PHẠM HẠNH THƯ
Du lịch Huế xưa
Du lịch Huế có một lịch sử thơ ca dân gian gắn liền với những bước phát triển của mình.
Cung An Định - Ảnh: Phan Văn Chiến
Thời đất nước còn loạn ly, người ta mơ mộng xứ Huế qua các câu hát:
Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Yêu em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.
Niềm mơ mộng cứ day dứt mãi cho cho đến khi quan nội tán Nguyễn Khoa Đăng khai phá, dọn một con đường du lịch Huế. Người ta truyền tụng nhau câu hát trả lời, mời gọi vào thăm xứ Huế:
Phá Tam Giang ngày nay đã cạn
Truông nhà Hồ nội Tán cấm nghiêm
Đường du lịch Huế bắt đầu rộng mở, nhất là khi Huế trở thành kinh kỳ. Khách từ Bắc Hà, Nam Hà rộn ràng đến chiêm ngưỡng xem xứ Huế. Theo các nhà sử học, vào thời ấy Triều đình Huế đã cho dựng ở ngoại thành Huế Nam Đình, phía nam Sông Hương và Bắc Đình, phía bắc Sông Hương để tiếp đón và đưa tiễn khách vào Nam ra Bắc. Chính ở đây khách có những buổi gặp gỡ sơ ngộ, tạo nên một tình cảm ban đầu với xứ sở mình đang đặt chân tới.
Đấy có lẽ là những văn phòng hướng dẫn du lịch đầu tiên của ngành du lịch Huế. Cho đến mai kia, năm 2000 chẳng hạn, khi bước qua ngưỡng cửa vùng du lịch, chúng ta vẫn không quên rằng chúng ta đã bắt đầu lịch sử của mình từ cái nề nếp văn minh lịch sự có tính chất truyền thống đó.
Du lịch Huế đã có một quá khứ đẹp như vậy, và từ trong quá khứ ấy đang chất chứa một mầm mống của tương lai.
Du lịch Huế trong tương lai xa.
Hãy lấy thí dụ đó là một năm 2002, thay cho Bắc Đình và Nam Đình, du khách trong và ngoài nước đến Huế theo chương trình “Châu Á bao la và huy hoàng” sẽ được đón tiếp bằng những công trình phục vụ tự động hóa, hiện đại và tiện nghi.
Tại các khu lăng tẩm của các vua triều Nguyễn, các danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử văn hóa khác, du khách sẽ được sống lại trong không khí của một cố đô nguyên vẹn bằng những công trình nghệ thuật đã được trùng tu hoàn chỉnh, và bằng cả một hệ thống video cassette diễn lại y như thật các sự tích, các nhân vật lịch sử của Huế phục vụ theo yêu cầu của từng du khách. Việc tổ chức đưa du khách đi tham quan diễn ra rất khoa học đến nỗi chỉ trong vòng một ngày, người ta có thể nắm được những hiểu biết phổ thông về Huế ngang bằng với kiến thức trong tập bách khoa Huế ABZ. Một hệ thống phục vụ ăn uống cũng đã được thiết lập ở mức chuyên môn hóa và hiện đại hóa, để du khách vừa đi tham quan hoặc vừa ngồi ngắm cảnh vừa thưởng thức những món ăn đặc sản tuyệt vời của Huế. Đây là hệ thống tự động hóa hoàn toàn nhưng làm việc rất tế nhị, để trong một thời gian rất ngắn, du khách có thể nếm được hết các món ăn Huế. Các nhà Huế học cho biết có tất cả 1.200 món ăn Huế khác nhau.
Có thể nói các hệ thống hoạt động răm rắp y như một nhà máy, tuy không có khói nhưng thật là khổng lồ. Bởi vì nó muốn “tiêu diệt” trọn vẹn 75% chi phí bằng ngoại tệ của du khách. Số liệu phân tích của nhà máy khổng lồ này đến lúc đã tỏ ra rất phù hợp với số liệu thống kê của du lịch quốc tế (O.M.T.): 30% chi tiêu của khách du lịch để ngủ, 25% để ăn, 10% để vui chơi, giải trí, 5% để đi lại.
