QUANG VIÊN
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là vị tướng tài năng và đức độ. “Ông là một danh tướng, một nhà chính trị và nhà quân sự lỗi lạc” - Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thốt lên khi nhớ về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh như vậy. Trong cuộc sống tình cảm gia đình, cũng như ứng xử với văn hóa văn nghệ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng hết sức chí tình, có những việc làm rất đáng khâm phục. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về ông rất hay: “Sáng trong như ngọc một con người”…
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (người bước đầu tiên) thời còn trẻ
Hình tượng Nguyễn Chí Thanh trong thơ Tố Hữu
“Gì sâu bằng những trưa thương nhớ/ Hiu quạnh bên trong một tiếng hò...”. Những câu thơ rất hay ấy, được viết trong tù, và người khơi nguồn cảm hứng cho nhà thơ Tố Hữu, không ai khác chính là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, người cùng quê Quảng Thọ, Quảng Điền, bên dòng sông Bồ với ông.
Tố Hữu kể: “Trưa nào trong lao tù, cũng nghe anh (Thanh) hát những câu hò đồng quê man mác, như: “Hết mùa thóc rã rơm khô/Bạn về quê bạn, biết nơi mô mà tìm”... Tôi đã viết tặng anh bài thơ Nhớ đồng. Thỉnh thoảng nghe anh ngâm bài thơ ấy, tôi rất xúc động…”.
Năm 1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Bác Hồ và Bộ Chính trị trực tiếp cử vào miền Nam chiến đấu. Nhà thơ Tố Hữu với tư cách một người bạn, đã có bài thơ “Tiễn đưa” đầy xúc động:
Đưa tiễn anh đi mấy dặm đường
Nặng tình đồng chí lại đồng hương
Đã hay đâu cũng say tiền tuyến
Mà vẫn bâng khuâng mộng chiến trường...
Vì lý do bí mật, khi ấy nhà thơ chỉ ghi: “Tặng bạn thơ Th.”, nhưng những ai đọc, đều thầm hiểu “bạn thơ” đây là một người ra đi mang sứ mệnh non sông đất nước: “Đi đi non nước chờ anh đó”.
Nhà thơ Tố Hữu ghi lại trong hồi ký: “Năm 1967, anh Nguyễn Chí Thanh trong Nam ra... Sau khi họp bàn xong, anh Thanh được lệnh trở lại miền Nam. Trước khi lên đường, anh ghé thăm tôi. Lúc ra về, anh bắt tay tôi: “Thôi, mai tao đi nhé”. Không ngờ tối hôm ấy anh qua đời, vì bị nhồi máu cơ tim. Cái chết của anh Thanh là một tổn thất lớn của Đảng ta, nhất là vào thời điểm quan trọng này. Tôi đã viếng anh bằng bài thơ “Một con người”:
Tưởng lại đưa anh ra chiến trường
Đường về, vó ngựa thẳng dây cương
Ngày mai… ai biết chiều nay phải
Vĩnh biệt anh nằm dưới bóng dương…
Khi đất nước giải phóng, nhà thơ Tố Hữu lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng, khi trở về thăm lại quê hương, đi trên mỗi con đường nhà thơ không nguôi nhớ bạn:
Cơ chi anh sớm được về bên nội,
Hôn nỗi đau tan nát Phù Lai
Như quê bạn Niêm Phò trơ trụi,
Đạn bom cày cả nương sắn đồng khoai
(Bài thơ quê hương)
Nhà thơ Tố Hữu viết: “Anh Thanh là một cán bộ lãnh đạo, một tướng lĩnh rất xuất sắc, quả cảm, táo bạo, xông xáo, rất chân thành và giản dị. Với tôi, anh là người bạn luôn gần gũi, ngay từ những ngày đầu tôi bước vào hoạt động cách mạng. Tôi đã gửi gắm vào bài thơ cả nỗi niềm tiếc thương khâm phục:
Ôi sống như anh, sống trọn đời
Sáng trong như ngọc một con người
Thanh ơi, anh mất rồi chăng đấy
Cứ thấy như anh nở miệng cười...
