NGUYỄN VĂN HÙNG
Sau 1986, đời sống văn học Việt Nam có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Sự giao lưu kinh tế, văn hóa, sự bùng nổ các phương tiện thông tin truyền thông gắn với nhu cầu kết nối các giá trị văn chương quá khứ đã mở rộng không gian sáng tạo cho người cầm bút và không gian đọc cho cộng đồng độc giả.
Ảnh: internet
“Trở về”, “trở lại” hay “ra đi” được xem là nhu cầu tự thân của nền văn học thống nhất và hội nhập. Đời sống văn học Việt Nam đương đại chứng kiến những chuyển động đặc biệt: những cuộc “trở về” đầy cảm xúc và giàu ý nghĩa của các thế hệ nhà văn đã, đang sinh sống ở nước ngoài; những bước chân “trở lại” của các hiện tượng văn chương trong quá khứ; và những chuyến “ra đi” để viết của các cây bút chuyên và không chuyên. Chính sự dịch chuyển này đã góp phần làm cho đời sống văn học Việt Nam đương đại trở nên thống nhất, đa dạng, phong phú, nhiều tiếng nói hơn bao giờ hết.
Không gian của hành trình “trở về”
“Trở về” có thể được hiểu theo nhiều khía cạnh: đó có thể là chủ đề trong sáng tác của các tác giả; là trở về Việt Nam sinh sống và tiếp tục sáng tác; và cũng có thể là sự trở về của những tác phẩm được viết, xuất bản ở nước ngoài (bằng tiếng Việt hoặc dịch từ tiếng nước sở tại). Đầu tiên phải kể đến những cuộc trở về đầy cảm xúc và ý nghĩa của một thế hệ nhà văn vốn đã thành danh trong đời sống văn học miền Nam Việt Nam trước 1975. Trước khi sang định cư ở nước ngoài, tác phẩm của họ ít nhiều cũng đã được công chúng độc giả một thời yêu mến. Và nay, sau một thời gian vắng bóng, những sáng tác cũ và mới của các bậc lão thành được tái bản/xuất bản trong nước: Bình Nguyên Lộc (Ký thác, Những bước chân lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc, Hương quê), Lê Tất Điều (Đêm dài một đời, Những giọt mực), Nguyễn Mộng Giác (Sông Côn mùa lũ), Du Tử Lê (Tùy bút tuyển chọn, Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời, Giỏ hoa thời mới lớn, Khúc thụy du, Với nhau, một ngày nào), Kiệt Tấn (Người em xóm học, Em điên xõa tóc, Đêm cỏ tuyết, Lớp lớp phù sa), Tràng Thiên (Quê hương tôi, Tạp văn)... Với tâm niệm muốn tồn tại, không còn con đường nào khác là đưa văn học trở về với cội rễ của nó, các nhà văn đã bỏ qua những rào cản, định kiến, mặc cảm, để đưa những đứa con tinh thần của mình trở về với bầu khí quyển của chính nó - đất nước, văn hóa và con người Việt.
Sau thế hệ này, văn học Việt Nam ở hải ngoại chứng kiến sự trưởng thành vượt bậc của thế hệ cầm bút sau 1975. Họ là những nhà văn viết hoặc sinh sau 1975, tác phẩm của họ mang những hệ đề tài, chủ đề, cảm thức, lối viết mới. Khoảng mươi năm trở lại đây, dòng sách của các tác giả này được xuất bản ở Việt Nam khá nhiều, trong đó không ít tác phẩm được dư luận quan tâm và giới nghiên cứu, phê bình đánh giá cao; thậm chí có một số tác phẩm được vinh danh tại các giải thưởng thường niên ở Việt Nam. Có thể kể đến những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Văn Thọ (Vàng xưa, Quyên, Vườn mộng, Hương mỹ nhân), Lê Ngọc Mai (Tìm trong nỗi nhớ), Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau), Lý Lan (Nơi bình yên chim hót, Chiêm bao thấy núi, Đất khách, Tiểu thuyết đàn bà, Miên man tùy bút, Là mình), Việt Linh (Chuyện mình và người, Chuyện và Truyện), Lê Minh Hà (Gió tự thời khuất mặt, Phố vẫn gió, Truyện cổ viết lại, Cổ tích cho ngày mới, Thương thế, ngày xưa...), Nguyễn Phan Quế Mai (Cởi gió), Hoàng Khởi Phong (Người trăm năm cũ, Những con chuột thời thơ ấu), Đỗ Quyên (Dòng hải lý), Nam Dao (Trăng nguyên sơ, Đất trời), Lệ Tân Sitek (Một mình trên đường, Ngã ba đường), Cao Huy Thuần (Thấy Phật, Chuyện trò, Sợi tơ nhện, Người khuân đá), Trịnh Y Thư (Người đàn bà khác), Như Quỳnh de Prelle (Buổi sáng phủ định), Thái Kim Lan (Đốt lò hương ấy, Thư gửi con)... Đặc biệt là hiện tượng Thuận, nhà văn hiện đang sinh sống tại Pháp có lượng tác phẩm xuất bản ở Việt Nam tương đối nhiều và được công chúng độc giả trong nước đón nhận nồng nhiệt: Paris 11 tháng 8, Chinatown, T mất tích, Thang máy Sài Gòn, chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư... Bên cạnh hệ đề tài và chủ đề đặc trưng của văn học di dân như tha hương sầu xứ, cô đơn lạc loài, thân phận con người, khác biệt văn hóa và nỗ lực hòa nhập, xung đột, mâu thuẫn và sự hòa giải, hóa giải; dòng văn học này còn mở rộng biên độ hiện thực từ góc nhìn đa chiều, lối viết tân kì như đề tài lịch sử, chiến tranh/hậu chiến, cuộc sống đô thị, nông thôn, đời sống trí thức...
