Những số Sông Hương đầu tiên

15:37 17/07/2008
NGUYỄN KHOA ĐIỀM(TBT: 1983 - 1986)Bây giờ nhìn lại những số Sông Hương đầu tiên (số 1 ra mắt tháng 6-1983) không khỏi cảm thấy tờ tạp chí như một… cô gái quê, giản dị, khiêm nhường, có vẻ… tồi tội. Giấy đen. Bìa mỏng. Bát chữ typo chỗ đậm chỗ nhạt. Sông Hương làm sang cho in ảnh tác giả, khốn nỗi, ảnh loè nhoè, không rõ mặt. Giá bao cấp 7 đồng/số, vẫn bị chê đắt. Được cái lượng bản in ngay số đầu là 4.000 bản. Trông khí sắc cuốn tạp chí vẫn chưa xa cái thời tranh đấu chống Mỹ, in sách báo trong gác trọ sinh viên.

Ấy thế mà bao nhiêu anh chị em văn nghệ ngày ngày lui tới trụ sở Hội hỏi han chờ đợi, kể cả các bậc trí thức, anh đạp xích lô, chị nội trợ trong những ngôi nhà kín cổng cao tường xứ Huế: Bao giờ Sông Hương ra? Nó quả là đứa con của mang nặng đẻ đau, chứa đựng bao khát khao của một vùng đất văn hoá mong muốn mặc lại chiếc áo gấm hoa từ lâu phải xếp lại. Còn nhớ những ngày đó, anh Xuân Hoàng - người chủ trì công việc Hội hạ bút ký công văn xin ra tạp chí từ cuối năm 1980 mà mãi hai năm sau Tỉnh uỷ Bình Trị Thiên, sau khi thăm dò, cân nhắc mới có văn bản chính thức đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương cho ra tạp chí với định kỳ hai tháng một số. Ba tháng sau thì giấy phép chuyển về, kết thúc một thời chìm lắng của sinh hoạt văn nghệ tỉnh nhà.
Để đón giấy phép, một năm trước đó, những người chủ trì đã phải chuẩn bị không biết bao nhiêu việc. Thảo luận, tranh cãi về đường hướng tờ tạp chí, quan niệm biên tập, định hướng độc giả, phong cách trình bày, địa bàn lưu hành, cho đến hình thức thiết kế mỹ thuật, xây dựng chuyên mục… Cuối cùng là tên tạp chí, bộ máy biên tập. Nhất nhất việc gì cũng trao đổi, mổ xẻ, trong phòng họp, ngoài quán cà phê Liễu Quán, trong bàn nhậu tay ba, tay tư. Cứ sôi sùng sục, cứ như là một cuộc “đại cách mạng văn hoá” đến nơi.
Mong muốn của anh chị em là có một tờ tạp chí cho “ra môn ra khoai”. Tạp chí ra tạp chí. Đừng trở lại cái nội san “Văn nghệ Bình Trị Thiên” một thời, một thứ ấn phẩm cho thì không tiện, bán thì không ai mua, in ấn dễ dãi, chẳng khác gì một tài liệu tuyên truyền giải thích chính sách.
Ngoài trang bài văn chương nghệ thuật quen thuộc, anh chị em đều mong muốn tạp chí này phải chứa đựng sức nặng văn hoá vốn là kho gia bảo người xưa đã để lại cho con cháu trên mảnh đất này.
Muốn có một tờ tạp chí có “dáng vóc” nhất định lại phải mở rộng liên kết với bạn bè cả nước, phải thu hút bài vở từ phương xa. Lập tức phải tổ chức các đoàn ra Bắc vào Nam, gặp mặt, trình bày chủ trương ra tạp chí, xin sự cộng tác bài vở và phát hành từ các kho nhân tài Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Riêng cái tên tạp chí cũng thảo luận vui đáo để. Phú Xuân chăng? Phú Xuân thì già quá! Đất Nước chăng? Đất Nước thì mông lung quá! Hay Miền Trung, Ngôi Sao, Sông Hương?... Cuối cùng thì Sông Hương được chọn.
