Những bài thơ Tú nói

09:16 03/04/2019

ĐỖ QUYÊN

(Thử một cách đọc bản thảo thơ: Trường hợp Những mùa hoa anh nói (*) của Trương Anh Tú)

Ảnh: internet

“Chất thơ, đó là những gì không thuận lý được thể hiện bằng những lời thuận lý.”
                        V. Nabokov (1899 - 1977) *

“Thưởng thức là ngưỡng cửa của phê bình. Chưa bước qua ngưỡng cửa ấy mà nhảy vào cầm bút phê bình thì nhất định mắc phải những sai lầm tai hại.”

                        Vũ Ngọc Phan (1902 - 1987)


I. Cùng bạn đọc

Xin gọi là “thử”, vì người viết như chưa thấy loại bài nào với cách làm tương tự. Chứ ở đây những gì chạy tới bàn tay, ánh mắt quý bạn đọc, đều là “thật”. Những gì không thật không thành thơ đã đành, mà cũng không thành những gì về thơ.

Với người viết cùng một số bạn thơ thân thiết của những bản thảo thơ quý mến, cách này vốn đã quen. May sao tới lúc có được tập thơ mến là Những mùa hoa anh nói của bạn thơ thân là Trương Anh Tú, chúng tôi muốn trình làng một lối bình - luận bản thảo thơ với tất cả những gì hay dở phải quấy mang trên mình nó.

II. Tên tập thơ

Có cái lệ cho các nhà biên tập và những ai là bạn thơ: ngay cả với những người đọc lười nhất, ít ý kiến nhất thì nhan đề sách luôn là điều dễ bình bàn nhất, dễ nảy sinh các đề tài thú vị, có ích nhất.

Ngay lúc mở bản thảo tập thơ, lần đầu tiên khi nó còn mang tên khác, lướt Mục lục, mắt tôi đậu luôn ở “Những mùa hoa anh nói”! Thắc mắc, mò xuống tìm bài đọc cho tới khi “thủng văn bản”. Ngẩn ngơ… Đến ngày tác giả quyết định đổi tên tập thơ thành Những mùa hoa anh nói, tôi mường tượng: riêng nhan đề đã đủ lưu danh trong làng thơ Việt đang tràn ngập (đến mức khủng hoảng) sách thơ.

Tôi khoái nhất tên bài thơ, tên tập thơ vì 3 lý do: 1. Mang vẻ thơ ngây, tự nhiên từ câu nói của phái nữ trong đối thoại bình thường, khiến nhớ một điểm quan trọng trong lý luận khi phân biệt thơ điệu nói với thơ điệu kể, điệu ngâm (được xem là thay đổi lớn lao của thơ Việt từ sau thời Thơ mới(1); 2. Toát ra chân dung thơ của tác giả; 3. Từ đây, trong các loài hoa trên đời hay trong làng thơ, thêm một loài hoa, tên là Hoa anh nói: hoa Anh-nói, kiểu như hoa Forget-me-not (Đừng quên tôi/em/anh).

Hình như trên thế giới chưa có giải thưởng cho tên sách hay nhất trong năm của một cộng đồng văn học - văn hóa nào đó? Vậy Việt Nam ta làm lẹ đi! Và nếu kịp năm 2018 thì Những mùa hoa anh nói ắt sẽ đoạt giải. Trong chữ nghĩa, chỉ với sáng tạo kiểu như Hoa-anh-nói, lắm khi đủ định danh tác giả.

III. Về nghệ thuật thơ

Thi pháp: Với tập thơ thứ hai, tác giả đã khẳng định thơ mình cuốn hút trước nhất ở hồn thơ hơn là ngôn ngữ, cách viết, tư tưởng… Cũng có thể xem như một kiểu “thi pháp tình cảm”. Về nghệ thuật sáng tạo văn chương, “thi pháp” này chưa thành… thi pháp. Song, riêng với bộ môn thơ, ở nhiều trường hợp, tâm hồn, tình cảm thắng kỹ thuật, kỹ xảo. Những mùa hoa anh nói là vậy! Nên xem là may mắn lớn, là của quý cho công việc làm thơ đâu phải tác giả nào cũng có được.