Hiện nay ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam đã hình thành một đội ngũ người cầm bút đồng thời thuộc về hai nền văn hóa: văn hóa Việt Nam và văn hóa của nước mà nhà văn định cư. Họ sinh ra ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài, có cha/mẹ là người Việt; lựa chọn tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc các thứ tiếng khác làm công cụ sáng tác. Đề tài, chủ đề, cảm hứng trong những sáng tác của họ mở rộng đến các vấn đề phổ quát của nhân loại về con người, nhân tính, bản ngã, thân phận, bản sắc... Chính sự lựa chọn này giúp các nhà văn hòa nhập vào dòng chảy của văn học ở nước họ đang định cư và được ghi nhận là nhà văn quốc tế. Không ít tác phẩm đặc sắc của những tài năng xuất phát từ đất Việt được dịch và đến với tay độc giả trong nước. Linda Lê, sinh năm 1963 tại Đà Lạt, cùng gia đình sang Pháp định cư năm 1977. Bà là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của văn chương đương đại Pháp. Tác phẩm của bà được giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao, được vinh danh ở nhiều giải thưởng quốc tế và được công chúng độc giả thế giới đón nhận nồng nhiệt. Tạp chí uy tín của Pháp Télerama đã đánh giá: “Linda Lê sở hữu biệt tài sáng tạo những kết hợp từ quý và hiếm, có khiếu đặc biệt với thứ ngôn ngữ bị lãng quên. Cũng như các nhân vật, từng từ ngữ của Linda Lê xuất hiện, thể hiện sự độc lập và độc đáo của mình. Đó chính là những điều tạo nên một nhà văn tài năng hiếm có”. Khoảng 10 năm trở lại đây, nhiều tác phẩm đặc sắc của nữ văn sĩ Pháp gốc Việt đã được dịch sang tiếng Việt như: Vu khống (2009), Lại chơi với lửa (2011), Thư chết (2014), Tiếng nói (2017), Sóng ngầm, Vượt sóng (2018). Nam Lê, sinh năm 1978 tại Kiên Giang, ba tháng tuổi theo gia đình vượt biên sang Úc. Anh là gương mặt nhà văn trẻ nổi bật của văn học Úc với tập truyện ngắn đầu tay Con thuyền gây tiếng vang lớn khi giành nhiều giải thưởng từ nhiều quốc gia, được dịch ở Việt Nam năm 2011. Gần đây nhất là hiện tượng Viet Thanh Nguyen, sinh năm 1971 tại Buôn Ma Thuột, cùng gia đình di tản sang Mỹ năm 1975. Ông là nhà văn gốc Việt đầu tiên đoạt giải Pulitzer 2016 cho hạng mục Fiction (Hư cấu) với tiểu thuyết The Sympathizer. Tập truyện ngắn Người tị nạn là tác phẩm thứ hai của ông được giới phê bình Mỹ đánh giá cao ngay từ khi mới xuất bản, được dịch sang tiếng Việt năm 2017. Mỗi truyện ngắn là những câu chuyện về cuộc sống, tâm tình và thân phận của người tị nạn. Sáng tác của ông đã vượt qua ranh giới sắc tộc, bi kịch cá nhân, để chạm tới những vấn đề có tầm phổ quát về nhân sinh, phận người trước cơn biến động của lịch sử. Ngoài ra còn có thể kể đến những nhà văn gốc Việt nổi bật khác có tác phẩm dịch ở Việt Nam như: Kim Lefèvere với Cô gái lai da trắng, Elena Pucillo Trương với Một phút tự do, Vàng trên biển đá đen, Nuage Rose với Ba áng mây trôi dạt xứ bèo, Doan Bui với Người cha im lặng hay Isabelle Muller với Loan, từ cuộc đời của một con chim phượng hoàng...