25% còn lại của du khách để mua quà lưu niệm được một hệ thống mua bán khác đảm trách. Hệ thống này có tiền thân là Cửa hàng lưu niệm thuộc Công ty du lịch Huế nằm trên đường Lê Lợi hiện nay. Nay nó đã thực sự trở thành một xí nghiệp liên hiệp tập hợp hàng trăm cơ sở với hàng vạn thợ thủ công mỹ nghệ, họa sĩ, nghệ nhân làm việc cho nó. Có thể tìm thấy ở đây những đồng tiền cổ thời Tây Sơn đến các túi du lịch kiểu mới mang dấu hiệu Mundial 2002 của cô thợ thêu ở làng thêu Thuận Lộc. Ở đây cũng cần mở dấu ngoặc, do ngành du lịch phát triển đã giúp cô xuất khẩu tại chỗ sản phẩm, công việc mà trước đây qua rất nhiều ngành nhiều cấp nhiều thời gian mới lấy lại được phần công lao động của mình.
Đến lúc này, phải công nhận cổ máy du lịch Huế đã tỏ ra rất đắc lực trong việc giúp du khách tiêu hết 100% số tiền mang theo trong chương trình tham quan cố đô. Một vị khách nước ngoài với xâu thanh trà lủng lẳng bên vai, trước khi rời Huế phát biểu: “Chúng tôi cũng thích những căn nhà yên tĩnh thơ mộng bên dòng sông Hương. Chúng tôi mong có dịp đến sống ở đó với cuộc sống của các bạn.
Như vậy, bên cạnh du lịch hiện đại, du lịch nhân dân cũng hấp dẫn du khách không kém. Hai phương pháp này bổ sung và hoàn thiện cho nhau. Hãy tưởng tượng đó là một cổ máy khổng lồ hái ra vàng cho thành phố y như câu chuyện thần kỳ. Một câu chuyện chỉ có trong tưởng tượng.
Đúng là một câu chuyện tưởng tượng. Nhưng biết đâu, những gì chúng ta đang mơ ước, hoặc xem là chuyện viễn tưởng thì ngày mai sẽ trở thành sự thật, khi mà “cánh cửa vàng” đã mở.
Biết đâu sức tưởng tượng của chúng ta ở thế kỷ 20 này còn kém xa thực tế xảy ra ở thế kỷ 21. Thế kỷ của Rôbô tìm cách làm việc, còn con người thì tìm cách đi tham quan du lịch.
Tuy vậy, để bước sang thế kỷ mới, điều trước tiên là hãy mở cánh cửa hiện đại của mình.
Du lịch Huế hiện nay như thế nào?
Có thể trả lời ngay: đó là một cánh cửa nặng nề và rất nhỏ hẹp. Du khách bước qua đó sẽ rất khó khăn. Vì như một đồng chí có trách nhiệm trong ngành cho biết, chúng ta chưa có đủ chỗ để đón khách (60 giường - đó là tất cả những gì Công ty du lịch Huế đang có, con số không thể nói là khiêm nhường mà quả thật là quá đáng buồn). Một số phòng ngủ đang được gọi là khách sạn thì không đủ tiện nghi, ngay cả tiện nghi tối thiểu như điện, nước, chẳng là ngành du lịch Huế bắt đầu sự nghiệp của mình với 5.000 đồng vốn vào năm 1985. Và số tiền lời du lịch mang lại cho thành phố năm 1987 là 3 triệu đồng. Tính ra mỗi người dân Huế được hưởng 30đ/năm trên biết bao nhiêu vốn liếng mà bao đời ông cha để lại bằng các công trình kiến trúc văn hóa, nghệ thuật, các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh được dày công tô vẽ. Mà số tiền 3 triệu đồng ấy chưa hẳn là đã được thu toàn bộ bằng những dịch vụ du lịch. Và nếu so sánh một cách chính xác về hiệu quả kinh tế thì số tiền lời kia còn thấp thua xa số tiền kiếm được của một tư nhân trước đây là chủ một hai phòng ngủ, khách sạn.