Nếu như hồn thơ gồm 2 yếu tố chính là lòng đam mê và chất thơ thì ở Trương Anh Tú, cũng như hầu hết các nhà thơ tương tự, cái đầu trội hơn nhiều cái sau. Ở các thi nhân nổi danh về hồn thơ, cái chất thơ của họ hiển lộ qua mỗi chi tiết mà người đời bảo là tài hoa. “Anh hoa phát tiết ra ngoài”.

Phong cách: Trương Anh Tú đeo đuổi tương đối trung thành dòng thơ trữ tình với lối diễn tả trực diện. Đó cũng là phong cách đại trà của thơ Việt Nam từ Thơ mới đến nay. Chất triết lý suy tư kiểu Âu - Tây hay triết lý tự sự kiểu Bắc Mỹ ở anh thi thoảng, song báo hiệu một nhánh thơ khác khả dĩ mà dường như chính tác giả không biết, hoặc biết cũng không ham.

Đề tài: Mẹ thiên nhiên (trời, đất) là bệ đỡ cho tình đôi lứa, gia đình, mẫu tử, đất nước và Tổ quốc. Đặc biệt, khá khác so với dòng thơ có bàn viết nằm ngoài hình chữ S: thơ Trương Anh Tú viết về quê hương hoài tưởng mà không mặc cảm.

Nếu coi đề tài là hộ chiếu để biết lý lịch văn học của tác giả (trong-ngoài nước, khuynh hướng nghệ thuật, chính kiến, xuất xứ…) thì bạn đọc đang tới với một cây bút hy hữu ở nước ngoài vượt thắng được hộ-chiếu-đề-tài. Chưa biết nhân thân tác giả, người đọc khó đoán anh đang sinh sống ở đâu, làm gì trên cái làng toàn cầu hôm nay. Ngay cả với các bài đầu ở phần Ngẫu hứng sông Hồng viết về tâm trạng xa xứ thiếu quê chung chung, khó có thể tin đây là một cây viết Việt Kiều khi mà toàn tập thơ không thấy một câu, bài về văn hóa - con người - đất nước ở các quốc gia từng qua thời trai trẻ cho tới giờ chừng gần 30 năm.

Chưa kể trong tư cách một nhạc sĩ(2) nhà thơ của chúng ta “dấn thơ” không mạnh vào nhiều sự kiện nóng bỏng của nước nhà, song vẫn phải xem anh là một tác giả lãng mạn của hiện thực. Hiện thực không hẳn là cái đinh, cái bậc cho thơ anh níu vào, trèo lên. Mà là cái nền, cái tường cho chính anh trèo lên, níu vào; để làm thơ. Cũng thấy một số sự kiện ở Việt Nam đã tham dự cụ thể trong thơ anh như lụt lội, các giải thưởng thể thao…

Về nhân vật trữ tình, như ở bao nhà thơ làm con khác trên đời, người mẹ là chủ đề sâu nặng của tác giả; các bài này đều xúc động, khá trở lên.

Giọng điệu: Ca ngợi - lãng mạn là âm hưởng chính. Cây bút này thích “hát”, lại còn mê “xanh”. Chúng tôi đếm được khoảng 90 từ “xanh” và 30 từ “hát” trong suốt tập thơ 90 bài. Tính trung bình, bài nào cũng có 1 lần “xanh”! Sự bi quan hầu như thiếu vắng; nếu phải có như là đối tượng thì bị phủ sóng bởi cái hùng, cái đẹp, cái chân. Có 2 - 3 bài nói về cái bi rất đạt.

