Những đóng góp của các cây bút thơ nữ trong phong trào thơ mới

11:38 22/05/2008
1. Trong số những người đi tiên phong.

Hơn nửa thế kỷ trước, trong Thi nhân Việt Nam viết về Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã mô tả: “Khi nhà thơ Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân dõng dạc bước ra trận để kết án lối thơ cũ, thì lập tức nhờ có tờ Phụ nữ tân văn, lời nói của ông được truyền bá khắp nơi...”. Và tín hiệu ủng hộ ông đầu tiên là một bài thơ viết theo lối mới của một phụ nữ kí tên Nguyễn Thị Manh Manh (tức Nguyễn Thị Kiêm). Sau khi điểm qua những diễn biến của phong trào thơ mới buổi đầu, ông viết tiếp “Thơ mới đã bắt đầu có cơ sở. Trong làng Thơ mới, người ta đã sốt sắng thêm. Từ hai tháng trước, hôm 26 juillet (tháng 7) 1933, một nữ sĩ có tài và có gan, cô Nguyễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn hội Khuyến học Sài Gòn hết sức tán dương thơ mới. Hội Khuyến học Sài Gòn thành lập đến bây giờ đã 25 năm. Lần thứ nhất một bạn gái lên diễn đàn và lần thứ nhất có một cuộc diễn thuyết được đông người nghe như thế”. Buổi diễn thuyết đã có một tiếng vang lớn. Bà Nguyễn Đức Nhuận, chủ bút tờ Phụ nữ tân văn nhận xét: “Trong hơn một giờ, người nữ sĩ chỉ ứng khẩu, nói như nói chuyện thường, cắt nghĩa rõ ràng về chức vụ của thơ, về niêm luật cũ và mới, về mối quan hệ giữa hiện tình xã hội và sự cải cách trong thế giới”. Hồi đó, Thơ mới như một đứa trẻ mới lọt lòng mẹ cất tiếng khóc chào đời nên còn non nớt và èo uột. Lâu nay, người ta vẫn quen nghe một lối thơ Đường luật có vần, có điệu rõ ràng. Thế nhưng trước hàng ngàn khán giả, Manh Manh vẫn tự tin khi tuyên bố “Thơ Đường luật không dùng được nữa” ừ “khuôn khổ, luật phép phiền phức” và “lời văn không thích hợp với sự đời bây giờ”. Nhà thơ cũng khẳng định Thơ mới sẽ “có thể trở nên một lối thơ thông dụng để tả một cách rõ ràng, thiết thực những thể cảm của một thi sĩ hiện thời”. Và để tiếp tục đấu tranh đến cùng cho sự thắng lợi của Thơ mới, lần lượt cùng với Lưu Trọng Lư, Đỗ Đức Vượng, Vũ Đình Liên, Trương Tửu, tháng 1 năm 1935, nữ sĩ Nguyễn Thị Kiêm lại đăng đàn diễn thuyết tại Hội Khuyến học Sài Gòn, để tranh luận với Nguyễn Văn Hanh về Thơ mới. Và bà đã có cả một bức thư viết bằng thơ “gửi tất cả những ai ưa hay ghét bỏ lối thơ mới”
            Bây giờ tôi thử khuyên khách làm thơ
            Đổi lại, ai ưa thơ mới lo tìm chỗ dở
            Ai ghét, rán kiếm cái hay của thơ
            Vậy, chê, khen, có giá trị hoa mới sẽ nở
            (Bức thư gởi tất cả những ai ưa hay là
 ghét bỏ lối thơ mới - Nguyễn thị Manh Manh)
Viết lại những dòng trên đây để chúng ta thấy rõ: ngay từ buổi sơ khai của phong trào Thơ mới, những nữ sĩ đã có mặt trên thi đàn trong vai trò của người tiên phong với tất cả tài năng và lòng nhiệt thành của mình. Và những cố gắng của người phụ nữ có tài và có “gan” này đã không uổng phí. Lời dự báo của Manh Manh chẳng bao lâu đã thành hiện thực. Một thời gian ngắn sau đó, Thơ mới đã không chỉ “chiếm hết báo chí và sách vở, len vào đến học đường” mà nó còn có sự hồi âm xứng đáng ở tương lai: 10 năm tiếp theo, Thơ mới đã phát triển rực rỡ và trở thành một hiện tượng thơ độc đáo của văn học Việt Nam, góp một phần không nhỏ vào sự hình thành và phát triển của nền thơ dân tộc.