Đi sâu tìm hiểu, chúng tôi thấy có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã ghìm cánh cửa du lịch Huế. Những nguyên nhân ấy là có thực và nếu được trình bày một cách đầy đủ chắc chắn ít ra là phải mất hơn một trang giấy với những gạch đầu dòng. Nào là vốn đầu tư, nào là cơ chế bộ máy, nào là việc lãnh đạo, chỉ đạo v.v... và v.v... Nhưng rõ ràng tất cả những nguyên nhân đã ghìm cánh cửa du lịch Huế lại, dù xuất phát từ một thực tế khó khăn nào, không phải là không có cách giải quyết, nhất là trong tình hình hiện nay, khi mà Nghị quyết VI của Đảng đã “bật đèn xanh” cho ngành du lịch và Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định công nhận Huế là 1 trong 10 trung tâm du lịch quốc tế trong nước. Rõ ràng, trước hết, một sự thúc bách hàng đầu là tự thân Huế phải vượt qua trạng thái tĩnh, tĩnh đến độ buồn rầu bao nhiêu năm nay. Một trạng thái tĩnh của người tham thiền ngày ngày mơ mơ màng màng nhìn những chiếc ô tô du lịch của người bạn láng giềng đều đặn đưa khách quốc tế ghé lại, với tấm vé vào cửa rồi lại ra đi. Bởi vậy, một nhân viên bán vé tham quan ở cổng Đại Nội nói: “Thật là vô lý, chúng ta thì bỏ ra biết bao nhiêu kinh phí để trùng tu, sửa chữa, còn họ thì... thu tiền”. Hơn cả nỗi buồn và sự ganh tỵ, người nhân viên bán vé nọ đã nói lên một nỗi bức xúc trước một thực tế. Thực tế ấy nhiều khi thật khó tin nhưng mà có thật. Có thật đến 90% đối với lời phát biểu của người nhân viên bán vé nọ, vì dù sao thì cũng phải trừ 0,1% tiền bán vé mà ngành du lịch BTT đã thu được của các vị khách. Cũng thật buồn cười, một khu di tích như Đại nội mà chỉ với giá tiền không bằng một cốc nước giải khát du khách có thể đi tham quan tự do từ điện này đến cung kia không trừ một chỗ nào!
Hãy chọn một con đường
Nhà văn Lỗ Tấn khi nói về con đường, ông ngụ ý khuyến khích con người hãy biết tưởng tượng và sáng tạo cho chính mình một lối đi, đó là chân lý đơn giản, vì một lẽ dễ hiểu, chỉ có sự chết mới dừng lại. Trong mỗi một hoàn cảnh đều phải chọn con đường để đi. Trong hoàn cảnh thành phố Huế với nguồn kinh phí ít ỏi của mình, chắc chắn còn lâu mới có đủ khả năng hiện đại hóa công việc tiếp đón du khách nước ngoài (nhưng không phải vì thế mà không được tiếp khách nước ngoài như những ràng buộc trước đây đối với ngành du lịch Huế). Đây là một con đường phải vượt qua rất nhiều trái núi cao, đến che mất mục tiêu của mình. Và như vị khách phát biểu ở trên, ngôi nhà với cuộc sống hòa bình yên ả của dân cũng có sức quyến rũ không thua gì một khách sạn đầy đủ tiện nghi và đôi khi còn thú vị gấp mười lần hơn đối với những người đã sống quen với những tiện nghi. Và, như vậy, nếu hôm nay chúng ta chưa có những khách sạn tiện nghi, thì ít ra chúng ta cũng đã có những ngôi nhà như vậy cho du lịch. Hãy thử tưởng tượng chúng ta là những du khách từ những thủ đô Luân Đôn, Paris, Matxcơva hay bất cứ một thành phố công nghiệp nào khác trên thế giới đến tham quan cố đô Huế thì giữa khách sạn Hương Giang 1, hoặc Hương Giang 2 đang khởi công xây dựng, và những ngôi nhà dân giả yên ả giữa những vườn cây trái bên bờ sông ở Nguyệt Biều, Kim Long hay Vỹ Dạ chúng ta sẽ chọn cái nào? Rõ ràng đó là một con đường phải được chạy bằng chỉ vàng trên đồ án du lịch của Huế, một con đường có lẽ không một nơi nào trên đất nước có đủ nét hấp dẫn như thế.
Thế gian vốn không có đường, nhiều người đi lại mới thành đường. Cũng giống như vậy, hãy để nhiều người đi lại sẽ thành một ngành du lịch, một ngành du lịch của nhân dân. Tất cả mọi người dân đều làm du lịch, theo một cách nào đó sẽ thành một con đường du lịch rầm rộ. Du lịch lúc đó sẽ trở thành một phong trào xã hội và các cơ cấu kinh tế sẽ xuất hiện chung quanh nó như một tất yếu của qui luật khách quan. Du lịch nhân dân không chỉ giải quyết những sự vụ của du khách, mà còn giúp họ đạt được những cảm giác bắt gặp trong mộng tưởng, trong cảm giác ban đầu khi khoanh vùng chọn điểm tham quan.