Vâng, “sáng trong như ngọc một con người”, cách gọi ấy mà nhà thơ Tố Hữu dành cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã thể hiện rất rõ hình ảnh một vị tướng tài năng, đầy bản lĩnh thao lược, đức độ, có thái độ trân trọng văn hóa dân tộc, trân trọng văn nghệ sĩ, sống tình cảm và đầy trí tuệ…
Nguyễn Chí Thanh, người chồng - người tình
![]() |
| Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và bà Nguyễn Thị Cúc |
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh gặp bà Nguyễn Thị Cúc năm 1934, nhưng mãi đến năm 1946, họ mới thành hôn. Ông bận hoạt động cách mạng, và bà đã chờ ông 12 năm.
Có một câu chuyện cảm động thể hiện mối tình chồng vợ của Đại tướng. Một ngày của năm 1947, khi Thừa Thiên vỡ mặt trận, người ta thấy đôi vợ chồng trẻ mỗi người chạy dọc một bên bờ sông, vừa chạy vừa gọi tên nhau: “Thanh ơi!”, “Cúc ơi!”. Thì ra lúc đó, người vợ của Đại tướng là Nguyễn Thị Cúc nghe người ta nói chồng bị Pháp bắn chết rồi ném xác xuống sông. Còn Đại tướng thì nghe tin đồn là vợ qua sông bị pháo bắn chết trôi mất xác rồi. Họ chạy dọc sông Hương mà gọi tên nhau, khi nhìn thấy nhau, mừng quá, hai người lội ào ra ôm nhau giữa sông...
Câu chuyện đó được người con gái, cô Nguyễn Thanh Hà, kể lại sau hơn 60 năm vẫn với cảm xúc dâng trào.
Cuối năm 1963, sau khi đi họp Bộ Chính trị về, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh báo cho vợ biết Bác và Đảng sẽ cử ông vào miền Nam chiến đấu. Bà Cúc biết rõ đây là tâm nguyện từ lâu của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Trái tim người vợ buồn, song lại nghĩ: “Đã làm tướng thì lẽ đương nhiên phải ra trận”. Bà chỉ nghĩ thương lo sức khỏe của ông, bởi khi làm việc nhiều ông hay ôm ngực kêu khó thở. Lúc đó, bà Cúc mới đi chữa bệnh về. Bà không khỏe từ khi gia đình mất đứa con đầu lòng ở chiến khu Trị Thiên trong kháng chiến chống Pháp.
Tháng 9/1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh chính thức vào Nam. Tại căn cứ của Trung ương Cục miền Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng Bộ chỉ huy Miền thường xuyên theo dõi nắm bắt kịp thời mọi động thái mới của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Từ thực tế chiến đấu của quân và dân miền Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đi tìm lời giải cho câu hỏi: Làm thế nào để quân và dân miền Nam có thể đánh thắng được mấy chục vạn quân Mỹ?
Nhiệm vụ nặng nề là thế, công việc vất vả phức tạp là thế nhưng trong những bức thư gửi ra Bắc, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đều nói với vợ là: “Làm ăn khấm khá. Sức khỏe tốt. Đừng lo cho anh...”. (Vì nguyên tắc giữ bí mật nghiêm ngặt nên tên của hai vợ chồng cũng được đổi: Thanh là Nam và Thao, Cúc đổi thành Lý).
Trong bức thư gửi tháng 4/1965, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh viết:
Lý yêu mến. Vừa nhận được cả thư và ảnh của gia đình - Mừng lắm. Chắc Lý đã nghe anh bạn kể chuyện nhiều và rõ. Nghe nói Lý khỏe hơn trước nhiều, và nhìn trong ảnh thấy Lý có mập hơn trước, mừng lắm… Sức khỏe của anh vẫn tiếp tục tốt. Cách đây 1 tuần có cân, 58 cân. Tuy làm ăn lao động vất vả nhưng không đến nỗi như trước đây, cho nên vẫn có điều độ, chơi bời săn bắn chút ít, cho nên khỏe hơn trước nhiều về các mặt. Bà con làng nước ở đây nói chung sức khỏe là tốt, vui vẻ.