Bên cạnh sáng tác, đời sống văn học Việt Nam đương đại còn chứng kiến sự “trở về” của các nhà nghiên cứu phê bình văn học qua các công trình nghiên cứu và các dịch giả người Việt qua các dịch phẩm. Sự xuất hiện của Hoàng Phong Tuấn với các bài nghiên cứu, phê bình in chung trong các công trình nghiên cứu trong nước, Nguyễn Đức Tùng (Thơ đến từ đâu, Đối thoại văn chương, Thơ cần thiết cho ai); hay gần đây nhất Đoàn Cầm Thi với tập tiểu luận phê bình Đọc “Tôi” bên bến lạ và Thụy Khuê với công trình Phê bình văn học thế kỉ XX đã phần nào góp tiếng nói riêng khác trong đời sống nghiên cứu phê bình vốn phong phú, nhiều vẻ ở Việt Nam. Bên cạnh những bài viết, công trình giới thiệu, tổng thuật các hệ hình lý thuyết, các khuynh hướng lý luận, phê bình văn học ở phương Tây; từ góc nhìn bên ngoài, cùng khả năng vận dụng những hệ hình lí thuyết mới, các nhà phê bình, nghiên cứu còn soi rọi, nhận diện nhiều hiện tượng và vấn đề của văn học Việt Nam đương đại. Nhờ đó các hiện tượng văn chương trở nên mới lạ, khác biệt trong kinh nghiệm đọc của công chúng Việt Nam. Không chỉ “trở về” qua các sáng tác, công trình nghiên cứu, một số nhà văn còn lựa chọn cách “trở về” cùng các dịch phẩm. Nhiều tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng thế giới như Jean-Paul Sartre (Ngôn từ), M. Duras (Người tình), Doan Bui (Người cha im lặng), Jumvim Phraermn (Chó hoang Dingo hay là câu chuyện mối tình đầu), M. Kundera (Đời nhẹ khôn kham), Hermann Hesse (Huệ tím), J.K. Jowing (Harry Potter),… đến tay độc giả Việt qua bản dịch của Thuận, Lê Ngọc Mai, Trịnh Y Thư, Thái Kim Lan, Lý Lan. Họ được coi như những sứ giả văn hóa đưa các giá trị văn chương nhân loại đến với công chúng trong nước.
Không gian của con đường “trở lại”
Sau 1945, do điều kiện hoàn cảnh lịch sử, văn học Việt Nam chia tách thành hai phần rõ rệt, khiến việc nhận diện, đánh giá một cách toàn diện bức tranh tổng thể nền văn học nước nhà trở nên có nhiều khiếm khuyết. Sau 1975, hai miền thống nhất, với chủ trương kết nối, hòa hợp, hòa giải dân tộc của Đảng, dòng văn học đô thị miền Nam đang dần trở lại như là một bộ phận không thể tách rời của nền văn học thống nhất.
Khoảng hơn mười năm trở lại đây, trong nỗ lực chung của không ít người, từ các nhà văn, học giả, nhà nghiên cứu, phê bình đến các nhà xuất bản, đơn vị phát hành, công ty văn hóa, truyền thông, cùng sự ủng hộ nhiệt thành của công chúng độc giả trong cả nước, tác phẩm của các tác giả miền Nam trước 1975 được tái bản ngày một nhiều, trong đó có cả những sáng tác một thời bị liệt vào danh sách “cấm lưu hành”. Những tác phẩm của các nhà văn tiêu biểu như Vũ Hạnh, Sơn Nam, Vương Hồng Sển, Trang Thế Hy, Võ Hồng, Bình Nguyên Lộc, Vũ Bằng, Nguyễn Văn Xuân, Lý Chánh Trung, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Nhất Hạnh, Bùi Giáng, Trụ Vũ, Phạm Công Thiện, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Lê Tất Điều, Nhật Tiến, Tràng Thiên, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Vỹ, Du Tử Lê, Viên Linh, Hoàng Trúc Ly, Mường Mán... được “sống lại” và dự phần vào dòng chảy đời sống văn học Việt Nam đương đại.