Mọi người đều tâm niệm tạp chí lần này chất lượng phải đặt lên hàng đầu, bài vở phải hay, phải mới. Tạp chí có hay, có mới thì mới có ý nghĩa động viên sáng tác, thúc giục mọi người nâng cao nghề nghiệp. Nhưng hay, mới cũng lắm phong cách, giọng điệu, làm sao để có hay, mới mà trong ấm ngoài êm, đoàn kết một nhà văn nghệ, đó mới thật khó. Trong ngôi nhà văn nghệ Bình Trị Thiên có anh chị phía Bắc có sức sáng tạo bền chắc, tâm huyết, còn anh chị em ở phía Nam thì nhạy cảm, mới mẻ, làm sao phối hợp thật khéo để tạo nên một bức tranh phong phú, đa giọng điệu, sẽ làm cho Sông Hương đẹp lên, thay vì rối ren, vẩn đục. Những điều ấy khó có một nguyên tắc nào ấn định cả mà phải xuất phát từ sự công tâm, chân thành, yêu mến đồng nghiệp và phải được xem xét cẩn thận từng bản thảo một. May mắn là Sông Hương có một đội ngũ biên tập xứng đáng.
Hoạ sĩ Bửu Chỉ cố gắng hết sức cho tạp chí có được bộ mặt khả ái, không ít lần anh phải vò đầu bứt tai bới từng con chữ chì để tìm một “co” chữ thích hợp, để “can” lại từng khuôn hình, đường nét trên bàn in quá thô sơ. Anh đã thuyết phục được ban biên tập, kể cả độc giả về cách dàn dựng trang bìa, với khuôn hình đơn giản nhưng hiện đại, với hai chữ Sông Hương như lồng bóng vào nhau, một vi-nhét con chim phượng hoàng như dấu tích dĩ vãng được cách điệu hoá. Trên số ra mắt của tạp chí những cái tên quen thuộc của người đọc cả nước đã được giới thiệu: Tô Nhuận Vỹ, Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Hữu Đính, Phan Thuận An, Hoàng Phủ Ngọc Tường… Sông Hương giữ trọn sắc thái đó trong nhiều năm đầu.
Nhiều biên tập viên của tạp chí hẳn sẽ giữ mãi ấn tượng không bao giờ quên về ngày đầu ra mắt tạp chí. Chúng tôi bỏ tạp chí lên chiếc xe jeep và đi rao bán ngoài đường phố của Huế. Khi xe dừng trước chợ Đông Ba, chị em tiểu thương trong chợ đổ ra mua tạp chí vì nghe rao có bài thơ tình cuối cùng của nhà thơ Thanh Hải lần đầu được in ra và phóng sự mới về chợ Đông Ba. Cuộc “xuống đường” lần đó đã tiêu thụ được 1.000 bản. Gần 2.000 bản tạp chí được cấp tốc đưa bằng xe lửa vào thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng những đại diện trong đó yêu cầu đưa thêm 1.000 bản nữa. Chúng tôi đành bấm bụng chịu. Nhà nước chỉ cấp giấy in để được in 3.000 bản, in lên 4.000 là quá liều rồi, lấy đâu ra giấy mà in?