Gửi lời thăm ông bà ngoại. Ba có nhận được thư của Bé, Bé cố gắng học nhé. Hà thì khá, đừng chủ quan tự mãn. Tý có học cả văn hóa, cả nhạc cho khá. Cu Vịnh ngoan nhé!
Ba hôn các con, ba cố làm ăn khá để gửi tiền về nuôi các con. Các con phải lo học tập, lao động, tu dưỡng đạo đức cho ngoan. Thảo khỏe nhé. Thăm tất cả, chúc mạnh khỏe tất cả.
Anh sẽ nhớ lời Lý dặn. Mong Lý, các con, các ông bà mạnh khỏe.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ra đi đột ngột vào ngày 6/7/1967, đêm trước ngày ông định trở lại chiến trường miền Nam. Trước đó mấy tháng, ông vừa từ chiến trường trở về Hà Nội…
“Chỉ sau khi Ba mất, chúng tôi mới hiểu tình yêu Mẹ giành cho Ba như thế nào. Hơn 10 năm sau ngày đó, cho tới khi Mẹ cũng ra đi, Mẹ sống trong nỗi nhớ Ba không gì bù đắp nổi” - cô Nguyễn Thanh Hà nói.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và văn hóa văn nghệ
Báo điện tử Vietnamnet ngày 08/06/2007 đã đăng bài “Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và đêm quan họ đầy bão táp” do thi sĩ Hoàng Cầm viết. Tác giả bài thơ “Lá diêu bông” kể:
Hạ tuần tháng 5/1954. Ngay sau chiến thắng giòn giã Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Chính ủy Nguyễn Chí Thanh đứng ra tổ chức lễ hội “khao quân” đặc sắc. Lúc đó, Hoàng Cầm là Trưởng đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, nhận được lệnh phải tổ chức biểu diễn văn nghệ cho khoảng 1000 người xem. Suy tính mãi, nhà thơ quyết định chọn 10 tiết mục, trong đó có tiết mục nói về tình yêu, và đưa vào một màn múa hát quan họ. Ba hồi trống ròn rã mở màn và bài hát mừng chiến thắng Điện Biên vang lên. Cả đoàn gần 100 người hát vang sấm động. “Giải phóng Điện Biên, bộ đội ta tiến quân trở về giữa mùa hoa nở...” Các bài hát càng dồn dập thì khán giả cũng vỗ tay theo. Tiếp sau đó, hàng loạt tiết mục như “Hò kéo pháo”, “Quê em miền trung du”, “Trường ca sông Lô”. “Du kích sông Thao”... múa lượn - xòe, múa - nón - sạp làm tưng bừng cả đêm diễn.
Đến khi màn quan họ bắt đầu, nhìn thấy miệng cười tươi rói của người Tổng tư lệnh mới ngoài 40 tuổi, nhà thơ động viên tốp nữ quan họ phải hát thật bay bướm:
“Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay”
Nhưng đến câu ca đỉnh điểm chót vót của tình yêu nam nữ trọn vẹn:
“Gió giục cái đêm đông trường
Nửa chăn nửa chiếu nửa giường để đó chờ ai”
Thì từ hàng thứ tư xuống đến vài ba hàng nữa, các vị sĩ quan trung đoàn đã quát tháo nặng nề phản đối đòi phải hạ màn.
Nhà thơ Hoàng Cầm giơ tay ra hiệu cho hậu đài hạ màn tức khắc. Nhưng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã bước nhanh lên sân khấu, yêu cầu những sỹ quan ấy phải xem lại hành vi vừa rồi. Sau đó, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mời những người phản đối chiều hôm sau đến xem lại màn quan họ tại nhà riêng để sau đó thảo luận. Còn đêm văn nghệ thì vẫn tiếp tục.
Chiều hôm sau, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đứng đón văn công từ ngoài cổng và phát cho đoàn hơn chục cái quạt nan. Cử chỉ đó khiến nhà thơ Hoàng Cầm cảm phục: “Ông tướng này thật văn minh”.