Bên cạnh nỗ lực riêng rẽ của nhà xuất bản, chúng ta nhận thấy những chiến lược đầu tư mạnh mẽ, đồng bộ, hệ thống của các đơn vị xuất bản, tiêu biểu là Nhà xuất bản Trẻ và Công ty Văn hóa phương Nam. Từ năm 2003, Nhà xuất bản Trẻ đã mua toàn bộ tác quyền sách của Sơn Nam, Trang Thế Hy, một phần tác phẩm của Vương Hồng Sển và nhiều nhà văn khác, đến nay đã tái bản gần như toàn bộ tựa sách của các tác giả. Từ năm 2007, Công ty Văn hóa phương Nam phối hợp với các nhà xuất bản chủ trương Tủ sách “Các tác giả miền Nam trước 1975” và Tủ sách “Tuổi Hoa”. Mở đầu cho dự án này là việc in lại bộ tiểu thuyết 3 tập Nguyệt Đồng Xoài của Lê Xuyên, và 4 tập truyện ngắn Tiếng sáo người em út, Đôi mắt trên trời, Nhan sắc, Cũng đành của Dương Nghiễm Mậu. Tủ sách này tiếp tục được bổ sung thêm các tác giả tiêu biểu: Trần Thị NgH (ba tập truyện ngắn - năm 2012), Nguyễn Thị Thụy Vũ (mười truyện dài, tập truyện ngắn - năm 2017),...
Ngoài những nhà xuất bản truyền thống hay các đơn vị phát hành sách có tiếng, đã bắt đầu xuất hiện nhiều công ty văn hóa, truyền thông tư nhân liên kết với các nhà xuất bản chọn nguồn sách này để tái bản. Tiêu biểu như Công ty cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam (Đười ươi chân kinh - Bùi Giáng, Quê hương tôi, Tạp văn - Tràng Thiên...), Công ty cổ phần Sách Tao Đàn (Tuổi nước độc, Sợi tóc tìm thấy - Dương Nghiễm Mậu, Hai chậu lan tố tâm - Phan Du), Saigonbooks (Khúc thụy du, Với nhau, một ngày nào - Du Tử Lê, Ký thác - Bình Nguyên Lộc), DT book (Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc)...
Song song tái bản mảng sách văn học, mảng tác phẩm dịch thuật và các công trình khảo cứu, tìm hiểu về văn hóa, văn học, lịch sử, triết học cũng được tái bản tương đối nhiều. Nhiều kiệt tác văn học thế giới của các tác giả lớn được dịch thuật và phổ biến trong đời sống văn học miền Nam qua bản dịch tài hoa của các dịch giả miền Nam trước 1975, nay được tái bản liên tục. Ở mảng sách khảo luận, nghiên cứu, không ít công trình công phu, đồ sộ về văn hóa, văn học, lịch sử, triết học, tôn giáo của các học giả như Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Toan Ánh, Vương Hồng Sển, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn, Thanh Lãng, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Văn Hầu, Phạm Thế Ngũ, Bằng Giang, Nguyễn Văn Trung, Tuệ Sỹ, Phan Khoang, Kim Định, Tạ Chí Đại Trường... cũng được khôi phục và tiếp tục khẳng định được vị trí, giá trị trong đời sống văn hóa, tinh thần người Việt.
Song song với việc tái bản, bắt đầu xuất hiện nhiều hơn những công trình nghiên cứu, tiểu luận phê bình... với quy mô khác nhau, nhằm nhận diện, phân tích, đánh giá dấu ấn, thành tựu, vị trí của dòng văn học này trong đời sống văn học nước nhà. Đặc biệt, chân dung, sự nghiệp sáng tác của một số tác giả miền Nam trước 1975 đã được ghi nhận trong bộ Từ điển văn học (bộ mới 2004, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên) đánh dấu sự hiện diện có tính chính thống, quy phạm trong lịch sử văn học nước nhà. Cùng với đó, tác phẩm của họ được giảng dạy ở các trường đại học, trở thành đề tài khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ...
Nhưng chừng đó là chưa đủ để có thể nhận diện, đánh giá/định giá một cách toàn diện, đa chiều về dòng văn học này trong sự vận động chung của văn học nước nhà. Văn học đô thị miền Nam vẫn là những “khoảng trống” cần hơn bao giờ hết sự quan tâm thỏa đáng của các nhà quản lý văn hóa, nhà xuất bản, đơn vị phát hành sách, các học giả, nhà nghiên cứu, phê bình và công chúng độc giả.
Công bằng mà nói, dù viết ở đâu, trong hay ngoài nước, dù tác phẩm xuất hiện ở thời điểm nào, chịu những rào cản, định kiến gì, các nhà văn và đứa con tinh thần vẫn cần độc giả, những người góp một phần quan trọng quyết định số phận lịch sử tác phẩm của họ. Có thể nói, sự trở về và sự trở lại của các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình bằng những con đường, cách thức khác nhau đã dự phần và tham góp vào đời sống, sinh hoạt văn học nghệ thuật nước nhà những năm gần đây. Đồng thời nó là biểu hiện cho chủ trương đường lối văn hóa văn nghệ rộng mở của Đảng: văn học Việt Nam ở hải ngoại và văn học đô thị miền Nam trước 1975 là một bộ phận không thể tách rời trong nền văn học Việt Nam thống nhất. Và đó cũng là cách đời sống văn học nước nhà làm giàu hơn cho chính mình, góp phần nâng cao vị thế, hội nhập quốc tế.