Cứ nhớ lại ngày đó là không thể quên hình dáng tất bật của Nguyễn Khắc Phê, Phó Tổng biên tập vừa nội dung vừa tay hòm chìa khoá, vào ra liên tục trong căn phòng 20 mét vuông của toà soạn, tay cầm kính, tay cầm bản thảo, chẳng khác nào ông chủ nhiệm hợp tác xã kỹ lưỡng với từng con chữ. Nhớ Thái Ngọc San cao lều khều, thoắt ẩn thoắt hiện, giữ quan hệ rất khéo với giới trí thức thành phố, nghe được nhiều dư luận, chính anh là người đề xuất “Trang viết đầu tay” và thường xuyên giữ mục “Toà soạn và bạn đọc”, với cái giọng vui vui, chân tình của anh nhiều lúc đã cứu cho toà soạn những bàn thua trông thấy. Tôi còn nhớ cây bút mở màn cho “Trang viết đầu tay” là Trần Thị Huyền Trang, sinh viên Đại học Tổng hợp Huế, mà chỉ mấy năm sau đã trở thành một cây bút nữ được cả nước biết đến.
Để một tạp chí có thể lưu thông trên thị trường, thoát khỏi số phận tập san nội bộ, vai trò trị sự thật quan trọng. Tôi muốn nói đến Võ Mạnh Lập, người phụ trách trị sự của Sông Hương lúc đó. Anh có biệt tài đĩnh đạc, ung dung xử lý những chuyện nợ nần, dôi dư chung quanh việc in ấn, phát hành “đâu vào đấy” để cho chúng tôi có thể chuyên tâm theo đuổi chữ nghĩa.
Số ra mắt trình làng rồi thì niềm vui, nỗi lo cứ theo đó kéo về, thêm một số mới là thêm một thử thách, chẳng có số báo nào là trấn an cho số báo nào. Thường xuyên chờ đợi bài vở, chờ đợi dư luận, thường xuyên cố gắng. Niềm vui lớn nhất là dựng được tác giả mới, phong cách sáng tạo mới. Tôi muốn nói đến Nguyễn Quang Lập. Anh xuất hiện lần đầu trên Sông Hương là một bài thơ, liền đó là truyện ngắn “Người lính hay nói trạng”, rồi “Tiếng lục lạc”. Nhà văn trẻ lập tức già dặn ngay trên trang viết, với phong cách kể chuyện rất “lính”, mạnh mẽ và xúc cảm. Những ngày đó ở trụ sở Hội, ở toà soạn bừng lên một không khí rất lạ, tất cả chúng tôi như nhận được quà. Niềm vui cũng thật lớn khi từ Nghĩa Bình, Thanh Thảo ném về Sông Hương những trường ca mới của anh với sức nặng của ngọn Ấn sơn quê anh đó là “Đêm trên cát” viết về Cao Bá Quát, “Khối vuông ru-bích” và “Hà Nội nhìn từ mắt tôi”. Những trường ca đó đến bây giờ còn là niềm tự hào của người biên tập. Rồi từng bước, những nhà văn hoá cả nước, những cây bút lý luận phê bình đã chọn Sông Hương làm trường văn trận bút. Tôi nhớ ngày đầu khi tạp chí có được loạt bài của học giả Phan Ngọc “Suy nghĩ về thể loại thơ song thất lục bát”, “Nguyễn Du, nhà phân tích tâm lý” thì mỗi biên tập viên chúng tôi đều vui sướng như có khách quý đến chơi nhà…
Ngày nay nhiều người từng đến với Sông Hương ngày đầu không còn nữa. Làm sao quên được các bác, các anh: Nguyễn Hữu Đính, Xuân Hoàng, Thanh Hải, Trần Hoàn, Lê Xuân Việt, Bửu Chỉ, Văn Lang, Phạm Đăng Trí, Thái Ngọc San, Trịnh Xuân An, Hải Bằng, Lương An, Mai Văn Tấn… và biết bao bạn bè đồng nghiệp trong cả nước đã sống với Sông Hương, chia xẻ buồn vui với Sông Hương, cứ như hình bóng đó, ân tình đó in bóng mãi trên dòng sông xanh biếc qua năm tháng.