2. Tâm hồn thơ Phương Đông.
Ghi nhận những đóng góp của những gương mặt thơ ca nữ trong phong trào Thơ mới, có thể ta không nhắc đến họ như những cây đại thụ, như những phong cách nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá tính. Nhưng họ đã hiện diện trong làng Thơ mới bằng dấu ấn của một hồn thơ mang đậm phong vị Á Đông ngọt ngào, êm dịu, với những tình cảm nồng ấm về tình yêu gia đình, con người và làng quê đất Việt.
Nói đến Thơ mới, chúng ta thường hay nói đến tâm trạng buồn cô đơn. Nỗi buồn - cô đơn đã trở thành một căn bệnh, một tâm thế chung của cả một thế hệ. Những hồn thơ nữ cũng không thoát khỏi cái hằng số đó. Giữa cuộc đời ồn ào, náo nhiệt và đông đúc đến thế mà nhà thơ Mộng Sơn vẫn đau đớn thốt lên “Mênh mang nước biển mây giời! Càng đi càng thấy cõi đời vắng tanh” (Tóc sương). Nhà thơ Ngân Giang âm thầm tự nhủ “Tiếng vẳng sông xa trời bát ngát. Âm thầm tôi lại sống trong tim” (Hiu quạnh). Còn Mộng Tuyết ngậm ngùi chấp nhận sự cô đơn, như chấp nhận một qui luật “Năm canh lạnh lẽo kinh sương gió. Ngùi ngẫm tan xuân, hoa rụng đầy” (Dương liễu tân thanh). Với những đấng nam nhi, họ có bao nhiêu cách để giải thoát nỗi sầu cô đơn, nỗi buồn vạn kiếp. Họ có thể làm một “người bộ hành phiêu lãng - đường trần gian xuôi ngược để vui chơi” hay say sưa trong những nẻo “đào nguyên lạc lối”. Với thân phận của mình, các thi sĩ nữ không thể bỏ lại vườn cau, bỏ mái gianh - tôi đi dan díu với kinh thành”. Cô đơn trong cuộc đời, họ chỉ còn biết tìm đến tình yêu như một điểm tựa, một cứu cánh. Nhưng dù sống rất nhiều với tình yêu, mơ mộng rất nhiều với tình yêu, họ vẫn không gặp may. Chỉ có những nỗi đợi chờ vô vọng “Mây chờ ngừng bến xa xôi. Nhớ thương đọng lại muôn đời quản không” (Thuyền đi - Vân Đài) và những nỗi lòng năm canh “Phòng khuya, bóng chiếc, đèn chong, canh tàn” (Trông giăng - Mộng Sơn) của những mối tình dang dở “Nuối hận từ đây duyên bẽ bàng” (Khách ngàn phương - Cẩm Lai). Dù vậy, tấm lòng vẫn cứ thuỷ chung, cái thuỷ chung chỉ có được ở những người phụ nữ phương Đông “Bến xanh, xanh vẫn ngóng trông tháng ngày” (Thuyền đi - Vân Đài).
Viết về Thơ mới, giáo sư Hà Minh Đức đã có một nhận xét khá chính xác khi ông cho rằng “Thương người và tự cảm thương mình - đó là hai bình diện tạo nên giá trị nhân bản của phong trào Thơ mới”. Và điều đó được thể hiện khá rõ ở những cây bút thơ nữ. Không chỉ biết tự cảm thương mình, họ còn biết hướng tâm hồn ra cõi nhân gian rộng lớn để xẻ chia ấm áp: “Tôi thương anh vì tôi cũng đi tìm những cảnh mênh mông. Tôi cũng muốn sống cuộc đời phiêu linh như mây gió. Để nghe tiếng khóc thì thầm của cõi lòng đau khổ” (Viếng mồ lữ khách - Mộng Sơn).
Những số phận nghèo bất hạnh là đề tài và nguồn cảm xúc của nhà thơ. Một tiếng đàn của người hành khất bên đường, có bao kẻ đi qua vô tình, nhà thơ đã chia xẻ với họ bằng niềm đồng cảm:
            Xin cứ đàn, cứ ca và cứ hát
            Cho lòng ai chốc lát được vui khuây
            Cho hồn ai tươi tỉnh được vài giây
            Quên đi những nỗi lầm than bằng nước mắt
                                    (Khúc nhạc bên đường -
Hằng Phương)
Có thể nói, tình cảm lớn bao trùm lên tâm hồn thơ nữ là tình yêu sâu nặng với con người và cuộc đời.
            Ai về cố quốc cho ta nhắn
            Gởi chút lòng thương nhớ núi sông
                                   