Một lúc sau, gần trăm người có mặt, cả những người đêm qua chống đối hát quan họ. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói với cả đội quan họ:
- Đừng ngại gì nhá! Bình tĩnh, hát thật hay vào!
Tuân lệnh, các cặp liền anh liền chị bắt đầu diễn và diễn rất hay. Khán giả vỗ tay kéo dài. Sau đó, cuộc tranh luận bắt đầu. Nhà thơ Hoàng Cầm được chỉ định phát biểu. Nhà thơ kể về những quy định nghiêm ngặt giữa liền anh liền chị, và kết luận: Chúng ta được có mặt trên cõi đời này, chính là nhờ tình yêu nam nữ mà tạo hoá đã ban cho. Tiếng hát quan họ là nghệ thuật của yêu thương.
Người phản đối đêm qua sau đó đứng dậy xin lỗi, rằng từ nhỏ đã đi đánh trận, cứ liên miên trận mạc, rồi kiểm điểm, rồi tập luyện, rồi chỉnh huấn, chỉnh quân, chưa thấy một đoàn văn công nào hát những lời như thế bao giờ. Quy cách quân sự cứng nhắc cứ quen đi.
Cuộc thảo luận vẫn được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh gợi ý tiếp tục. Có ý kiến cho rằng mới chiến thắng bước đầu, bộ đội vẫn phải chắc tay súng, không nên để những tình cảm lãng mạn làm lơi lỏng ý chí và tinh thần đánh giặc của quân dân. Nên vui với cái vốn cũ của dân tộc một chút thế thôi, còn diễn đại trà thì không nên.
Bất ngờ, Đại tướng hỏi đùa:
- Các ông ơi! Cứ giả dụ như tôi đang là học trò cấp 1. Vậy “em” xin các thầy chính uỷ giảng cho “em” Tổ quốc là gì ạ?
Nhiều tiếng cười lao xao, không khí trở nên chân tình, bỗng một người đứng dậy:
- Bộ đội thì hơn 80% là nông dân. Làng quan họ vừa rồi bắt nguồn từ nông dân tỉnh Bắc Ninh. Màn hát chỉ có hơn 20 phút mà tôi thấy cả một vùng quê cổ kính hiện lên. Đấy, màn quan họ vừa rồi là Tổ quốc đấy! Dân tộc ở trong ấy… hạnh phúc ở trong ấy. Yêu nhau mà được cởi áo cho nhau thì còn gì hạnh phúc bằng.
Có nhiều tiếng đồng tình:
- Đúng thế, Tổ quốc ta có quan họ thì đẹp biết chừng nào! Hát có hơn 20 phút giữa những sùng sục chiến đấu, giữa những tưng bừng chiến thắng thì tôi thấy nó đúng là viên kim cương xanh biếc xếp bên viên hồng ngọc. Chả hiểu các đồng chí nghĩ sao mà lại cho rằng nó làm nhụt ý chí chiến đấu.
- Những đơn vị chiến đấu đã thừa khói lửa, lúc xem văn công trên sân khấu lại cũng toàn cảnh bắn nhau, nghe hô “tiến lên! xung phong!” thì anh có ngấy lên không? Đêm qua chúng tôi phải cảm ơn đoàn văn công đã cho chúng tôi vài chục phút thanh cao đấy.
Cuối cùng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mới đứng hẳn lên: “Tôi nghĩ chúng ta tranh luận thế là rất thẳng thắn mà vẫn đầy tình đoàn kết. Các ông nhiều gân cốt quá, vô tình để trái tim sổng ra khỏi lồng ngực. Hay là mấy ông cố làm thế cho oai để ra cái điều ta là anh hùng, là khí phách? Có cô gái đẹp dịu hiền lướt qua trước mắt sao lại quay ngoắt đi? Ừ thì không mê mẩn cô ta, nhưng tại sao lại không nhìn, không thưởng thức cái nhan sắc mà trời phú cho cô ấy. Các ông sợ cái đẹp nó quyến rũ mình à? Nếu thế thì đâu phải là khí phách? Người có gan vẫn có thể kết bạn với một cô gái đẹp, miễn là mình giữ lòng mình không sa ngã thôi, chứ cớ sao lại xua đuổi cái đẹp màn quan họ này, khi mà nó có đủ 3 phẩm chất cơ bản của văn nghệ là chân, thiện, mỹ? Đó là cái vốn đã lâu năm của dân tộc. Cái vốn văn hoá của dân tộc, chỗ nào là thô kệch, là nhố nhăng, tôi chắc các cụ ta hàng trăm năm nay đã gạn nó đi hết rồi, chỉ còn lại sự trong sáng cao quý mà thôi. Cụ Nguyễn Du tả nàng Kiều tắm mà có thô tục đâu?”