Câu chuyện sau đây bắt đầu từ ước muốn của một người vốn sinh trưởng ở phía Bắc, đang công tác ở huyện Phú Lộc. Anh mong có dịp được đi thuyền trên sông Hương, sống trong một ngôi nhà vườn của Huế y như cảm xúc anh bắt gặp khi đọc trang bút ký “Hoa trái quanh tôi”, hoặc khi ngâm nga dòng thơ “Đây thôn Vỹ” của Hàn Mặc Tử. Anh mơ thấy mình khuất sau hàng chè tàu kín đáo, màu hoa khế rải tím đầy những lối đi nhỏ, và những đợt sóng lăn tăn vỗ về quanh giấc ngủ. Thế nhưng những năm nay, bao lần lên phố họp mà ước muốn anh vẫn chưa được thỏa mãn. Anh không được một chỉ dẫn nào. Anh chỉ thấy du lịch với những phòng ngủ y như những phòng ngủ của nhà khách cơ quan, những quầy cà phê y như các quán cà phê mà anh uống ở đâu đó. Cảm xúc dần dần mất đi một cách bí ẩn, cũng như lần nào đã đến rất bí ẩn dưới ngôn ngữ phù phép của nhà văn. Một ngôi nhà trong khu vườn tịch mịch để anh có thể sống trọn vẹn một ngày, nào đâu phải ly kỳ như chuyện nghìn lẻ một đêm. Vậy mà anh vẫn không tìm được ở đâu hết trong rất nhiều ngôi nhà đúng như anh ao ước ở Nguyệt Biều, Kim Long, Vỹ Dạ... mà anh trông thấy.
Một người khách Việt kiều lúc về thăm Huế cũng có ý nghĩ như vậy khi bị phòng ngủ khách sạn nhốt suốt cả thời gian lưu trú.
Ngày nay du lịch nhân dân không còn là con đường xa lạ đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Đó là những sứ giả của những nền văn hóa khác nhau, đang tìm đến nhau bằng con đường giản dị nhất. Họ có những nhu cầu mà ngay cả những khách sạn hiện đại nhất, phương thức phục vụ tối tân nhất vẫn không thỏa mãn được. Trên thực tế có thể xem họ là những sứ đồ của Salinger(*) đang chạy trốn thế giới kỹ thuật hóa nền văn minh bằng con đường du lịch, với khát vọng tìm đến thế giới tự nhiên. Hay họ là gì đi nữa thì không người nào lại bỏ tiền bỏ của ra để đi tham quan nghỉ ngơi ở những nơi chẳng có gì khác lạ với cái mình đã có. Bởi vậy, cái mà những du khách nước ngoài và cả trong nước không có trước hết, là những ngôi nhà thơ mộng yên tĩnh bên bờ sông ở Huế. Dưới những ngôi nhà này chắc chắn khách sẽ hiểu biết cuộc sống, sinh hoạt và truyền thống văn hóa của một vùng đất, hiểu biết một cách sinh động hơn cả những kiến thức trong sách vở viết về Huế.
Đồng chí L.B.S, chủ nhiệm một khoa của Trường Đại học tài chính, vừa rồi, sau chuyến đi thăm Huế, phát biểu: “Du lịch mới chính là con đường phát triển kinh tế của Huế". Lời phát biểu này làm chúng tôi nhớ lại một cuộc tiếp xúc thân mật tại trụ sở - Tạp chí Sông Hương - Cuộc tiếp xúc giữa Ban biên tập, một số cộng tác viên nghiên cứu về văn hóa và Đoàn quy hoạch thuộc Viện thiết kế Trung ương. Trong buổi tiếp xúc này nhiều ý kiến đều thống nhất một quan điểm giống như nhau, cũng giống như ý kiến của đồng chí L.B.S: Công tác du lịch, văn hóa phải là công tác hàng đầu đối với Huế. Chị Thanh Thủy, Phó tiến sĩ kiến trúc, trưởng đoàn quy hoạch, người sẽ đảm trách bản đồ án quy hoạch toàn thể thành phố Huế đã phát biểu một ý rất hay. Theo chị, trong bản đồ án quy hoạch sắp tới, chị không thể nào chấp nhập được sẽ có một nhà máy có khói nào ở đây. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ ý kiến này bởi một lẽ đơn giản là: Huế đã có một nhà máy khổng lồ rồi, khác chăng là nó không có khói mà thôi. Hay nói một cách khác, Huế đã có một ngành công nghiệp quan trọng, đó là ngành công nghiệp du lịch. Ngành công nghiệp này nếu có khói thì chỉ là những đám khói chiều lam tím vương vấn trên hàng cây bay lên từ những gian bếp đang bận rộn tiếp khách phương xa...