(Tiễn biệt - Hằng Phương)
Với mỗi người Việt chúng ta, quê hương là cội nguồn của yêu thương và hạnh phúc. Lời nhắn gửi của nữ sĩ Hằng Phương cũng là lời nhắn gửi chung của những tấm lòng luôn nhớ thương da diết mảnh đất chôn nhau cắt rốn với “Lòng son mưa gió gột nào phai” (Vân Đài). Nhớ về quê hương là nhớ về những gì cụ thể “Nhớ nơi làng xóm con con. Nhớ hương cây quế chon von trên đồi” (Làng quê - Hằng Phương); là nhớ đến những “Con đường làng” với hình ảnh những cô thôn nữ “Tảo tần khuya sớm quên sương gió. Quên cả đời riêng một tuổi xuân (Cẩm Lai); nhớ đến “Bến đò ngày mưa”; nhớ những đêm “Ba mươi tết” với khung cảnh quen thuộc gần gũi: “Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen nhức. Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm” (Anh Thơ). Những tình cảm sâu đậm đó không chỉ là chất liệu cho thi tứ và cảm xúc mà còn là cầu nối cho sự đồng cảm vĩnh hằng của bạn đọc ngày hôm nay với những hồn thơ cách đây hơn nửa thế kỷ.

3. Những nhà thơ tiêu biểu.
Nhắc đến Thơ mới, bên cạnh một Lưu Trọng Lư, một Xuân Diệu, một Huy Cận, một Thế Lữ..., ta không thể không nhắc đến một gương mặt thơ nữ: Anh Thơ. Anh Thơ đã trình diện làng thơ mới bằng một sự khởi đầu tốt đẹp. “ẵm” ngay một tấm huy chương của Tự lực văn đoàn, giải khuyến khích dành cho tập thơ Bức tranh quê. Những ý tưởng đầu tiên viết Bức tranh quê của Anh Thơ là để dự thi. Nhà thơ đã từng tâm sự trong cuốn hồi kí Về bến sông Thương rằng khi có ý định dự thi thơ của Tự lực văn đoàn, nhà thơ đã tự nhủ: “Làm về cái gì bây giờ. Về tình yêu như Xuân Diệu”? Nhưng nhà thơ lại chưa được yêu và chưa biết yêu! “Làm thơ Bạch Nga như Nguyễn Vỹ? Cũng không được!” Nhà thơ quyết định: “Làm thơ về phong cảnh xóm làng vậy. Xưa nay tôi chỉ biết xóm làng! Nghĩ đến đâu, viết đến đấy, thấy cảnh gì, làm một bài thơ tả cảnh ấy”! Với một năng khiếu thơ bẩm sinh, chỉ trong vòng hơn một tháng, nhà thơ đã có cả một Bức tranh quê gồm 45 bài. Bức tranh quê là toàn cảnh bức tranh của một vùng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ với tất cả những thời khắc của thời gian. (Ngày xuân, Chiều xuân, Đêm xuân, Đêm rằm tháng giêng, Rằm tháng 7, Rằm tháng 8. Sáng hè, Trưa hè, Sang thu, Chiều thu, Đêm thu, Đêm đông, Chiều 30 Tết, Đêm 30 Tết, Ngày Tết...) và không gian (Bến đò ngày mưa, Bến đò đêm trắng, Chợ ngày xuân, Chợ ngày thu...) và sự đỏng đảnh của thời tiết (Mưa, Lụt Đại hạn, Cơn giông, Trở rét, Nắng hanh...), trong đó, con người sống với những buồn vui thường ngày trong những âm thanh của tiếng “đàn bầu” của đám “hát xẩm” và không khí của những “Đám cưới”, Đám ma”! Rõ ràng cảm xúc thơ của Anh Thơ không phải là những gì cao xa mà là những gì gần gũi thân thuộc. Nhà thơ đã từng tâm sự “thấy gì ghi nấy”. Quả thực, Bức tranh quê có cái chỉ là “bức ảnh”, nó thiếu đi một sự gọt giũa công phu của cảm xúc và kỹ thuật. 45 bài thơ hầu như đều có một lối kết cấu giống nhau với ba khổ thơ cho mỗi bài. Nhưng nếu chỉ có như vậy thì chắc chắn Tự lực văn đoàn không thể trao giải thưởng cho Bức tranh quê được. Đọc kĩ, ta thấy nhiều bài thơ trong tập Bức tranh quê có thể được xếp vào hàng những bài thơ hay nhất viết về nông thôn từ trước đến nay.
Bến đò ngày mưa - một khung cảnh buồn tẻ và ảm đạm, có gì đáng nói? Nhưng với Anh Thơ, vẫn có một cái gì đó không thể vô tình, bởi dường như cảnh vật đang sống cuộc sống của con người:
            Tre rũ rượi bên bờ chen ướt át
            Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa
            Và dầm mưa dòng sông trôi dào dạt
            Một con thuyền cắm lại đậu trơ vơ
Một đêm trăng không sáng mà lại mờ. Anh Thơ đã phát hiện ra ở nó một vẻ đẹp huyền bí với không gian tĩnh lặng mơ hồ của sương, ánh sáng lung linh của sao, âm điệu nhẹ nhàng của gió và cả vẻ buồn bã, đáng yêu của trăng:
            Sương man mác buông lơi trong lặng lẽ
            Mây mờ mờ trôi đến giữa trời sao
            Gió nhẹ thở từng hơi dài rất nhẹ
            Và trăng buồn không biết náu nơi nào.
                                               