Không gian của bước chân “ra đi”
Trong những năm gần đây, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế có xu hướng trỗi dậy mạnh mẽ, tác động không nhỏ đến đời sống văn học Việt Nam. Thế giới trở thành “ngôi làng/nhà toàn cầu”, cơ hội bước ra vùng đất mới ngày càng dễ dàng, khả năng tiếp cận thông tin của mỗi cá nhân từ đó mà nhanh chóng, thuận lợi hơn. Riêng với người cầm bút, đây không đơn thuần là sự dịch chuyển không gian địa lý, mà còn là sự mở rộng biên độ không gian sáng tạo. Lúc này, họ không những được tự do lựa chọn đề tài, chủ đề, thỏa sức thể nghiệm, tìm tòi lối viết; mà còn có thể “dịch chuyển bàn viết” của mình đến bất cứ nơi nào mong muốn.
Chúng ta chứng kiến không ít các tác giả chuyên và không chuyên do yêu cầu của công việc, học tập, gia đình hay qua những chuyến du lịch; bằng khả năng quan sát tinh tế, sự nhạy cảm sâu sắc, niềm hứng khởi nhiệt thành của người nghệ sĩ đã sáng tạo ra những trang viết “trên đường” đậm màu sắc du kí. Đây cũng là lúc văn đàn Việt chứng kiến sự nở rộ của thể loại phi hư cấu như du kí, tản văn, kí sự; và những tác phẩm hư cấu pha trộn màu sắc du kí.
Điều dễ dàng nhận thấy trong số những tác giả đạt dấu ấn và thành tựu ở thể loại du kí có nhiều cây bút quen thuộc với độc giả. Trước khi và đồng thời sáng tác du kí, họ đã sớm được biết đến với các tác phẩm hư cấu đặc sắc, có thể kể đến Hồ Anh Thái, Di Li, Phan Việt, Dương Thụy, Trang Hạ... Với Hồ Anh Thái, trong tư cách là nhà ngoại giao Việt Nam, ông đã sống và làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có nhiều năm nghiên cứu về Ấn Độ, Ba Tư. Nhờ những kiến thức thâm sâu của một tiến sĩ văn hóa phương Đông, cùng với sự nhạy cảm, tài hoa của người nghệ sĩ, ông đã sáng tạo nên những tác phẩm đậm chất du kí - văn hóa: Namaska! Xin chào Ấn Độ, Salam! Chào xứ Ba Tư, Người bên này trời bên ấy. Với Dương Thụy, những khóa du học tại Bỉ, Pháp, Anh..., sau đó là những vị trí làm việc tại các công ty đa quốc gia, không chỉ giúp chị trở thành một trong những cây bút trẻ có vốn tri thức dày dặn, mà còn đủ vốn sống để tiếp cận, sáng tạo về mảng đề tài mang dậm dấu ấn riêng chị: cuộc sống của giới sinh viên Việt Nam ở trời Âu. Các tác phẩm lấy bối cảnh nước ngoài của chị được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt, trong đó không ít bestseller như: Oxford thương yêu, Bồ câu chung mái vòm, Cáo già, gái già và tiểu thuyết diễm tình, Venise và những cuộc tình Gondola, Nhắm mắt thấy Paris, Cung đường vàng nắng... Phan Việt cũng là trường hợp tương tự. Chị đã từng học tiến sĩ tại Đại học Chicago, hiện tại đang là Giáo sư giảng dạy đại học tại Mỹ. Bộ sách Bất hạnh là một tài sản gồm Một mình ở châu Âu, Xuyên Mỹ, Về nhà là kết quả của những chuyến đi, sự nghiền ngẫm và đào xới bản thể đến tận cùng của nhà văn. Chị đã đưa người đọc tới hành trình của riêng mình - trở về với cội nguồn và trở về với bản thể tâm linh. Di Li và Trang Hạ cũng là hai tác giả đáng lưu ý, cùng với những sáng tác hư cấu, họ cũng đã thể nghiệm với thể tài du kí và nhanh chóng đạt được dấu ấn: Di Li (Đảo thiên đường, Nụ hôn thành Roma, Bình minh ở Sahara), Trang Hạ (Những đống lửa trên vịnh Tây Tử, Chồng xứ lạ).