P.H.T.
(SH32/08-88)
--------------
(*) Salinger: Nhà văn Mỹ.
Tải mã QRCode
TRẦN THỊ THANH…Núi Thuý Vân và chùa Thánh Duyên vì trước kia được xem là một trong những thắng cảnh của đất Thần Kinh nên các Chúa và các vua Nguyễn thường về đây thưởng ngoạn và làm thơ phú ca ngợi. Tuy nhiên, nổi tiếng hơn cả vẫn là những bài thơ được khắc trong hai tấm bia - một dựng trong chùa, một dựng dưới chân núi…
HỒ VĨNHĐồi Vọng Cảnh nằm cách thành phố Huế 7km về phía tây nam, vùng sơn phận này gồm nhiều núi đồi gối đầu lên nhau trong một khu vực rộng khoảng 2.400 ha diện tích đất tự nhiên. Về mặt địa hình của ngọn đồi, từ vị trí của tấm bia cổ Lý Khiêm Sơn (núi gối hậu của Khiêm Lăng - Tự Đức) kéo dài lên Vọng Cảnh là một dãy liên hoàn.
NGUYỄN QUANG HÀChùa Huyền Không Sơn Thượng tan trong non xanh và lá xanh. Dẫu đang còn tranh tre mộc mạc, nhưng thanh thoát, duyên dáng và thảnh thơi như lòng người ở đây. Đúng như nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh tâm sự: “Cảnh là tơ duyên của đời”. Đến Huyền Không Sơn Thượng cảm giác đầu tiên của tất cả du khách là thấy lòng mình ấm lại.
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHChùa Linh Mụ đẹp quá, nên thơ quá. Nói vậy cũng chưa đủ. Nó tịnh định, cổ kính, an nhiên, trầm mặc. Nói vậy cũng chưa đủ. Phải nói nó là một bài thơ Thiền lồng lộng giữa không gian mây nước, giữa khói sương, giữa mênh mang dâu bể và lòng người. Nó là bức tranh thủy mặc thuộc họa phái Sumiye, Nhật Bổn, mà, nét chấm phá tuy giản phác nhưng lung linh, ảo diệu; vượt thời gian và đi vào vĩnh cửu. Nó là bài kinh vô ngôn, tuy không nói một chữ, mà đã làm lắng đọng trăm ngàn xôn xao của cuộc thế; và, gợi nhắc vô biên cho con người hướng đến điều chân, lẽ thiện...
NGÔ MINHHuế trên 350 năm là thủ phủ Chúa Nguyễn Đằng Trong và Kinh Đô của Đại Việt đã tích tụ nhân tài, vật lực cả quốc gia tạo ra một hệ thống Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc và nổi tiếng như nhã nhạc, lễ hội dân gian, văn hóa ẩm thực... Trong Di sản văn hóa ẩm thực Huế, Văn hóa ẩm thực Cung đình là bộ phận tinh hoa nhất, giá trị nhất!
HÀ MINH ĐỨC Ký Sau chặng đường dài, vượt qua nhiều đồi núi của vùng Quảng Bình, Quảng Trị, khoảng 3 giờ chiều ngày 25/9/2003, đoàn chúng tôi về đến thành phố Huế. Xe chạy dọc bờ sông Hương và rẽ vào khu vực trường Đại học Sư phạm Huế. Anh Hồ Thế Hà, Phó Chủ nhiệm khoa Văn; chị Trần Huyền Sâm, giảng viên bộ môn Lý luận văn học cùng với các em sinh viên ra đón chúng tôi. Nữ sinh mặc áo dài trắng và tặng các thầy những bó hoa đẹp.