Ngày 13.6.2008

N.K.Đ
(nguồn: TCSH số 233 - 07 - 2008)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TÔ HOÀNGBạn chắc không thể không biết đến đến hai tên tuổi này: Brigitte Bardot và Francoise Sagan. Vẫn mãi còn đó những hình tượng khó quên mà Brigitte Bardot dành cho màn ảnh, những trang sách khó quên mà Francoise Sagan dành cho văn học. Hai người sinh ra cùng thời, nhưng với tháng Chín năm 2004 này nếu chúng ta chúc mừng Brigitte tròn 70 tuổi, thì lại đau đớn, nuối tiếc vĩnh biệt Francoise Sagan ra đi ở tuổi 69...

  • Cuộc đời và sự nghiệp của Văn Cao luôn là những bí ẩn đối với hậu thế. Ai sẽ là người dựng lên được một Văn Cao - một trong những tượng đài của dân tộc Việt Nam thế kỷ 20, nhưng cũng là một con người của cuộc đời thực với những vui buồn, đớn đau, hạnh phúc...?

  • NGUYỄN KHẮC PHÊLần này, tác giả bộ trường thiên tiểu thuyết viết về thời Tây Sơn - Nguyễn Huệ "Sông Côn mùa lũ" (SCML) trở lại thăm nơi vua Quang Trung lên ngôi khi Huế vừa sang thu. Nước sông Hương do những trận mưa đầu mùa trên đại ngàn cuốn đất bùn con đường lớn Trường Sơn vừa xẻ rộng tràn về, không còn trong xanh như dịp ông về thăm Huế mùa hè hai năm trước, nhưng Cố đô qua hai kỳ Festival, nhiều khu phố được tôn tạo, khang trang hơn nhiều. (*)

  • VĂN THAOTháng 10-1944, nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác bài hát Tiến quân ca trên một căn gác nhỏ tại số nhà 45 phố Nguyễn Thượng Hiền. Căn gác này cũng là nơi Văn Cao đã sống và hoạt động cách mạng từ năm 1944 đến ngày toàn quốc kháng chiến 22-12-1946. Đội danh dự Việt Minh do Văn Cao phụ trách cũng từ đây toả đi làm nhiệm vụ. Nhiều cán bộ cao cấp của Đảng như các đồng chí Vũ Quý, Lê Quang Đạo, Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Thành Lê... cũng đã thường xuyên dùng địa điểm này để hoạt động trong những năm đầu cách mạng. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của Văn Cao như: Bài thơ Chiếc xe gác qua phường Dạ Lạc; các ca khúc Chiến sĩ Việt Nam, Công nhân Việt Nam, Không quân Việt Nam, Hải quân Việt Nam đã ra đời tại đây.

  • VĨNH NGUYÊNHội VHNT Thừa Thiên Huế chủ trương đưa văn nghệ sĩ về bám sát thực tế địa phương, vùng sâu vùng xa, nên những năm gần đây đã liên tục mở trại sáng tác ở các huyện trong tỉnh. Các năm trước là Quảng Điền, Phú Vang, Hương Thuỷ và năm 2004 này là Phú Lộc.

  • PHAN THÀNH TRUNGMột ngày đẹp trời. Lễ mừng thọ cụ Nguyễn Hữu Đang 80 tuổi được tổ chức vui vẻ, trân trọng tại Chòi ngắm sóng Hồ Tây, đúng vào ngày kỷ niệm Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 năm 1992. Với danh nghĩa là em kết nghĩa của cụ Đang, Phùng Cung và Phùng Quán đã đứng ra tổ chức lễ thọ này. Hai nhà thơ vốn quen tính vui đùa dí dỏm đã gọi hóm là “Mừng sống dai”...

  • “Cụ Hồ Chí Minh được nhân dân rất quý mến. Tên cụ có nghĩa là “sáng suốt”. Cụ là một nhà chính trị xuất chúng, một nhà chiến lược Cách mạng, một người yêu nước nồng nàn. Cụ đã nêu gương chính nghĩa và đạo đức cho thế hệ thanh niên noi theo” (Nhà báo Mỹ - Starôbin)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊNếu không có nghị lực hơn người, nhà giáo ưu tú - nhà nghiên cứu Văn Tâm đã bước sang thế giới khác từ 7- 8 năm trước rồi, sau cơn tai biến mạch máu não “thập tử nhất sinh”. Nhờ kiên trì tập luyện và đủ thứ thuốc men, từ bên “cửa tử”, dần dần anh đã “phục sinh” và với cây gậy ngắn để có thể tự đi lại trong nhà khi cần lục tìm tư liệu, cây bút nghiên cứu phê bình cẩn trọng mà không thiếu sự sắc sảo Văn Tâm đã cống hiến cho nền văn học chúng ta những tác phẩm dày dặn và thật sự có chất lượng: “Đoàn Phú Tứ - con người và tác phẩm” (1995, tái bản 2002), “Vườn khuya một mình” (2001), “Tản Đà khối mâu thuẫn lớn” (2003 - Tái bản, bổ sung). Một số bài nghiên cứu gần đây của anh về nhà văn Phùng Quán và nhà thơ Bằng Việt đăng trên “Sông Hương” cũng rất công phu, đồng thời vẫn thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận vẻ đẹp của văn chương.

