết hồi ký nói riêng, tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung. Cùng với thời gian nghệ thuật ấy, một không gian nghệ thuật khá sinh động khiến hồi ký có sức vang xa, thấm sâu trong tâm tưởng bạn đọc. Thật khó quên những trang Xuân Hoàng viết về Cố đô Huế cách đây hơn sáu chục năm, về thị xã Đồng Hới với những địa danh như xóm Câu, cầu Dài, ga Thuận Lý, ngọn hải đăng trên cửa biển Nhật Lệ, Bàu Tró đầy nước ngọt và cây xanh quanh bờ, tháp nước cùng tiếng chuông Tam Tòa ở giữa lòng thị xã. Không gian nghệ thuật vừa động vừa tĩnh qua bao biến đổi thăng trầm của lịch sử.

Hồi ký của Xuân Hoàng nổi bật thế giới nhân vật đông đảo, đa dạng. Thế giới nhân vật phải kể đến từ ông bà, họ nội, họ ngoại, thầy dạy học, bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp, những bậc tiền bối, những nhà yêu nước, những chiến sĩ cách mạng, những con người quen thân thuở thiếu thời đến khi trưởng thành, Xuân Hoàng đều kể lại, miêu tả với những trang thấm đẫm tình cảm nồng hậu. Phải chăng chính những con người gần gũi, thân quen gắn bó ấy là ngọn lửa, là chất men say trong những trang thơ của thi sĩ mấy chục năm qua.

Đọc hồi ký của Xuân Hoàng, tôi chợt nhớ lại câu thơ của đại thi hào dân tộc: “...Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài". Vâng! Chữ tâm trong cuộc đời và tác phẩm của nhà thơ như những sợi tơ lòng nối liền giữa cá tính sáng tạo của thi sĩ với đông đảo người đọc. Những cảnh đời, trang viết về mối quan hệ đồng loại, về tình yêu, tình bạn, nghĩa vợ chồng, anh em được tác giả kể lại bằng một bút pháp riêng vừa mộc mạc vừa mang nét khái quát, cụ thể của phong cách nghệ thuật hiện đại.

Dừng lại ở trang cuối cùng tập hồi ký, tôi cứ nhớ hoài lời cầu mong thành tâm của nhà thơ: "Mình chỉ mong sao còn khỏe mạnh để viết cho xong tập hai của “Âm vang thời chưa xa". Chắc cũng vài ba năm nữa đấy cậu ạ".

Tiễn ông đi trại sáng tác văn học ở Đà Lạt sắp tới, trong tôi xáo động niềm vui và nỗi buồn khôn tả, lẫn lộn giữa hy vọng, chờ mong và lo lắng. Hy vọng chờ mong ông sẽ có những trang hồi ký "hay hơn nữa" viết về thời kỳ hòa bình sau 1954, những năm kháng chiến chống Mỹ quyết liệt, anh hùng và cũng đáng quan tâm hơn là những yếu tố nào tạo nên chất thơ trong chặng đường nghệ thuật của thi sĩ. Lo lắng, bồn chồn vì sức khỏe của Xuân Hoàng đang phải chống chọi với bệnh tật và tuổi tác khiến ông đi đâu xa cũng phải kèm theo túi thuốc mà bà vợ luôn nhắc nhà thơ phải cẩn trọng, giữ gìn. Tính ông vẫn vậy, viết văn, làm thơ là dễ "quên hết lời em dặn dò". Âu đó cũng là nét riêng tạo cho tác phẩm của Xuân Hoàng có sức âm vang của thời chưa xa và đương đại mà nhà thơ gửi gắm cho Đời.

Huế, 10-1996
L.X.V.
(TCSH94/12-1996)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO        (Đọc tập thơ ''Độc thoại trước mặt trời'' của Trần Lan Vinh- NXB Văn học Hà Nội- 2003)Trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại, sự thiếu vắng những cây bút nữ đã trở thành một vấn đề cần được chú trọng. Hầu như mỗi khi phụ nữ cầm bút, điều họ quan tâm nhất đó là sự giải bày tâm sự với ngàn ngàn nỗi niềm trắc ẩn. Nếu viết là một cách để sẻ chia tâm sự thì Trần Lan Vinh là một trường hợp như thế.

  • NGUYỄN THANH TÚMùa đông năm ngoái, anh Đoàn Tuấn từ Hà Nội vào Huế giảng dạy lớp đạo diễn điện ảnh. Dù công việc khá bận rộn nhưng anh vẫn dành cho tôi không ít thời gian tâm sự, bởi ngoài tình cảm thân thiết anh còn là cấp trên của tôi ở toà soạn tạp chí Thế Giới Điện Ảnh. Trong những lần trò chuyện ấy, tôi thật sự bất ngờ khi nghe anh kể chuyện về cuốn sách anh sắp in ở Nhà xuất bản Trẻ mà nội dung của nó là câu hỏi hơn 20 năm nay vẫn luôn canh cánh trong tôi. Vốn dĩ Đoàn Tuấn là nhà biên kịch điện ảnh tên tuổi, anh đã có nhiều kịch bản phim nổi tiếng như: Chiếc chìa khoá vàng (1998), Ngõ đàn bà (1992), Đường thư (2003)...