Bên cạnh các nhà văn trên, đa phần những tác giả viết du kí là những người trẻ, ngay từ những sáng tác đầu tay, họ đã lựa chọn du kí và nhanh chóng đạt được thành tựu. Có thể kể đến những tác giả và tác phẩm tiêu biểu như: Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương, Bánh mì thơm, cà phê đắng (Ngô Thị Giáng Vân), Dưới nắng trời Âu (Hoàng Yến Anh), Nghìn ngày nước Ý nghìn ngày yêu, Phút 90++, Nước Ý, câu chuyện tình tôi, Hẹn hò với Paris (Trương Anh Ngọc), Hẹn hò với châu Âu (Bùi Mai Hương), John đi tìm Hùng (Trần Hùng John), Xách ba lô lên và đi, Giấc mơ Mỹ - đường đến Stanford (Huyền Chíp), Tôi là một con lừa, Con đường Hồi giáo (Nguyễn Phương Mai), Quá trẻ để chết: Hành trình nước Mỹ (Đinh Hằng), Đường còn dài, còn dài (Nguyễn Thiên Ngân), Lữ khách gió bụi xa gần (Tiến Đạt), Ngày đàng sàng khôn (Nguyễn Văn Mỹ), Từ rừng thẳm Amaron đến quê hương Bolero (Nguyễn Tập)...
Có thể nói, mỗi tác phẩm du kí là kết quả của hành trình đến với những miền không gian khác, lúc này cả thế giới được thu về trong một cái nhìn, một cảm nhận, một suy nghiệm riêng khác. Đi để viết, cũng là để trở về, vì vậy hệ đề tài, chủ đề, cảm hứng trong sáng tác của các nhà văn đương đại cũng có nhiều sự khác biệt so với văn học trong nước: bức tranh thiên nhiên, cuộc sống, văn hóa, con người của những vùng đất mà họ đặt chân đến; trải nghiệm cá nhân và nỗ lực kết nối; bản sắc và hòa nhập; vùng đất mới và niềm đau đáu quê nhà; shock văn hóa và ý chí vượt thoát; sự trở về với cội nguồn văn hóa và trở về với chính mình.
Không chỉ là những chuyến đi, trải nghiệm cá nhân, mà hằn trong mỗi trang viết là dấu ấn cá nhân, góp phần làm nên nét đặc sắc của nghệ thuật du kí đương đại. Hồ Anh Thái thâm sâu và dí dỏm, Phan Việt nữ tính và giàu suy tư, Di Li phiêu lưu và tươi trẻ, Trang Hạ mạnh mẽ và quyết liệt, Dương Thụy trữ tình và sâu lắng, Huyền Chíp gần gũi và phá cách, Trương Anh Ngọc sôi nổi và đam mê, Hung John giản dị và hài hước, Phương Mai cá tính và phóng khoáng... Ẩn sâu trong đó là khao khát khám phá, dấn thân phiêu lưu cùng sự nghiền ngẫm, suy tư, tất cả được kết tinh trong thứ ngôn ngữ tự nhiên, giản dị, mộc mạc.
Viết du kí tưởng chừng dễ dàng nhưng viết cho hay thì lại vô cùng khó khăn. Người viết cần phải tránh xu hướng biến tác phẩm thành một cuốn cẩm nang du lịch, những ghi chép tủn mủn, rời rạc hay những cảm xúc, tâm trạng bất chợt, nông nổi. Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, sự hỗ trợ của internet và công nghệ PR, những năm gần đây, thể loại du kí trỗi dậy mạnh mẽ, thu hút được một lượng độc giả tương đối lớn, song chưa trở thành một dòng chảy mạnh mẽ trong đời sống văn học đương đại. Không ít tác phẩm khiến người đọc phải hoài nghi về sự trung thực của người viết, tính xác thực của sự kiện và cái nhìn nghệ thuật. Một số tác phẩm chỉ mới dừng lại ở những trang ghi chép rời rạc, những cảm nghĩ hời hợt, thiếu chiều sâu nghiền ngẫm, suy tư, thiếu chiều rộng kết nối, khái quát, và chưa nhiều phẩm chất nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ. Để văn học du kí thoát khỏi định kiến về một thể loại “mì ăn liền”, dễ nhớ nhanh quên, nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, đòi hỏi người viết không chỉ kĩ năng tồn tại, thích nghi với cái mới/cái khác, sự dấn thân, mạo hiểm, sự khao khát, khám phá; mà còn có độ dày văn hóa, độ sâu kiến thức. Tác phẩm không đơn thuần là sự miêu tả, kể lể mà cần trình hiện những suy tư, trăn trở về lịch sử, văn hóa; phân tích, luận giải những vấn đề của cuộc sống, con người, từ đó kết nối những miền không gian, những tâm thức trong một mối quan tâm chung. Có như vậy chúng ta mới hi vọng thể loại này có chỗ đứng lâu bền trên văn đàn cũng như trong lòng cộng đồng độc giả Việt hôm nay.