Monotone/đơn điệu là âm hưởng chủ đạo của tác giả. Đây là ưu hay nhược điểm, tùy bài thơ cụ thể. Mù về nhạc, chúng tôi đoán mò, có thể rất nhiều bài trong tập thơ dễ phổ nhạc? Nói thêm, monotone/đơn điệu thông thường bị cho là nhược điểm(3). Có loại thơ nào đơn “điệu” bằng dòng thơ Nguyễn Bính (từng bị không ít người cùng thời và hậu thế chê) ấy thế mà cao ngất, sâu thẳm trong lòng người Việt gần tám thập niên nay?

Hình thức thể loại: Tập thơ tuân thủ các thể loại truyền thống (lục bát, vần điệu...) với nỗ lực và không ít thành quả về lục bát; trong khi đa số các bài tự do cũng khá ở hình thức thể loại. Về dung lượng, tỷ lệ bài thành công là cao ở các bài ngắn, nghiêng về triết luận.

Nếu theo định nghĩa “Thơ là loại hình nghệ thuật ngôn từ, sáng tạo theo các nguyên lý: lạ hóa, có tính nhạc và sử dụng tối ưu các thủ pháp nghệ thuật nhằm truyền đến người đọc những thông điệp trữ tình mới mẻ trong một giá trị thẩm mỹ độc đáo” (4) thì thơ Trương Anh Tú làm khá tốt 2 nguyên lý lạ hóa và có tính nhạc. Hơn thế, lạ hóa một cách tự nhiên; tính nhạc theo kiểu vần điệu chuẩn và lặp lại hình ảnh, câu chữ.

Cấu trúc: Tác giả tuyệt đối trung thành theo hình thức diễn ngôn chân phương nhất: tuyến tính theo thời gian và không gian; trong mỗi bài thơ cũng như ở từng đoạn, câu...

Ngôn ngữ: Câu chữ và cú pháp giản dị, hồn nhiên; không phá cách. Tiếng Việt chuẩn. Tác giả Những mùa hoa anh nói không có “con chữ” riêng một cách nhân tạo, mà lại có vài “con chữ” trời cho. (Tên sách là một. Và đôi ba trường hợp khác, sẽ nêu dưới đây). Chúng dự phần tạo dấu ấn như một tay thơ có ít nhiều kinh nghiệm.

IV. Vấn đề tác giả “tự biên tập”

“Tự biên tập” (5) là phẩm chất cần có ở mỗi người viết. Ai đó từng nói, trong mỗi văn thi sĩ có một ông lão phê bình gia ẩn náu. Nhưng biết mình hay dở là một chuyện, tự cắt mổ sáng tác của mình lại là chuyện khác.

Tác giả - tôi phải công nhận với sự cân nhắc - là một cao thủ về khả năng tự biên tập. Không kể việc tái cấu trúc tập thơ mà giữa hai chúng tôi chưa cùng cách nhìn, tất cả những bài thơ được Trương Anh Tú sửa chữa đều là “địch thủ” của các bài cũ. Đâu phải nhiều tác giả làm được?

V. “Bài hay xen lẫn với bài vừa”

Lần theo từng bài từng bài trong Những mùa hoa anh nói, chúng tôi sẽ bình bàn các bài, thiển nghĩ, đáng quan tâm(6). Sẽ chỉ điểm kỹ các “bài hay”, rất hay. Riêng với những bài thơ thiếu nhi, tạm chưa bàn tại đây, dù là sở trường của tác giả.

Và chúng tôi cả nghĩ, nếu các tác phẩm văn nghệ cho một nền giáo dục cần 4 tiêu chí (thứ tự tùy theo mỗi quốc gia) - đó là tính giáo dục, chất nghệ thuật, độ nhân bản, tầm dân tộc - thì một số bài hay của tập thơ đã như nhiều bài trong sách giáo khoa hiện nay ở Việt Nam. Đó là các bài Những mùa hoa anh nói, Thơ trong lễ hội hóa trang, Đôi mắt.

1 BÀI THƠ RẤT HAY

CẢM XÚC

Tứ thơ cực lạ lẫm, thân thương. Cái Tây hòa tan vào cái ta. Xứng danh một bài thơ hay và lạ của thơ Việt đương đại!