(Đêm trăng mờ)
Và đây nữa, một bức tranh của một Đêm trăng xuân, sẽ cho người đọc cảm nhận hết được cái âm hưởng thi vị của đồng quê:
            Đồng lặng lẽ sương mù buông bát ngát
            Ao âm thầm mây tối ngập mênh mang
            Gió im ắng tự từng không man mác
            Mưa bay trăng nhè nhẹ dệt tơ vàng.
Cái cảnh sắc của một buổi Chiều xuân, với ba khoảng không gian:
            Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng
            Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi
            ... Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ
            Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ
            ... Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng
            Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra...
dứt khoát không thể tìm thấy ở một thành phố ồn ào náo nhiệt. Muốn thưởng thức nó, ta phải trở về những vùng quê của đồng bằng Bắc Bộ, cùng với nhà thơ thả tâm hồn mình hoà vào nhịp sống thanh bình và yên ả của đồng quê.
Trong Bức tranh quê của Anh Thơ, dường như bao giờ cũng có hai mảng màu. Một bên là những đường nét với tất cả cái thi vị nên thơ:
            Trời trong biếc không qua mây gợn trắng
            Gió nồm nam lộng thổi cánh diều xa
            Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng
            Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua
                                   
(Trưa hè)
Một bên là cuộc sống thực, có chút gì ngột ngạt tù túng của một vùng quê nghèo:
            Trang thôn vắng, tiếng gà xao xác gáy
            ... Những đĩ con ngồi buồn lê bắt chấy
            Bên đàn ruồi rạc nắng hết ơi kêu
                                   
(Trưa hè)
            ... Chó le lưỡi ngồi thừ nhìn cũi đóng
            Lợn troi nằm hồng hộc thở căng dây
                                    (Chợ mùa hè)
Hai mảng màu này đối lập mà lại bổ sung, hoà quyện với nhau để tạo nên một Bức tranh quê hiện thực lãng mạn.
Đã có khá nhiều “thi sĩ của đồng quê”, nhưng với Bức tranh quê của Anh Thơ, ta vẫn thấy có một cái gì đó rất riêng. Cảm nhận về sự giao mùa của thời tiết “Sang thu”, nhà thơ không tả một những nét chung chung với biểu tượng cổ điển của mùa thu là sự phôi pha của lá úa, cành khô. Chỉ bằng một vài nét chấm phá:
            Hoa mướp rụng, từng đoá vàng rải rác
            Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay
Nhà thơ đã cho thấy cả một “không khí thu” đang hiện hữu.
Ta về một đám cưới ở thôn quê, Đoàn Văn Cừ quan tâm đến những đổi thay ở sắc màu choáng ngợp qua trang phục bên ngoài của cô dâu trong ngày cưới:
            Người cô dâu hôm nay coi choáng lộn
            Vành khuyên vàng, áo mớ, nón quai thao
                                               
(Đám cưới mùa xuân)
Còn Anh Thơ không vậy. Bà chú ý đến những diễn biến trong tâm hồn cô dâu và chú rể trong ngày vu qui:
            Chú rể thẹn ngập ngừng đưa bước chậm
            Quần chúc bâu sột soạt chửa phai hồ
            Áo nâu thắm cô dâu nghiêng nón thấm
            Đội má đào trào lệ nhớ nhà cô
                                               