Vỗ tay... nhiều người đứng cả lên vỗ tay. Nhà thơ Hoàng Cầm viết: “Lúc đó tôi thì chỉ muốn ôm hôn ngay vị tướng vừa đanh thép lại vừa hoa lá ấy”. Và về sau, Hoàng Cầm lại viết: Nguyễn Chí Thanh lại là một vị thủ trưởng bản lĩnh, nhân hậu, thân thiện và hết sức “con người”. Ngày nghe tin ông Thanh mất, tôi đã khóc. Khóc dữ dội, khóc ghê lắm! Người như vậy mà mất sớm thì tiếc quá, tiếc cho gia đình, tiếc cho dân tộc”.
Q.V
(SDB11/12-13)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRỌNG TẠOLTS: Nhà thơ Thu Bồn có nhiều duyên nợ với Huế, với Sông Hương. 20 năm trước, trong dịp TCSH ra đời, anh có mặt ở Huế và viết bài thơ “Tạm biệt” - một trong ít ỏi những bài thơ hay nhất về Huế, 20 năm sau, cũng vào dịp TCSH kỷ niệm tròn 20 tuổi thì anh lại ra đi, ra đi trong lời vĩnh biệt!Thương tiếc nhà thơ tài hoa Thu Bồn, Sông Hương xin trân trọng giới thiệu một vài kỷ niệm vaì tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp dành cho anh. TCSH
PHẠM XUÂN NGUYÊNVề chính trị, ông được chữ nhất: Đại biểu quốc hội trẻ nhất (22 tuổi, khóa I năm 1946); Tổng thư ký Hội Nhà văn lâu nhất (1958 – 1989).Về văn nghệ, ông được chữ đa: đa tài, sáng tác nhiều lĩnh vực, và để lại dấu ấn: thơ (Người chiến sĩ, Tia nắng, Sóng reo), văn (Vỡ bờ), kịch (Con nai đen, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc), nhạc (Diệt phát xít, Người Hà Nội), tiểu luận (Mấy vấn đề văn học, Công việc của người viết tiểu thuyết).
...Có 2 từ người Việt Nam hay dùng cho những người làm thuê các công việc cho người khác là: "Lê dương" và "Pắc chung hy". Chả biết từ bao giờ, bạn bè gọi tôi là "Kha lê dương" bên cạnh các biệt hiệu khác như "Kha điên", "Kha voi", "Kha xe bò miên". Là gì thì cũng vẫn là Kha. Thiếu em ư? Đúng ra là tôi không thể sống thiếu tình yêu như một câu thơ tôi đã viết: "Điều khốn nạn là không thể nào khác được - không thể không tình yêu, không tin ở con người"...
... Với giới văn nghệ sĩ thừa Thiên Huế, nhà văn Nguyễn Đình Thi là người anh lớn, rất thân thiết và gần gũi qua nhiều năm tháng. Anh là tấm gương sáng trên nhiều lĩnh vực sáng tác, quản lý, hoạt động phong trào... Đã có nhiều tác động tích cực, ảnh hưởng tốt đẹp cho một số cây bút ở Thừa Thiên Huế; đồng thời đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong đời sống văn học Thừa Thiên Huế.Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Đình Thi là một tổn thất lớn đối với nền văn học nghệ thuật nước nhà, để lại cho chúng ta niềm tiếc thương vô hạn.... Sự nghiệp sáng tạo văn học nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Đình Thi vẫn sống mãi với chúng ta! (Trích điếu văn của nhà thơ Võ Quê)
ĐÀO DUY HIỆPGiáo sư, nhà giáo ưu tú Đỗ Đức Hiểu đã không còn nữa.Đã vĩnh biệt chúng ta một nhà sư phạm hiền từ, một nhà khoa học khiêm tốn và có nhiều phát hiện, một con người đầy lòng nhân ái, tin yêu cuộc sống và suốt đời đã sống vì cái đẹp của văn chương, nghệ thuật. Mười bảy giờ bốn mươi nhăm phút ngày 27 tháng 2 năm 2003 đã là thời khắc đó – cái thời khắc đã chia cách hai thế giới từ nay âm dương cách trở giữa giáo sư Đỗ Đức Hiểu với chúng ta. Ông đã để lại sau mình một cuộc đời dài nhiều ý nghĩa.