Một thi ảnh mang chất hiện sinh rõ rệt được lạc giữa tập thơ - một rừng hiện thực, lãng mạn thuần túy. Sự xa lạ tạo “rùng mình” (“Không mang theo da thịt”) điềm nhiên sánh bước cùng cái gần gũi nên thơ (Cánh đồng thơm con gái/ Những chồi non thơ dại”).

Không mang theo da thịt” là câu cách tân nhất về thi pháp, ở ngôn ngữ cũng như trong lối viết, mà với thơ Trương Anh Tú không phải là mục tiêu hoặc phương tiện. Cách tân một cách vô tư?

“Rằng hay thì thật là”… rất hay. Riêng tôi cứ lăn tăn: Câu phá cách “Thứ ngôn ngữ cũng chẳng cần da thịt” vẻ như làm lồi ra - về hình thức - sự cách tân rất mỹ mãn về nội dung và tư tưởng. Khi tôi đề nghị thay câu trên bằng câu đúng vần điệu và thể thơ, ví dụ: “Ngôn ngữ không da thịt” để toàn bài vừa giản dị vừa siêu nhiên, tác giả cho biết: “Đó là câu thơ được viết như vô thức, rất lạ. Không thể thay thế!”

Vâng, vô thức vì cả tác giả và có thể không ít người đọc bị cuốn vào nhịp thơ nên cho qua, cứ ngỡ vẫn câu thơ 5 chữ! Đúng, vần điệu và niêm luật không quan trọng nữa khi đôi cánh thi ca bay vào không gian của nghệ thuật, đời thường, cái đẹp.

Chưa biết vốn sống thôn quê, kinh nghiệm nghề nông ở bạn tôi ra sao, chỉ biết trước khi ra nước ngoài, anh là chàng trai có dòng họ sinh sống rất nhiều đời tại các làng hoa sát Hồ Tây nội thành Hà Nội. Để có thể tạo được một thi phẩm chân quê và hiện đại dường ấy. Với bài Cảm xúc, ta chớ ngại ngần khi nói, hình tượng lúa con gái tự ngàn năm của nhà nông Việt Nam thêm một trổ bông!

8 BÀI THƠ HAY

THƠ TRONG LỄ HỘI HÓA TRANG

Bài thơ hay, và về mẹ. Đang trong kịch bản hài, chuyển phắt sang khung trời buồn. Khiến độc giả “cười” qua “nước mắt”. Chỉ với 36 từ, kể cả tên bài, 8 hàng thơ vần điệu, tác giả tới được hàng loạt tiêu chí chính của nhiều quan niệm về thơ hay: hàm súc; chân thật, dễ hiểu/nhớ, cảm động, bất ngờ; nhân bản... Nhưng - chữ Nhưng quái ác! - câu chữ hơi tự nhiên, lối thơ dùng điệu nói bị đẩy quá, nếu không sẽ thành bài thơ rất hay.

ĐÔI MẮT

Giản dị, sâu xa. Nhịp điệu chuẩn. Mới mẻ về hình tượng. Tính giáo dục, rõ ràng mà không khiên cưỡng. Chất nhân bản, minh bạch lại vẫn tự nhiên.

NHỮNG MÙA HOA ANH NÓI

Thơ tự sự, câu chuyện và đối thoại. Lãng mạn kiểu “ngày xưa Hoàng thị”. Ý nghĩa giáo dục rành mạch. (“Những mùa hoa anh nói/ Phải tự trồng, anh ơi!”). Tính tư tưởng nhân văn chân phương; nhịp thơ, vần điệu, hình ảnh - tất cả thuộc về truyền thống. Bài thơ hay vì có mắt thơ, là câu thơ “xuất thần” được chọn làm tên bài, tên tập thơ: Những mùa hoa anh nói. Thơ, hệt như mỹ nhân, lạ vậy. Chỉ một nốt son đúng chỗ có thể tôn chủ nhân lên bội phần.