  •        (Trích) Lê Mỹ Ý: Thưa ông, đã từng là "Người đi tìm mặt " trong thơ, đến bây giờ ông đã tìm được khuôn mặt của mình chưa?Hoàng Hưng: Tôi thấy rằng cái mặt của tôi, bản thân cái mặt đó nó cũng không phải là một cái mặt và cũng không phải là bất biến qua thời gian, ngay cả trong từng lúc nó cũng không chỉ là một cái mặt mà nó có đến vài cái mặt. Qua thời gian lại càng có sự diễn biến. Việc đi tìm cái mặt của bản thân thực ra có những người không bao giờ thấy cả, tức là không biết mình như thế nào.

  • Tháng 4 năm 1988, khi đang chữa bệnh ở chùa Pháp Hoa (Đồng Nai), trong một bức thư gửi bạn, nhà văn Nguyễn Minh Châu tâm sự rằng ông vẫn thèm viết tiếp một bài về vấn đề “Nhà văn và sự nghiệp dân chủ hóa đất nước” Nhưng rồi bệnh ngày càng nặng khiến ông cho đến khi qua đời đã không thực hiện xong dự định. Tuy vậy đồng nghiệp và bạn đọc vẫn may mắn được biết ý kiến căn bản của ông về vấn đề này.

  • VÕ THỊ QUỲNHĐến Hội Văn nghệ một chiều xuân Giáp Thân, tết còn đỏ hạt dưa, còn thắm mai vàng, còn hồng hoa đào và còn lủng lẳng tròn trịa những quả quất trĩu cành - chúng tôi tưởng nhớ anh - nhà thơ luôn dịu dàng, luôn hiền hoà: XUÂN HOÀNG. Bao kỷ niệm một thời nhà thơ sống gắn bó sáng tạo với Bình Trị Thiên, với Huế lại ùa về trong lòng những người đến thắp hương kính viếng hương hồn anh - chiều nay...

  • VÕ QUÊNhững ngày đầu xuân Giáp Thân, giới văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế vô cùng thương tiếc khi nghe tin nhà thơ Xuân Hoàng đã từ trần vào ngày mồng 3 Tết (24.1.2004) tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sự ra đi của nhà thơ Xuân Hoàng là một tổn thất lớn đối với phong trào văn học của khu vực Bình Trị Thiên ruột thịt và của cả nước.

  • HỒ THẾ HÀ Ngày thơ Việt Nam chính thức được mang tên, đến nay, đã tròn một năm. Một năm là khoảng thời gian rất ngắn, nhưng trong ý nghĩ và dự cảm của mọi người suốt dòng chảy văn hoá, để thi ca trở thành hiện thực như hôm nay là một quá trình trải nghiệm của lịch sử và truyền thống lâu dài của dân tộc Việt Nam-một dân tộc yêu thi ca, có tiềm năng, trữ lượng và những giá trị thi ca không bao giờ vơi cạn.