Kết luận
Có thể thấy, “trở về”, “trở lại” hay “ra đi” như là hành trình dịch chuyển không gian sáng tạo của các thế hệ nhà văn và không gian tiếp nhận của độc giả Việt. Nhờ đó hệ đề tài, chủ đề và lối viết trong tác phẩm của các tác giả trở nên đa dạng, nhiều chiều; đồng thời, người đọc có cơ hội tiếp cận với những sinh thể nghệ thuật đặc sắc của quá khứ đến hiện tại. Những hành trình tưởng như đối nghịch nhau, song lại chung nguồn cảm hứng (quê hương và nỗi đau đáu quê nhà, bản sắc và hội nhập, nhân thân và nhân dạng, bản thể và phận người); niềm khao khát khám phá, kiếm tìm cái mới, cái khác; nỗi đau đáu được hòa nhập vào dòng chảy văn học dân tộc... Chính họ và tác phẩm của đã làm thay đổi quan niệm về nhà văn - chủ thể sáng tạo, tác phẩm - tạo phẩm thời đại, độc giả - người thưởng thức, đồng hành trong không gian toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh đổi mới và nâng tầm thế giới, những hành trình, những tiếng nói ấy đã góp phần làm thống nhất, đa dạng đời sống văn học nước nhà, đồng thời rút gần khoảng cách văn học Việt với văn học thế giới.
N.V.H
(TCSH359/01-2019)
-------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Huỳnh Như Phương (2016), “Sách ở miền Nam trước 1975 được tái bản”, in trong Hãy cầm lấy và đọc, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
2. Anatoly Sokolov (2017), “Văn học Việt Nam ở hải ngoại: những vấn đề của sự phát triển hiện nay”, (Lê Sơn dịch), nguồn website: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
3. Trần Lê Hoa Tranh (2016), “Hiện tượng “đi” và “về” của các nhà văn Việt Nam đương đại”, in trong Văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế (tập 1), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
4. Mai Anh Tuấn (2018), “Sự tái xuất của văn học đô thị miền Nam: Hy vọng về một tương lai văn học đầy đủ”, Báo An ninh thế giới, ngày 5/8/2018.
Tải mã QRCode
INRASARA (Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009)
HÀ VĂN THỊNH Những cái tên - có lẽ không giản đơn như cách nói của người Nga - " Người ta gọi tôi là...” Ở đây, lớp vỏ của ngôn từ chỉ diễn tả một khái niệm mù mờ nhất của một lượng thông tin ít nhất.Trong khi đó, có bao giờ ta nghĩ rằng một cái tên, không ít khi hàm chứa thật nhiều điều - thậm chí nó cho phép người khác biết khá rõ về tính cách, khả năng và ngay cả một phần của số phận của kiếp người?
HÀ VĂN LƯỠNG1. Ivan Bunhin (1870-1953) là một nhà văn xuôi Nga nổi tiếng của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông trải qua những bước thăng trầm gắn với nhiều biến động dữ dội mang tính chất thời đại của nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX và mấy chục năm đầu thế kỷ XX.
LÊ THÀNH NGHỊCâu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ chống Mỹ đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới, khi nhu cầu xã hội và cá nhân đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình của người làm thơ. Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu. Chẳng hạn, thời chống Mỹ đó là độc lập tự do của dân tộc. Tất cả những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” này không phù hợp, không được đón nhận... và vì thế không thể phát triển. Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, với chủ trương đổi mới, trong xã hội ta, nhu cầu bức thiết nhất, theo chúng tôi là khát vọng dân chủ.
LÝ TOÀN THẮNG“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao - từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.
INRASARA1. Đó là thế hệ thơ có một định phận kì lạ. Người ta vội đặt cho nó cái tên: thế hệ gạch nối, thế hệ đệm. Và bao nhiêu hạn từ phái sinh nhợt nhạt khác.Đất nước mở cửa, đổi mới, khi văn nghệ được cởi trói, nhà thơ thế hệ mới làm gì để khởi sự cuộc viết? Cụ thể hơn, họ viết thế nào?
VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.
HỒ THẾ HÀ1. Diễn đàn thơ được tổ chức trên đất Huế lần này gắn với chương trình hoạt động của lễ hội Festival lần thứ 3, tự nó đã thông tin với chúng ta một nội dung, tính chất và ý nghĩa riêng. Đây thực sự là ngày hội của thơ ca. Đã là ngày hội thì có nhiều người tham gia và tham dự; có diễn giả và thính giả; có nhiều tiếng nói, nhiều tấm lòng, nhiều quan niệm trên tinh thần dân chủ, lấy việc coi trọng cái hay, cái đẹp, cái giá trị của nghệ thuật làm tiêu chí thưởng thức, trao đổi và tranh luận. Chính điều đó sẽ làm cho không khí ngày hội thơ - Festival thơ sẽ đông vui, phong phú, dân chủ và có nhiều hoà âm đồng vọng mang tính học thuật và mỹ học mới mẻ như P.Valéry đã từng nói: Thơ là ngày hội của lý trí (La poésie est une fête de l'intellect).
THẠCH QUỲThơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay, bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức, 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây, như suối cạn nước, hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.