BĂNG SƠN Tuỳ bútDòng sông Hồng Hà Nội là nguồn sữa phù sa và là con đường cho tre nứa cùng lâm sản từ ngược về xuôi. Dòng sông Cấm Hải Phòng là sông cần lao lam lũ, hối hả nhịp tầu bè. Dòng sông Sài Gòn của thành phố Hồ Chí Minh là váng dầu ngũ sắc, là bóng cần cẩu nặng nề, là những chuyến vào ra tấp nập... Có lẽ chỉ có một dòng sông thơ và mộng, sông nghệ thuật và thi ca, sông cho thuyền bềnh bồng dào dạt, sông của trăng và gió, của hương thơm loài cỏ thạch xương bồ làm mê mệt khách trăm phương, đó là sông Hương xứ Huế, là dòng Hương Giang đất cố đô mấy trăm năm, nhưng tuổi sông thì không ai đếm được.
PHAN THUẬN THẢO Chiều chiều trước bến Vân Lâu Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm, Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông. Thuyền ai thấp thoáng bên sông, Đưa câu Mái đẩy chạnh lòng nước non. (Ưng Bình Thúc Giạ)
LÃNG HIỂN XUÂNChẳng hiểu sao, từ thuở còn thơ ấu, tôi đã có một cảm nhận thật mơ hồ nhưng cũng thật xác tín rằng: Chùa chính là nơi trú ngụ của những ông Bụt hay bà Tiên và khi nào gặp khó khăn hay đau khổ ta cứ đến đó thì thế nào cũng sẽ được giải toả hay cứu giúp!
BÙI MINH ĐỨCNói đến trang phục của các Cụ chúng ta ngày xưa là phải nhắc đến cái búi tó và cái khăn vấn bất di bất dịch trên đầu các Cụ. Các Cụ thường để tóc dài và vấn tóc thành một lọn nhỏ sau ót trông như cái củ kiệu nên đã được dân chúng đương thời gọi là “búi tó củ kiệu”. Ngoài cái áo lương dài, cái dù đen và đôi guốc gỗ, mỗi khi ra đường là các Cụ lại bối tóc hình củ kiệu và vấn dải khăn quanh trên đầu, một trang phục mà các cụ cho là đứng đắn nghiêm trang của một người đàn ông biết tôn trọng lễ nghĩa. Trang phục đó là hình ảnh đặc trưng của người đàn ông xứ ta mãi cho đến đầu thế kỷ thứ 20 mới bắt đầu có nhiều biến cải sâu đậm
MAO THUỶ THANH (*)Tiếng hát và du thuyền trên sông Hương là nét đẹp kỳ thú của xứ Huế. Trên sông Hương có hai chiếc cầu bắc ngang: cầu Phú Xuân và cầu Trường Tiền nhưng trước đây người dân Huế thường có thói quen đi đò ngang. Bến đò ở dưới gốc cây bồ đề cổ thụ, nằm đối diện với trường Đại học Sư phạm Huế. Một hôm, tôi và nữ giáo sư Trung Quốc thử ngồi đò sang ngang một chuyến. Trên đò đã có mấy người; thấy chúng tôi bước xuống cô lái đò áp đò sát bến, mời chúng tôi lên đò.
VÕ NGỌC LANBuổi chiều, ngồi trên bến đò Quảng Lợi chờ đò qua phá Tam Giang, tôi nghe trong hư vô chiều bao lời ru của gió. Lâu lắm rồi, tôi mới lại được chờ đò. Khác chăng, trong cảm nhận tôi lại thấy bờ cát bên kia phá giờ như có vẻ gần hơn, rõ ràng hơn.
HỒNG NHUTôi vẫn trộm nghĩ rằng: Tạo hóa sinh ra mọi thứ: đất, nước, cây cỏ chim muông... và con người. Con người có sau tất cả những thứ trên. Vì vậy cỏ cây, đất nước... là tiền bối của con người. Con người ngoài thờ kính tổ tiên ông bà cha mẹ, những anh hùng liệt sĩ đã mất... còn thờ kính Thần Đất, Thần Nước, Thần Đá, Thần Cây...là phải đạo làm người lắm, là không có gì mê tín cả, cho dù là con người hiện đại, con người theo chủ nghĩa vô thần đi nữa! Chừng nào trên trái đất còn con người, chừng đó còn có các vị thần. Các vị vô hình nhưng không vô ảnh và cái chắc là không vô tâm. Vì sao vậy? Vì các vị sống trong tâm linh của con người, mà con người thì rõ ràng không ai lại tự nhận mình là vô tâm cả.