  • PV: Là một nhà văn nổi tiếng với những tập truyện ngắn Người sông Hương, Làng thức... và các tiểu thuyết Ngoại ô, Dòng sông phẳng lặng (3 tập), Phía ấy là chân trời... những đứa con tinh thần của anh ra đời gần như tập trung liên tục trong khoảng hơn mười năm (trước và sau 1975). Trừ một số bài viết ngắn đăng ở báo và tạp chí, nếu tôi không nhầm thì, tác phẩm gần đây nhất của anh, tiểu thuyết Phía ấy là chân trời, hình như xuất bản từ năm 1988? Tại sao anh "dừng lại" đột ngột và lâu như vậy?Tô Nhuận Vỹ (TNV): Với lý do gì đi nữa thì việc "tịt đẻ" lâu như vậy cũng là chuyện chẳng hay gì đối với một nhà văn. Trong thời gian tôi "tạm dừng" đó, nhiều tác giả bạn bè tôi đã lao động miệt mài, "đẻ" hàng chục "đứa con tinh thần" rồi đó.

  • NGUYỄN ĐÌNH SÁNGNăm 1975, lần đầu tiên tôi gặp nhạc sỹ Trần Hoàn tại Hà Nội. Lúc đó, tôi đang an dưỡng tại Ban thống nhất Trung ương và có ý định xin về Huế công tác. Nhà thơ Cù Huy Cận Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin lúc bấy giờ đã bảo tôi đến gặp nhạc sỹ Trần Hoàn để trình bày nguyện vọng. Anh tiếp tôi với một ngôn ngữ hết sức dân dã, mang đậm chất miền trung. Anh hỏi: “Mi quê mô?” Tôi thưa cùng anh: “Em người Quảng Trị.” Anh hỏi tiếp: “Rứa mi học cái chi?” Tôi thưa: “Em học thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội.” Anh nheo mắt cười và trả lời: “Đồng ý! Lên Bộ Văn hoá làm quyết định rồi về công tác. Trong miềng chừ nhiều việc lắm...”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOTôi biết nhạc sĩ Trần Hoàn vĩnh biệt cõi trần vào lúc 5 giờ 6 phút ngày 23 tháng 11 tại bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội, nhờ cú điện thoại của một nhà báo gọi đến đặt bài. Đã mấy hôm nay biết ông hôn mê sâu, khó qua khỏi mệnh trời, nhưng khi nghe tin ông qua đời, tôi vẫn chưa tin là ông đã mất.

  • NGUYỄN TUYẾN TRUNGLâu rồi tôi mới có dịp đến thăm nhạc sĩ Mai Xuân Hoà và cô giáo Nguyễn Thị Hồng - hai vợ chồng đều đã nghỉ hưu, vẫn ở tại số nhà 71 đường Bến Nghé thành phố Huế.

  • HỮU THUTrong suốt ba nhiệm kỳ đảm đương cương vị Bí thư Tỉnh uỷ, với anh chị em làm báo, chú Vũ Thắng thường dành cho những ưu ái, đó là có thể gặp gỡ vào bất cứ lúc nào, dù ở cơ quan hay nhà riêng. Do vậy mà ngôi nhà cũ ở đường Mai Thúc Loan quá đỗi thân thiết với nhiều người làm báo, trong đó có tôi.

  • VÕ QUANG YẾNỞ Pháp ngưòi ta thường bảo một con chim én không đủ để báo mùa xuân. Tôi thì tin một nữ sĩ có thể chiếu sáng một chiều thu lá vàng mưa bay nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể là nữ sĩ ấy. Chị là thi sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, ái nữ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị.

  • NGUYỄN HUY THẮNGNhững ngày đầu tháng 12-1954, người dân Hà Nội và khắp các vùng xung quanh nô nức kéo đến Nhà hát Nhân dân xem “văn công”. Văn công là từ bấy giờ dùng để chỉ những buổi biểu diễn văn nghệ trên sân khấu nói chung. Nhưng đợt “văn công” cuối năm 54 ấy mang một tính chất đặc biệt, vì là một đại hội có quy mô lớn (Đại hội Văn công toàn quốc), từ kháng chiến về, lần đầu tiên ra mắt công chúng Thủ đô vừa thoát khỏi ách tạm chiếm.