CON ĐƯỜNG MÀU XANH

Các chữ “con đường màu xanh” không mới nhưng đi với nhau ở đây thành cái mới, bên cạnh các câu chữ kinh điển. Toàn bài chỉ là một cặp câu lục bát: “Thênh thang trong cõi vô thường/ Lẫn trong dâu bể... con đường màu xanh.”. Nhãn tự là chữ “xanh” ở cuối bài, bất ngờ mà không cố ý.

THƠ TẶNG BẠN SINH NHẬT

Toàn bài: “Bao nhiêu mùa lá đổ/ Bao nhiêu mùa lá rơi/ Bao nhiêu năm không ngủ/ Hay bao nhiêu năm cười.” Là kẻ có trí nhớ cá vàng, tôi vẫn thuộc ngay sau lần coi lướt.

Từ “cười” đủ 4 tiêu chuẩn của từ khóa trong một đoản thi: Tạo tứ; Không thể thay thế; Gọn; Bất ngờ (ở cuối bài/câu). Một sáng tác có diễn ngôn đặc trưng cho tác giả và vượt lên sáo, nhạt thường khó tránh ở nhiều bài khác trong tập. Việc chuyển gam thành công và nhanh lẹ từ cái bi sang cái hài - cặp đối lập quan trọng nhất của hệ thống mỹ học - khiến bài thơ tránh được trò đàm tiếu, thú thù tạc của hệ thơ “tặng bạn sinh nhật” mà nhân gian đã ngán trên thi đàn cổ kim. Sau ba cái “Bao nhiêu” vô thưởng vô phạt, dấm dứ người đọc, nhà thơ “thoi” trúng tim hồng nơi chúng ta bằng quả thôi sơn ở câu thứ 4 - câu chót, với cú xoắn vặn của nắm đấm thi ca ở từ chót: “cười”. Và, sẽ thật là đơn điệu về nhịp nếu như câu 4 lại là, tỷ như, “Bao nhiêu năm cả cười.” Từ “Hay” quả là hay! Vừa là nghi vấn, vừa là tương đương. Phụ trợ tốt cho từ khóa “cười”.

Người bình vô tình lãnh cú thôi sơn, ngay lần coi nhanh đầu tiên trong khi xếp tệp bản thảo vào kho. Cùng với tên bài Những mùa hoa anh nói, đấy là một trong các lý do hối thúc bài đi cùng tập thơ.

NGỦ ĐI TRÁI TIM ƠI

Thơ hậu thế về Phùng Cung thường bi quan. Bài nào bài nấy sao cứ tấm ta tấm tức ấm a ấm ức. Cũng phải thôi. Ở đây tác giả làm theo âm điệu lạc quan; vẫn thấy cái đau cái đời của sự kiện, của nhân vật. Tên bài - xưa hơn trái đất - lại mới cho nội dung này. Tác giả an ủi chính mình, chứ không nói với nhân vật trữ tình, với đối tượng thơ. Thơ tự do mà tuôn chảy.

NHÀ THƠ

Phong cách khác so với đa số bài trong tập. Tứ mới, sốc nhưng không phản cảm. Thơ tự do, nhịp như tango. Hình ảnh không mới, tư tưởng cũng vậy. Diễn ngôn mới, mạnh. Ảnh hưởng Chế Lan Viên? Nói về cái ác một cách ác liệt, bài thơ vẫn có hậu.

NHỚ HOÀNG CẦM

Một bông hồng nhỏ cho thơ Hoàng Cầm. Một lần khóc thành tiếng cho đời Hoàng Cầm. Chữ nghĩa, thi ảnh hoàn toàn cũ, vẫn thơm lành. Bốn câu đầu rõ ràng liên văn bản, nhưng toàn bài của riêng tác giả. “Khóc òa thi nhân.”. Từ “òa” như một tiếng reo, vang trong chuỗi khóc đã được giải tỏa, chiêu tuyết. Cầu Trời cho tất cả các văn nghệ sĩ Việt Nam, quá cố hay hiện sống từng một đời đi “tìm lá diêu bông” của mình trong khi “mang bóng… quê nhà” để rồi phải “hóa hạt mưa sa”, “trắng cùng tóc mẹ”, ai ai cũng đến ngày có được tiếng reo trong tiếng khóc như thế từ đồng nghiệp và độc giả!