(Đám cưới)
Có lẽ phải có một sự quan sát tinh tế và một sự đồng cảm sâu sắc mới viết được những câu thơ như thế.
Một nhà phê bình nào đó đã có những nhận xét xác đáng khi cho rằng: Thật khó tưởng tượng, bức tranh về nông thôn Việt Nam sẽ ra sao nếu bên cạnh một Đoàn Văn Cừ, một Bàng Bá Lân, thiếu đi một Anh Thơ?
Người nữ sĩ thứ hai của phong trào Thơ mới được nhiều bạn đọc biết đến là Mộng Tuyết. Mộng Tuyết là một trong những học trò xuất sắc của Trí đức học xã. Mặc dù viết nhiều thể loại khác nhau (khảo cứu văn học, truyện, thơ, bút ký) nhưng bà được mọi người biết đến nhiều hơn với tư cách là một trong những người có tiếng của phong trào Thơ mới. Tập thơ Phấn hương rừng của mộng Tuyết in năm 1934, đã trúng giải khen tặng của Tự lực văn đoàn và bà cũng được mọi người chú ý từ tập thơ này. Mộng Tuyết đã có thơ đăng trên các báo Sống, Tiểu thuyết thứ 5, Tiểu thuyết thứ 7, Hà Nội báo, Đông Tây, Trung bắc, Chủ nhật, Tri tân, Nhân loại, Phụ nữ tân văn dưới các bút danh khác như Hà Tiên Cô, Bạch Thảo Sương, Thất Tiểu Muội...
Thơ Mộng Tuyết trước hết là tiếng lòng hồn nhiên, trong trẻo của một người con gái. Người con gái ấy nhiều khi còn thẹn thùng, e ấp trước cả vẻ đẹp của chính bản thân mình:
            Nhớ chuyện đêm qua còn thẹn thùng
            Mặt hồ phẳng lặng ánh trăng trong
            Trễ tràng xiêm áo em đang tắm
            Làn nước vờn da em lạnh lùng
                                                (Em xấu hổ)
Nếu nói Thơ mới là tiếng nói của những cá nhân, của những tâm hồn với khát vọng thành thực muốn “nói rõ những điều kín nhiệm” thì tâm hồn thơ Mộng Tuyết cũng không nằm ngoài cái biên độ đó. Người con gái thẹn thùng, e ấp trên kia cũng là người con gái không muốn dấu diếm những khát vọng trẻ trung mãnh liệt của mình: yêu và được yêu:
            Nguồn trong nước sạch mơn man
            Để em xuống tắm gội làn tóc xanh
            Cho anh đặt chiếc lược tình
            Món hương trinh bạch để dành từ xưa
            Tâm tình mơn mởn đào tơ
            Tặng anh giữa cảnh nên thơ suối rừng
                                    (Hương rừng)
Vẻ đẹp của thơ Mộng Tuyết, không phải là vẻ đẹp của cấu tứ và kỹ thuật, mà nó có sức lay động ở sự trong trẻo trong cảm xúc và những hình ảnh có sức gợi:
            Trăng chảy ngập đường đi - Thuở ấy
            Đôi người soi bóng bước song song
            Rồi trăng từ đó tương tư bóng
            Chảy ngập đường đi khắp nẻo lòng
                                               