NGUYỄN HOÀNGTrong cuộc đời 83 năm của mình, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (BS.NKV) không chỉ một lần tình nguyện đem cuộc đời mình làm... vật thí nghiệm để có được một kết luận khoa học. Lần đầu, nửa thế kỷ trước, tại Pháp, sau 7 lần lên bàn mổ, cắt mất hẳn lá phổi trái, 1/3 lá phổi bên phải và 8 xương sườn (do bị lao mà thời đó chưa có thuốc chữa đặc hiệu), thấy rõ y học phương Tây không cứu được mình, BS. NKV đã vận dụng phương pháp Yoga của Ấn Độ và khí công của Trung Quốc trên cơ sở phân tích sinh lý, tâm lý và giải phẫu cơ thể con người, tự cứu sống mình, hình thành nên phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện” ngày nay.
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNVào dịp Tết Bính Thìn, Tết dân tộc cổ truyền đầu tiên sau giải phóng, Viện Đại học Huế nhận được một bưu thiếp chúc Tết đặc biệt của vị Thủ tướng kính mến thời đó - Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhà trường đã cho viết to bức thư của Thủ tướng viết sau cánh thiếp lên một tấm bảng lớn, trân trọng đặt tại Hội trường của Viện Đại học Huế.
TÔ NHUẬN VỸTôi có một cái va ly nhỏ dùng để đựng những vật kỷ niệm, những thư từ, những bức ảnh quý nhất của mình. Trong số kỷ vật quý giá đó, có bức thư của anh Tố Hữu gửi tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, tháng 3/1987, kèm theo là bài thơ Nhớ về anh được đánh máy trên giấy Pơ luya vàng nhạt, kiểu chữ ở một cái máy nào đó mà mới nhìn biết ngay là từ một cái máy chẳng lấy gì làm tốt, để "Kỷ niệm lần thứ 80 ngày sinh mồng 7 tháng 4 của đồng chí Lê Duẩn”.
LÊ MỸ Ý ghi (Trích)Khi tôi đến, hai ông đang ngồi chiếu rượu trong căn hộ chung cư sáu tầng cao ngất ngưởng. Căn phòng như được ghép bằng sách. Trên tường, ảnh Văn Cao đang nâng ly và bức sơn dầu "Tuổi Đá Buồn" Bửu Chỉ vẽ Trịnh Công Sơn dựa vào cây đàn ghita ngóng nhìn vô định. Ngẫu nhiên tôi trở thành người hầu rượu, nói đế cho cuộc đối thoại ngẫu nhiên của hai ông...
MAI VĂN HOANThầy giáo dạy văn Tặng Mai Văn HoanHộ tập thể nằm trên gác xépCăn phòng thanh đạm, có gì đâu!Một chồng sách cũ, dăm chai nướcMột chiếc bàn con, một bếp dầu...
THANH THẢOThái Ngọc San khác với một số người bạn Huế mà tôi chơi: anh ít nói, ít nói đến lặng thinh, ít nói nhiều khi đến sốt cả ruột. Nhưng nhiều lúc, vui anh vui em, rượu vào lời ra, San cũng nói hăng ra phết. Những lúc ấy, cứ nghĩ như anh nói để giải toả, nói bù cho những lúc im lặng.