CÁC BÀI THƠ “SINH SỰ SỰ SINH”

Đó là các “bài vừa” (khá, trung bình, thậm chí chưa đạt) có những- điểm-G, nơi tạo sinh những vấn đề thú vị không dễ cùng một đánh giá của thơ Trương Anh Tú cũng như của thơ ca. Người viết đã trao đổi cụ thể với từng bài trong phiên bản đầy đủ công bố trên các trang mạng. Dưới đây nêu thí dụ qua 2 bài.

ĐỊNH LÝ

Một thi phẩm xinh xẻo, thú vị! Hồn nhiên như thi ca và sang trọng như toán học. Chưa là bài thơ hay, vẫn có cái hay ở nhiều lẽ. Về nghệ thuật, nó vượt lên loại thơ học trò, kiểu “thơ tình toán học” thời thế kỷ trước.

Thử xét về mặt chuyên môn… Trong toán học, chỉ có tiên đề mới được coi là luôn đúng mà không thể và không cần chứng minh. Định lý là loại mệnh đề đã được hoặc cần được chứng minh. (Nếu không thì hết ngày dài rồi lại đêm thâu, thế hệ này qua thời kỳ khác, các nhà toán học chẳng biết làm gì hơn là tìm mọi cách chứng minh định lý). Tán thêm: còn bổ đề càng là thứ đã được chứng minh hoặc chắc chắn sẽ được chứng minh. (Nếu không thì người Việt ta chẳng còn cơ may nào khác để thể hiện mình qua đại diện ưu tú là Giáo sư Ngô Bảo Châu giữa cộng đồng toán học quốc tế).

Logic của bài thơ ở 2 tầng: Mới gặp chàng thấy nàng “xinh như một định lý”, rồi sau nhiều tìm hiểu cho đến lúc chinh phục, chàng thấy sự “xinh” đã tăng từ cấp “định lý” đến cấp… tiên đề! Ấy là logic toán học. Còn logic tình cảm, túm lại, chàng thấy nàng lúc nào cũng xinh, bất kể thuận lợi (“hoa nở”) hay khó khăn (“ẩn số”) chàng cũng yêu nàng. Khỏi cần “chứng minh”. Đó là một định nghĩa của tình yêu mà không ai nỡ phản đối.

Và người thơ của chúng ta đã “chứng minh” được định nghĩa trên. Bằng bài thơ Định lý: “Em xinh như một định lý/ Như hoa nở giữa đất trời/ Mặc đời bao nhiêu ẩn số/ Em xinh không cần chứng minh!”

LÁ ĐỎ VÌ XANH


Toàn bài: “Đêm bạc tóc/ Lặng im cõi vắng/ Lá trở mình/ Lá đỏ vì xanh.”

Lạ ở ý và hình. Tư duy sâu. Ngặt bởi chưa chín cảm xúc chăng? Như một phác thảo đẹp, chuẩn. Tiện, lạm bàn chuyện chung: Khác hẳn ở văn xuôi, kịch, việc phác thảo và bản thảo trong thơ là điều hiếm được giới sáng tác “nhất trí cao”. Người coi như máu thịt của bản cuối cùng, như công đoạn không thể thiếu trong tiền sáng tác (Chế Lan Viên); người xem là chuyện nhỏ hoặc chỉ phác thảo trong đầu, thậm chí trong mơ (Hoàng Cầm). Chúng tôi xin được ở giữa hai thi bá. Nhất là với thơ dài, trường ca hoặc thơ theo một thi hứng mạnh, dài (trong chuyến đi xa; phục vụ chiến trường; hay… thất tình!)