(Bóng trăng tương tư)
Và cao hơn còn là vẻ đẹp của một tâm hồn không chỉ quẩn quanh trong những tình cảm riêng tây mà còn biết hướng tâm hồn đến những bến bờ của một tình yêu rộng lớn. Giá gạo Tràng An” “10 khúc đoạn trường” là những bài thơ thể hiện những tình cảm đó. Người ta ngạc nhiên thấy một người con gái tưởng như chỉ biết “Chiều xuân khép cánh khuê phòng. Soi gương sửa lại má hồng vui vui” lại cũng là một thi sĩ có trái tim không vô tình khi nghe tin:
            Nghe nói Tràng An giá gạo cao
            Đói cơm cửu hạn khát mưa rào
Chia xẻ với những khó khăn của đồng loại, nhà thơ băn khoăn: “Chị nghèo biết giúp gì em nhỉ” Trước nạn đói năm 1945, trước những thống khổ của đồng bào mình, cô gái sống trong lầu son gác tía đã đau đớn thốt lên: “Ai làm non nước chuyển chia ba?” và nhà thơ kêu gọi mọi người hãy vì “tình máu mủ” mà “nhường cơm xẻ áo”. Tiếng thơ ấy, cất lên từ một trái tìm nhân hậu đã là đáng quí. Nhưng nó còn giá trị hơn khi đặt bên cạnh những tiếng thở dài não nùng bởi sự “chán nản với toàn thế giới” của Thơ mới lúc này đang đi đến bờ vực của sự thoái trào, bế tắc. Những tình cảm đó sẽ là điểm tựa để sau này nhà thơ nhập cuộc với cuộc sống mới. Sau cách mạng với các bài thơ Dưới cờ (1945) và Chiếc lá thị thành (1947) viết về niềm hân hoan chào đón cách mạng và những chiến sĩ ở “Chiến khu xanh”.
Bên cạnh Anh Thơ, Mộng Tuyết, Hằng Phương cũng là một nữ sĩ có nhiều đóng góp cho phong trào Thơ mới. Hằng Phương nhập cuộc làng thơ bằng bài thơ đầu tay Nhớ con nhỏ Bội Trinh (1929) đăng trên tờ Phụ nữ tân văn. Từ đó, Hằng Phương cũng có nhiều thơ đăng trên các báo Đàn bà, Tri tân, Ngày nay, Hà Nội tân văn, Phụ nữ tân văn và in chung với Anh Thơ, Mộng Tuyết, Vân Đài tập thơ Hương Xuân (1943).
Không phải ngẫu nhiên mà Xuân Diệu đã từng cho rằng chữ “Tâm” là mạch cảm xúc chính trong thơ Hằng Phương. Nét nổi bật trong thơ bà là tâm hồn đầy ắp yêu thương, là niềm khắc khoải khôn nguôi của một người con luôn gắn bó với cội nguồn:
            Mòn mỏi ngày đêm trông lại trông
            Cố hương xa cách mấy nghìn trùng
                                   
(Tự cố hương)
Nếu Mộng Tuyết thường lấy nguồn xúc cảm của tâm hồn mình để phủ lên mọi vật thì Hằng Phương dường như ngược lại. Cảnh vật bình dị xung quanh luôn là những đề tài mang lại cho bà nguồn cảm hứng, tứ thơ. Mỗi ban mai thức dậy, nhà thơ phát hiện ra:
            Sương đêm còn đọng trên cành
            Rưng rưng hạt ngọc long lanh nhìn trời
                                   
(Bình minh)
Nếu Anh Thơ có “Bức tranh quê” thì Hằng Phương lại có “Lòng quê” Anh Thơ lấy phong cảnh quê hương làm đối tượng thẩm mỹ, còn Hằng Phương lại lấy “tình quê” của mình làm đối tượng để giải bày nguồn thi hứng. Những bài thơ viết về quê hương của Hằng Phương như Lòng quê, Tự cố hương, Tiễn biệt là những bài thơ hay được bạn đọc chú ý:
            Anh đưa em đến vườn đào
            Màu tươi sắc thắm em nào dám chê
            Nhưng em luống nặng lòng quê

            Nhớ thương cảnh cũ bốn bề núi non
            Nhớ nơi làng xóm con con
            Nhớ hương cây quế chon von trên đồi           
                                               
(Lòng quê)
Cái hay của bài thơ không phải là âm sắc, giọng điệu mà là cái tình chân chất, chan chứa trong tâm hồn thi nhân.
Âm điệu chính trong thơ Hằng Phương là “êm dịu ngọt ngào”. Nhưng đôi khi trong thơ bà ta thấy ánh lên những nét triết lý của một tâm hồn đầy trải nghiệm, suy tư. Trong bài thơ Tết xưa nhà thơ dường như đã thấy trong cái hiện tại, những qui luật của sự sống:
            Những ngày vui sao chẳng được bao lăm
            Vừa mới đó, cuộc đời đã khác trước.
Hoài Thanh cho rằng thơ Hằng Phương “ít dấu tích của thơ Đường” nhưng ta thấy ngôn ngữ trong thơ bà vẫn còn hơi hướng của ngôn ngữ thơ cổ với những từ như “nhung y”, “trâm anh thế phiệt”, “phỉ chí tang bồng”, lớp ngôn ngữ đó sau này đã được nhà thơ khắc phục dần ở những bài thơ viết ở giai đoạn sau.
Với 80 thi nhân của phong trào Thơ mới (1), những cây bút nữ chỉ chiếm hơn 10% với 9 gương mặt Nguyễn Thị Manh Manh, Anh Thơ, Vân Đài, Mộng Tuyết, Mộng Sơn, Ngân Giang, Thu Hồng, Cẩm Lai, Hằng Phương. Trong vườn hoa muôn sắc màu của Thơ mới, những cây bút thơ nữ chưa phải là những bông đại đoá, hướng dương, ngạt ngào hương sắc. Họ chỉ là những bông hoa đồng nội sắc màu êm dịu với mùi hương thâm trầm kín đáo, nhưng thiếu nó, vườn hoa Thơ mới sẽ kém màu rực rỡ và thiếu đi sự ấm áp tròn đầy. Và khi nhắc đến Thơ mới, ta cũng không thể không nhắc đến họ với vị trí của người trong cuộc, với những đóng góp không thể phủ nhận.