PHAN HỮU DẬTLTS: GS.TS Phan Hữu Dật là người làng Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, TT Huế, hiện nghỉ hưu tại Hà Nội. Giáo sư từng là Trưởng ban phụ trách Đại học Văn khoa Sài Gòn (1976), Hiệu trưởng Đại học Tổng hợp Hà Nội (1985-1988). Bài viết dưới đây do Giáo sư đọc trong Lễ kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhà thơ Vĩnh Mai (1918-2008), như một sự tri ân đối với người mà Giáo sư xem như là người thầy, người thủ trưởng, người đồng chí... với những tư liệu mới mẻ và góc nhìn thấu đáo. Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài viết này cùng bạn đọc.
NGÔ MINHTác phẩm văn học nghệ thuật là sáng tạo của mỗi tác giả hội viên; đồng thời là thước đo hiệu quả hoạt động của Hội trong một nhiệm kỳ. Nói cách khác, tất cả mọi hoạt động của Hội đều hướng về hội viên, hướng về việc làm sao để có những tác phẩm văn học nghệ thuật chất lượng ngày càng cao. Nếu không thì sinh ra Hội để làm gì?
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOVà tôi đã rời xa Huế vào những ngày mà chính tôi cũng không muốn một chút nào. Có lẽ, không ai trách được sự sắp xếp và an bài của cuộc sống. Dù rằng Huế đối với tôi là ân nghĩa, là những kỷ niệm khó phai thì rồi cũng phải tự tạ từ. Trong sâu thẳm đáy lòng, khi nhìn những đêm trăng phả xuống thành phố tôi đang sống, tôi lại quay lòng nhớ Huế, dẫu một chút thôi, hơi thở của tôi đã không được đắp bồi bởi Huế.
VÕ MẠNH LẬPTôi đọc một bài. Không! Chỉ là một đoạn nhưng vừa đủ ngẫm - mà thú vị. Đó là cô gái với cái tên quen mà lạ. Cô ta phân bày quê chôn nhau cắt rốn xa xa ngoài tê tề. Cha mẹ cô đèo bòng vô ở tại một thị xã miền Trung. Sau cùng cô lại ở Huế học hành, lớn lên, đôi lúc bạn bè xa đến cứ ngỡ cô là Huế ròng.
L.T.S: Nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San sinh năm 1947 tại Lệ Thuỷ, Quảng Bình nguyên Thư kí Toà soạn Tạp chí Sông Hương, chuyển công tác qua phụ trách văn phòng liên lạc báo Thanh Niên tại T.T. Huế đã từ trần vào lúc 0giờ 45 phút ngày 25.7.2005 sau một tai nạn giao thông oan nghiệt.Thương tiếc anh, Sông Hương mở thêm trang để bạn bè, đồng nghiệp cùng chia sẻ và thắp nén tâm hươngKhi chúng tôi được tin buồn về anh San thì số báo tháng 8 đã in xong; Tình thế “chữa cháy” này không sao tránh khỏi những bất cập, mong các tác giả cùng quý bạn đọc lượng thứ.
L.T.S: Đại hội VHNT Thừa Thiên Huế lần thứ X sẽ được tổ chức vào cuối tháng 8 năm nay. Để đại hội có tiếng nói dân chủ rộng rãi, TCSH xin “dành đất” cho các anh chị hội viên, các bạn đọc quan tâm tham gia ý kiến trao đổi về nghề nghiệp, về hoạt động của Hội, về tổ chức hội v.v...Ngoài các ý kiến đã đăng tải trên số này, chúng tôi sẽ tiếp tục in thêm các ý kiến khác trong số tới
ĐÔNG HÀTôi không sinh ra ở Huế, nhưng với tuổi đời chưa quá ba mươi mà đã hơn hai mươi năm sống ở đất Kinh thành, đó cũng một sự gắn bó không thành tên.
THU NGUYỆT (Trích tham luận tại Đại hội VII Hội Nhà văn Việt Nam)
ĐẶNG SĨ THIỆNThời bao cấp, ăn còn đói mà thơ lại hay. Sang thời nay ăn thừa thãi thì người ta lại không quan tâm đến thơ, thậm chí quay lưng lại với thơ (lời Bằng Việt).