MẠNH HÀTôi không sinh ra ở Huế nhưng đã có đôi lần đến Huế, khác với Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, Huế có nét trầm lắng, nhẹ nhàng, mỗi lần khi đến Huế tôi thường đi dạo trên cầu Trường Tiền, ngắm dòng Hương Giang về đêm, nghe tiếng ca Huế văng vẳng trên những chiếc thuyền rồng du lịch thật ấn tượng. Cho đến nay đã có biết bao bài thơ, bài hát viết về Huế thật lạ kỳ càng nghe càng ngấm và càng say: Huế đẹp, Huế thơ luôn mời gọi du khách.
VÕ NGỌC LANNgười ta thường nói nhiều về phố cổ Hội An, ít ai biết rằng ở Huế cũng có một khu phố cổ, ngày xưa thương là một thương cảng sầm uất của kinh kỳ. Đó là phố cổ Bao Vinh. Khu phố này cách kinh thành Huế chừng vài ba cây số, nằm bên con sông chảy ra biển Thuận An. Đây là nơi ghe, thuyền trong Nam, ngoài Bắc thường tụ hội lại, từ cửa Thuận An lên, chở theo đủ thứ hàng hoá biến Bao Vinh thành một thương cảng sầm uất vì bạn hàng khắp các chợ trong tỉnh Thừa Thiên đều tập trung về đây mua bán rộn ràng.
NGUYỄN XUÂN HOATrước khi quần thể di tích cố đô Huế được công nhận là di sản văn hoá thế giới, thành phố Huế đã được nhiều người nhìn nhận là một mẫu mực về kiến trúc cảnh quan của Việt Nam, và cao hơn nữa - là “một kiệt tác bài thơ kiến trúc đô thị” như nhận định của ông Amadou Mahtar M”Bow - nguyên Tổng Giám đốc UNESCO trong lời kêu gọi tháng 11-1981.
DƯƠNG PHƯỚC THU Bút kýXứ Thuận Hóa nhìn xa ngoài hai ngàn năm trước, khi người Việt cổ từ đất Tổ Phong Châu tiến xuống phía Nam, hay cận lại gần hơn bảy trăm năm kể từ ngày vua Trần Anh Tông cho em gái là Huyền Trân Công chúa sang xứ Chàm làm dâu; cái buổi đầu ở cương vực Ô Châu ác địa này, người Việt dốc sức tận lực khai sông mở núi, đào giếng cày ruộng, trồng lúa tạo vườn, dựng nhà xây đình, cắm cây nêu trấn trị hung khí rồi thành lập làng xã.
TRƯƠNG THỊ CÚCSông Hương, một dòng sông đẹp, sôi nổi với những ghềnh thác đầu nguồn, mềm mại quàng lấy thành phố như một dải lụa, hài hoà tuyệt diệu với thiên nhiên xinh đẹp và hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm, đền chùa; với hàng trăm điệu hò, điệu lý; với những ngày hội vật, hội đua trải, đua ghe; với mảnh vườn và con người xứ Huế, là nguồn cảm hứng vô tận của người nghệ sĩ, thu hút sự say mê của nhiều khách phương xa. Không những là một dòng sông lịch sử, sông Hương còn là không gian văn hoá làm nẩy sinh những loại hình nghệ thuật, những hội hè đình đám, là không gian của thi ca, nhạc hoạ, là dòng chảy để văn hoá Huế luân lưu không ngừng.
TÔN NỮ KHÁNH TRANG Khi bàn về văn hoá ẩm thực, người ta thường chú trọng đến ẩm thực cung đình, hay dân gian, và chủ yếu đề cập đến sinh hoạt, vai trò, địa vị xã hội... hơn là nghĩ đến hệ ẩm thực liên quan đến đời sống lễ nghi.
TRƯƠNG THỊ CÚC• Bắt nguồn từ những khe suối róc rách ở vùng núi đại ngàn A Lưới - Nam Đông giữa Trường Sơn hùng vỹ, ba nhánh sông Tả Trạch, Hữu Trạch và nguồn Bồ đã lần lượt hợp lưu tạo thành hệ thống sông Hương, chảy miên man từ vùng núi trung bình ở phía đông nam A Lưới, nam Nam Đông, băng qua những dãy núi đồi chập chùng ở Hương Thuỷ, Hương Trà, Phong Điền rồi xuôi về đồng bằng duyên hải, chảy vào phá Tam Giang để đổ nước ra biển Đông.