LÊ DỤC TÚ
(nguồn: TCSH số 149 - 07 - 2001)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • THỦY TRIỀU SUNG HUYỀN"Đây thôn Vĩ Dạ" là một bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử đã từng có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau. Đành rằng ngôn ngữ thơ ca thường hàm súc, cô đọng, đa nghĩa do đó có thể có nhiều cách tiếp cận tác phẩm.

  • NGUYỄN DƯƠNG CÔNMỗi loại hình nghệ thuật ngôn từ đều có phong cách riêng trong cư xử với đối tượng mà nó phản ánh. Chính vì thế, đề tài tiểu thuyết trong khi mang những tính chất chung có của mọi thể loại văn học, nó đồng thời mang những tính chất riêng chỉ có của thể loại tiểu thuyết.

  • VĂN TÂMNhà thơ Bằng Việt (tên thật Nguyễn Việt Bằng) tuổi Tỵ (1941) quê "xứ Đoài mây trắng lắm", là một trong những thi sĩ bẩm sinh của thơ ca Việt hiện đại.

  • THANH THẢOHoàng Phủ Ngọc Tường có tập thơ "Người hái phù dung". Hoa phù dung sớm nở tối tàn, vẫn là loài hoa hiện hữu trong một ngày.

  • JOSH GREENFELDNgười Nhật vốn nổi tiếng vì tính bài ngoại của họ, thể hiện qua nghệ thuật cắm hoa và trà lễ. Tuy nhiên cũng từ rất lâu rồi nhiều nhà văn Nhật Bản vẫn quyết liệt phấn đấu mong tìm kiếm một chỗ đứng đáng kể trên các kệ sách của các thư viện nước ngoài. Họ làm thế không chỉ vì có nhiều tiền hơn, danh tiếng hơn mà còn vì một điều rằng những ai có tác phẩm được dịch nhiều ở nước ngoài thì sẽ được trân trọng, chờ đón ở trong nước!

  • BỬU NAM            Kỷ niệm 200 năm ngày sinh của văn hào Victor Hugo (1802 - 2002)1. Người ta thường gọi Hugo là “con người đại dương”. Bởi sự vĩ đại của tư tưởng và sự mệnh mông của tình cảm của ông đối với nhân dân và nhân loại, bởi sự nghiệp đồ sộ của ông bao hàm mọi thể loại văn học và phi văn học; bởi sự đa dạng của những tài năng của ông in dấu ấn trong mọi lĩnh vực hơn hai thế kỷ qua trong nền văn học và văn hóa Pháp. Đến độ có nhà nghiên cứu cho rằng: Tất cả những vấn đề lớn của nhân loại đều hàm chứa trong các tác phẩm của Hugo như “tất cả được lồng vào tất cả”.

  • LẠI MAI HƯƠNGTiểu thuyết Những người khốn khổ có một số lượng nhân vật nữ rất đông đảo, nhưng mỗi nhân vật mang một sức sống riêng, một sinh lực riêng bởi nghệ thuật xây dựng các nhân vật này không hoàn toàn đồng nhất. Bài viết sẽ đi vào khảo sát một số nữ nhân vật tiêu biểu, bước đầu thử tìm hiểu thủ pháp xây dựng và cái nhìn của Hugo đối với loại nhân vật này.

  • PHẠM THỊ LYTôi viết những dòng này vì biết rằng giáo sư Cao Xuân Hạo sẽ không bao giờ trả lời bài viết của một tác giả như anh Phạm Quang Trung và những gì mà anh đã nêu ra trong bài "Thư ngỏ gửi Giáo sư Cao Xuân Hạo đăng trên Tạp chí Sông Hương số 155, tháng 1-2002.

  • LÝ HOÀI THU“Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương” ( *) (nguyên bản: Hoàng Hà luyến, Hồng Hà tình) là tác phẩm hồi ký của bà Trần Kiếm Qua viết về lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn và đại gia đình Trung Việt của ông. Bằng sức cảm hoá của những dòng hồi ức chân thực, tác phẩm của phu nhân tướng quân đã thực sự gây xúc động mạnh mẽ trong lòng bạn đọc Việt .