  • MAI VĂN HOANNguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một phong cách riêng. Qua các tập Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007) ta bắt gặp những suy ngẫm của anh đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm của anh về đời sống xã hội, nhân tình thế thái. Những chiêm nghiệm và suy ngẫm đó được thể hiện bằng một giọng thơ trầm tĩnh, bình dị, sâu lắng và khá hiện đại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ       (Đọc Nỗi niềm để ngỏ của Lê Lâm Ứng - Nhà xuất bản Văn học 2002)Đọc thơ Lê Lâm Ứng để tìm những câu mượt mà thì hơi khó. Thảng hoặc lắm mới bắt gặp ở anh tâm trạng thư thái này:                Biết rằng trong cõi nhớ thương                Lạc nhau âu cũng lẽ thường vậy thôi

  • MAI VĂN HOANNguyễn Đắc Xuân không chỉ có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam mà anh còn là hội viên Hội Lịch sử Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam... Nhưng dù ở cương vị nào thì điều mà anh tâm huyết nhất vẫn là lịch sử và văn hóa Huế.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG   (Nhân đọc sách "Gió về Tùng Môn Trang" của Nguyễn Xuân Dũng)Tác giả cuốn sách này là một võ sư đệ bát đẳng huyền đai thuộc phái không thủ đạo, vừa là một nhà hoạt động thương trường nổi tiếng ở Mỹ. Nhưng cuốn sách này không hề bàn đến chuyện đấm đá hơn kém hoặc là chuyện mua bán lời lỗ mà bàn về cái TÂM. Tác giả tỏ ra hết sức chú trọng vũ đạo; nhất cử nhất động đều phải xuất phát từ cái TÂM, cái TÂM viết hoa.

  • TRẦN THUỲ MAI            (Đọc Uẩn khúc, tiểu thuyết của Hoàng Văn Bàng, NXB Thuận Hoá 2002)Câu chuyện xảy ra ở một vùng quê không xa lắm, với một tầm mức tai hại không lớn, gây một ảnh hưởng mới xem qua tưởng chừng không đáng kể. Một ông trưởng phòng ở huyện tham ô vài chục triệu thì đã thấm gì so với những câu chuyện động trời hàng ngày trên các báo, mà thủ phạm mang những chức tước lớn lao hơn, với những số tiền khổng lồ tới hàng nghìn tỉ!

  • MAI VĂN HOAN         (Giới thiệu các tác giả thuộc chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế)Ngô Minh là một trong những nhà văn Việt Nam ở Huế được Đài truyền hình Cáp Việt Nam chọn giới thiệu tới 45 phút trong chương trình “Người của công chúng”. Tôi cũng được mời nói đôi lời về anh. Với tôi, Ngô Minh là người làm việc “tới số” và chơi cũng... “tới số”!

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNCùng một kiếp bên trời lận đận                  (Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa cho ra mắt tác phẩm Rừng xưa xanh lá (Mười chân dung văn nghệ sĩ) tại Nhà xuất bản Hải Phòng (1/2003).

  • TÔ VĨNH HÀNhững trang viết sau cùng của một con người luôn luôn là điều thiêng liêng và không bao giờ hết bí ẩn. Vì sao lại dùng từ ấy chứ không phải là chữ kia; đề cập đến cái này chứ không phải là cái khác..? Rất nhiều câu hỏi sẽ đến với người đọc khi trước mắt ta là những ý tưởng hiện hữu sau cùng của một đời người - đặc biệt ở con người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là cái tên mà mỗi người Việt lúc đọc hay nói, không chỉ diễn đạt một quan niệm gần như vô hạn của nhận thức, mà hơn nhiều thế nữa - là âm sắc tuyệt vời của sự kết tụ những tinh hoa quý giá nhất của trái tim mình.

  • NGUYỄN TỐNGQuê hương đất nước và con người luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau trong suốt chiều dày của lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó tự nhiên chan hoà đến mức như cá bơi quẫy giữa đại dương, chim tung cánh vô tư giữa bầu trời bát ngát. Đến lúc nào đó, khi con người rơi vào cảnh cá chậu chim lồng, tình cảm, ý thức về đất nước thiêng liêng mới trở nên ám ảnh day dứt.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ           (Đọc “Thân Trọng Một – con người huyền thoại” của Nguyễn Quang Hà)Đã từ lâu, tên tuổi anh hùng Thân Trọng Một trở nên thân quen với mọi người, nhất là với quân dân Thừa Thiên Huế; những “sự tích” về ông đã thành truyện “truyền kỳ” trong dân chúng và đã được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, với “THÂN TRỌNG MỘT – CON NGƯỜI HUYỀN THOẠI”, lần đầu tiên, chân dung và những chiến công của ông đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động nhất.

  • Nhà văn Nguyễn Quang Hà tâm sự với tôi rằng anh có hai món nợ rất lớn mà chắc đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng không thể nào trả xong. Hai món nợ mà anh đang gánh trên đôi vai của mình là món nợ đối với nhân dân và món nợ đối với đồng đội. Gần bốn mươi năm cầm bút, anh đã viết 9 tập tiểu thuyết; 7 tập truyện ngắn, ký, truyện ký; 2 tập thơ cùng với hàng trăm bài báo cũng chỉ mong sao trả được hai món nợ ấy.

  • XUÂN CANGNhờ cuốn hồi ký nhỏ Ngày ấy Trường Sơn (Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 2000) của Nguyễn Khoa Như Ý- tên khai sinh của Hà Khánh Linh, bạn đọc được biết đây là một nhà văn nữ có khí chất không bình thường. Một người con gái mảnh dẻ, nhưng có chí, mơ mộng, ham hành động, vì nghĩa lớn mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.

  • Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.

  • HUỲNH HẠ NGUYÊN         (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...

  • LÊ MỸ Ý (L.M.Y):  Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.

  • Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.

  • NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".