Không phải đền đài, lăng tẩm uy nghi mà chính những điều bình dị như góc phố yên bình hay giọng nói ngọt ngào đã để lại nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng du khách.
Con đường xanh trong thành phố Huế. (Ảnh: Lê Duy Hưng - VNE)
Đến Huế để cảm nhận nét đẹp dịu dàng, thơ mộng của một thành phố hàng trăm năm tuổi với những dấu ấn khó phai mờ.
Những góc phố bình yên
Yên bình, đó là điều mà bất kỳ ai cũng phải thốt lên khi đặt chân đến Huế. Là thành phố du lịch nổi tiếng cả nước nhưng Huế không xô bồ, vội vã như nhiều nơi khác. Những ngôi nhà xưa cũ, con đường rợp bóng cây xanh, dòng sông Hương phẳng lỳ soi bóng cùng vòng quay xe đạp đều đều trên phố mang đến hơi thở chậm rãi cho mảnh đất cố đô.
Tuy nhiên, khác với Hội An, vẻ đẹp bình yên của Huế có pha nét buồn man mác. Đó có thể đến từ những bức tường rêu phong in dấu thời gian giữa lòng thành phố, hay những cơn mưa dai dẳng khơi gợi nỗi nhớ thương trong tâm hồn người lữ khách.
Dịu dàng tà áo trắng
Chỉ một tà áo dài thoáng qua cũng đủ gợi nét dịu dàng xứ Huế. Tuy nhiên, nếu dạo phố đúng vào giờ tan học, hàng dài xe đạp phất phơ tà áo lụa có thể khiến bạn phải ngẩn ngơ. Chẳng biết từ bao giờ, chiếc áo dài truyền thống được chọn làm đồng phục cho nữ sinh ở nhiều trường trung học Huế.
Trong khi màu trắng gợi nét đẹp trang nhã, tinh khôi thì màu tím áo dài lại tôn lên vẻ dịu dàng, đằm thắm cho người con gái Huế. Cùng với chiếc nón bài thơ, những tà áo dài thướt tha, duyên dáng đã góp phần làm cho phong cảnh của sông Hương, núi Ngự thêm phần quyến rũ và trở thành biểu tượng đẹp về Huế mỗi khi nhớ về.
Giọng nói ngọt ngào
Có thể với nhiều người, giọng Huế không dễ nghe cho lắm. Bởi ngoài những từ ngữ lạ tai như "chi, mô, răng, rứa", cách sử dụng thanh ngã lẫn vào thanh hỏi cũng khiến không ít du khách bối rối khi giao tiếp lần đầu. Nhưng dường như điều đó chẳng thể ngăn nổi sức hút khó cưỡng từ chất giọng ngọt ngào, nhỏ nhẹ của những người con xứ Huế.
Bởi thế, chỉ cần qua những câu nói thường ngày như hỏi đường người dân trên phố, hay trò chuyện với cô bán hàng rong, cũng đủ để bạn cảm nhận được sự yêu thương, gần gũi. Chất giọng mượt mà, sâu lắng ấy còn khiến không ít trái tim lỡ nhịp khi được cất lên cùng những giai điệu ngọt ngào của các ca khúc viết về mảnh đất sông Hương.

Ánh chiều quyến rũ trên phá Tam Giang. (Ảnh: Lam Linh - VNE)
Hoàng hôn trên phá Tam Giang
Huế nổi tiếng với vẻ đẹp đượm buồn và ấn tượng đó càng trở nên sâu sắc khi du khách đón hoàng hôn trên phá Tam Giang, nơi cách thành phố khoảng 15 km. Trước hết là cảm giác lẻ loi, nhỏ bé khi ngồi thuyền dạo chơi giữa mênh mông sóng nước, đón cơn gió từ phá thổi vào mát lạnh đến tận tâm can. Để rồi theo ánh tà dương buông dần phía cuối chân trời, du khách như choáng ngợp trước cảnh đầm phá phủ một màu màu tím thẫm. Chính màu chiều tím hoàng hôn hiếm nơi nào có được ấy đã khơi nguồn cảm hứng cho những sáng tác thơ, ca, nhạc, họa và để lại trong lòng du khách một nỗi nhớ khôn nguôi.
Cuốn hút ẩm thực dân dã
Bên cạnh sự cầu kỳ, tinh tế của ẩm thực cung đình, thì nét thanh tao, phong phú của ẩm thực dân gian lại chính là điểm níu chân du khách. Đến Huế một lần bạn khó có thể thưởng thức hết các món ăn dân dã ở Huế nếu chỉ gói gọn trong một kỳ vài ngày. Đó là các loại bánh như bánh bèo, bánh nậm, bánh ướt, bánh khoái, bánh bột lọc, cùng các loại chè như chè sen, chè thịt quay, chè đậu đỏ, chè bông cau, chè hạt lựu...

Bánh bèo Huế. (Ảnh: Lê Duy Hưng - VNE)
Ngoài ra Huế còn nổi tiếng với mon cơm hến, bún bò, bún thịt nướng, bánh canh, nem lụi... Món Huế không nặng về lượng mà thiên về chất, hương vị nhẹ nhàng mà trình bày cũng rất hài hòa, đẹp mắt. Thêm vào đó, giá rẻ bất ngờ cũng là điểm cộng cho đồ ăn ở nơi đây.
Theo Vy An (VnExpress)
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.