  • NGUYỄN BÙI VỢICách mạng tháng Tám thành công, Phùng Quán mới 13 tuổi. Mồ côi cha từ năm 2 tuổi, cậu bé sinh ra ở làng Thuỷ Dương xứ Huế chỉ được học hết tiểu học, sáng đi học, chiều giúp mẹ chăn trâu, có năm đi ở chăn trâu cho một ông bác họ.

  • TRẦN HUYỀN SÂM Người tình là một cuốn tiểu thuyết hiện đại nổi tiếng của M.Duras. Tác phẩm đoạt giải Goncourt 1984, và đã từng gây một làn sóng xôn xao trong dư luận. Người tình được tái bản nhiều lần và được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Tác phẩm cũng đã được chuyển thành kịch bản phim 1992 (qua đạo diễn Jean-Jacques Annaud).

  • ĐÀO NGỌC CHƯƠNGCho đến nay những ý kiến về phương diện thể loại của tác phẩm Chơi giữa mùa trăng của Hàn Mặc Tử vẫn chưa thống nhất. Theo Trần Thanh Mại, đó là bài văn xuôi: “Nay xin đơn cử ra đây một vài đoạn của một bài văn xuôi của Hàn để chứng tỏ thêm cái sức cảm thụ vô cùng mãnh liệt ở nơi nhà thơ lạ lùng ấy.

  • TRẦN NHẬT THƯTrong tiến trình nghệ thuật nhân loại, bên cạnh một thế giới hết sức “quan phương”, “hoàn kết” bao giờ cũng là một “thế giới lộn trái” đầy mê hoặc.

  • NGUYỄN XỚNXét trên quy mô toàn cầu, vào những năm cuối của thế kỷ XX, trước sự phát triển phi mã của công nghệ và ý thức máy tính, văn học đã biểu hiện nhiều vấn đề rất đáng quan tâm. Thực tế này được mang vào thế kỷ mới một cách dễ dàng, không hề gặp một sự kiểm soát nào.

  • BÙI MINH ĐỨCLGT: Công trình khảo cứu dưới đây, phần lớn đã được công bố trong Hội thảo khoa học “Tây Sơn - Thuận Hóa và Anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ - Quang Trung”. Một số báo, tạp chí đã lược trích đăng một phần bài viết. Mới đây, tác giả-bác sỹ Bùi Minh Đức (Hội viên Hội Tai Mũi Họng và Đầu Cổ Hoa Kỳ (Fellow), Hội viên Hội Mũi Học Hoa Kỳ (Fellow), Hội viên Hội Tai Mũi Họng và Đầu Cổ Đức Quốc (FachArzt HNO), nguyên Chủ nhiệm Bộ Môn Tai Mũi Họng, Đại học Y Khoa Huế trước 1975) đã gửi cho SÔNG HƯƠNG công trình khảo cứu này (có sửa chữa và bổ sung) để độc giả tạp chí có đầy đủ tư liệu. Trân trọng những lý giải khoa học hết sức mới mẻ của tác giả, SÔNG HƯƠNG xin giới thiệu toàn văn công trình này.

  • BỬU NAM Gặp Trần Đình Sử trong một hội thảo lớn toàn quốc, hội thảo "Tự sự học" do anh đồng khởi xướng và đồng tổ chức, tôi xin anh một cuộc trò chuyện về tình hình lý luận và phê bình văn học hiện nay. Anh vui vẻ gật đầu và nói: "Gì thì gì không biết, chứ với Tạp chí Sông Hương, tôi không thể khước từ. Trước hết, đây là một tạp chí văn học đứng đắn, có sắc thái riêng, vả lại còn là tình cố hương, bởi dù gì thì gì tôi vẫn là người con của xứ Huế cố đô."

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO(Nhân đọc 2 bài viết của Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Hòa)*

  • PHẠM PHÚ PHONGNguyễn Huy Thiệp là một trong những hiện tương văn học hiếm hoi. Ngay từ những truyện ngắn đầu tay như Huyền thoại phố phường, Muối của rừng, Tướng về hưu... tên tuổi của anh đã nổi bật trong và ngoài nước.

  • PHONG LÊ(Nhìn từ bình diện ngôn ngữ)Dân tộc là một phạm trù lịch sử. Văn học dân tộc do vậy cũng là một phạm trù lịch sử, hình thành và phát triển theo lịch sử.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN“…Tất cả những sự cách tân này cần thiết cho sau đó một chủ nghĩa cổ điển mới có thể xuất hiện…”            Paul Valéry