NGUYỄN VĨNH NGUYÊNNhững năm gần đây, người ta tranh luận, ồn ào, khua chiêng gõ mõ về việc làm mới văn chương. Nhất là trong thơ. Nhưng cái mới đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau những cuộc tranh luận toé lửa rốt cục vẫn là: hãy đợi đấy, lúc nào đó, sẽ... cãi tiếp...
TRẦN VĂN LÝAi sản xuất lốp cứ sản xuất lốp. Ai làm vỏ cứ làm vỏ. Ai làm gầm cứ làm gầm. Nơi nào sản xuất máy cứ sản xuất máy. Xong tất cả được chở đến một nơi để lắp ráp thành chiếc ô tô. Sự chuyên môn hoá đó trong dây chuyền sản xuất ở châu Âu thế kỷ trước (thế kỷ 20) đã khiến cho nhiều người mơ tưởng rằng: Có thể "sản xuất" được thơ và sự "mơ tưởng" ấy vẫn mãi mãi chỉ là mơ tưởng mà thôi!
HOÀNG VŨ THUẬTChúng ta đã có nhiều công trình, trang viết đánh giá nhận định thơ miền Trung ngót thế kỷ qua, một vùng thơ gắn với sinh mệnh một vùng đất mà dấu ấn lịch sử luôn bùng nổ những sự kiện bất ngờ. Một vùng đất đẫm máu và nước mắt, hằn lên vầng trán con người nếp nhăn của nỗi lo toan chạy dọc thế kỷ. Thơ nảy sinh từ đó.
BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng dáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v... Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi điểm lại những khái niệm về Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau.
MẠNH LÊ Thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX đã thu được những thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thơ ca dân tộc. Đặc biệt từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến thực dân hơn trăm năm đô hộ nước ta cùng với khí thế cách mạng kháng chiến cứu nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1946 đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới để từ đó thơ ca hiện đại Việt Nam mang một âm hưởng mới, một màu sắc mới.
NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.
ĐỖ LAI THÚYThanh sơn tự tiếu đầu tương hạc Nguyễn KhuyếnNói đến Dương Khuê là nói đến hát nói. Và nói đến hát nói, thì Hồng Hồng, Tuyết Tuyết làm tôi thích hơn cả. Đấy không chỉ là một mẫu mực của thể loại, mà còn làm một không gian thẩm mỹ nhiều chiều đủ cho những phiêu lưu của cái đọc.
NGUYỄN NGỌC THIỆNHải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh năm 1908 trong một gia đình Nho học, khoa bảng. Năm 20 tuổi, trở thành đảng viên trẻ của Tân Việt cách mạng Đảng, Nguyễn Khoa Văn bắt đầu cầm bút viết báo với bút danh Nam Xích Tử (Chàng trai đỏ). Điều này đã khiến trong lần gặp gỡ đầu tiên, người trai có "thân hình bé nhỏ và cử chỉ nhanh nhẹn theo kiểu chim chích" (1) ấy đã gây được cảm tình nồng hậu của Trần Huy Liệu- chủ nhiệm Nam Cường thư xã, người bạn cùng trang lứa tuy vừa mới quen biết, nhưng đã chung chí hướng tìm đường giải phóng cho dân tộc, tự do cho đất nước.
TÔ VĨNH HÀ Huế đang trở lạnh với "mưa vẫn mưa bay" giăng mờ như hư ảo những gương mặt người xuôi ngược trên con đường tôi đi. Tôi giật mình vì một tà áo trắng vừa trôi qua. Dáng đi êm nhẹ với cánh dù mỏng manh như hơi nghiêng xuống cùng nỗi cô đơn. Những nhọc nhằn của tuổi mơ chưa đến nỗi làm bờ vai trĩu mệt nhưng cũng đủ tạo nên một "giọt chiều trên lá(1), cam chịu và chờ đợi nỗi niềm nào đó hiu hắt như những hạt mưa...
NGUYỄN HỒNG DŨNG1. Một cuộc đời lặng lẽ và những truyện ngắn nổi danhO' Henry, tên thật là William Sydney Porter, được đánh giá là người viết truyện ngắn xuất sắc nhất của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Greenboro, tiểu bang North Carolina vào năm 1862. Năm 15 tuổi (1877), ông thôi học và vào làm việc trong một hiệu thuốc tây. Vào tuổi hai mươi, ông bị đau nặng và sức khoẻ sa sút nên đã đến dưỡng sức ở một nông trại tại tiểu bang Texas. Ông đã sống ở đấy hai năm, đã làm quen với nhiều người và hiểu rất rõ tính cách miền Tây. Sau này, ông đã kể về họ rất sinh động trong tập truyện ngắn có tựa đề đầy xúc cảm Trái tim miền Tây.
MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.