VI. Vị trí của tập thơ

So với thơ của tác giả: Là bước chuyển mạnh, quyết định đời thơ chuyên nghiệp; chúng tôi tin rằng Những mùa hoa anh nói sẽ là “hộ chiếu” cho tác giả chính thức đi vào làng thơ Việt đương đại.

So với mặt bằng thi ca Việt Nam hiện nay, với chừng mươi bài hay và rất hay, Trương Anh Tú đang thể hiện một hồn thơ bên nguồn nội lực để có thể đi hết đời cùng thơ. Dẫu ít và tản mát, các bài thơ ấy báo hiệu tiềm năng cho một phong cách riêng trong thơ ca đương đại Việt. Đó là dấu son mà có lẽ chính tác giả lại lơ là chăm chút. Điều ta có thể lo (có khi là lo xa) và hơi tiếc (có thể là hơi sớm): Với nhiều bài thường thường bậc trung, lặp lại mình, thi sĩ tự cho phép dễ dàng với bản thân, với dư luận, với Nàng thơ.  

Khó ở chỗ, dù chưa tạo chỗ đứng khác biệt giữa thi đàn Việt hiện nay, thơ Trương Anh Tú có thể được xem đã ổn định về đường hướng cũng như lối viết và thành quả ít nhiều, nếu chưa nói là đang khá thuận lợi trong dư luận. Nếu không mạnh dạn chịu thử thách với chính mình thì tác giả không dễ tách ra phong cách đồng ca/đại trà để tới ngày nào đó đảm nhiệm một giọng lĩnh xướng, dẫu chỉ với một trường khúc nhất định. Âu cũng là nan đề của đại đa số nhà thơ chúng ta lâu nay, trong cũng như ngoài nước. Mà thơ toàn thế giới cũng vậy. Cổ kim… Thế mới là thơ, là làm thơ.

Để ghi được dấu ấn một nhà thơ trong thi ca Việt đương đại, tác giả Những mùa hoa anh nói trong tương lai, hãy biến các bài thơ hay của anh nếu chưa được phủ sóng bởi thi pháp thì cũng phải bằng phong cách riêng!

Vancouver, tháng 8 & 12/2018
Đ.Q  
(TCSH361/03-2019)

-----------
(*) Những mùa hoa anh nói - Nxb. Hội Nhà văn, 2018.

(1) Trần Đình Sử: “Nguyễn Bính - nhà thơ điệu nói trong phong trào thơ mới lãng mạn 1932 - 1945”, lythuyetvanhoc.wordpress.com, 20/8/2018.
(2) Dù mới sáng tác trong vài năm qua, khi xảy ra vụ Giàn khoan 981 tại biển Đông của Việt Nam,  Trương Anh Tú đã là tác giả ca khúc “Trái tim Việt Nam” được dư luận và truyền thông trong - ngoài nước đánh giá cao.
(3) Có thể do lỗi thường gặp trong đời sống vô thường của ngôn ngữ, nhiều chữ bị tha hóa so với  nghĩa nguyên thủy.
(4) Phạm Quốc Ca; “Thơ là gì?”, trong Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 - 2000, Nxb. Hội Nhà văn,  Hà Nội 2003; tacphammoi.net, 13/4/2016.
(5) Tự biên tập được xem như khả năng tự sửa chữa, tu chỉnh, thay đổi, tái sáng tác... toàn bộ bản  thảo tác phẩm của mình mà không bị đòi hỏi nào ngoài vấn đề nghệ thuật.
(6) Như không ít các tập thơ do tác giả tự chọn, Những mùa hoa anh nói cũng cần “quên đau đớn”  tinh lọc nhiều bài trùng về phong cách và đề tài để giảm độ đơn điệu trên toàn tập.  




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • INRASARA (Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009)

  • HÀ VĂN THỊNH Những cái tên - có lẽ không giản đơn như cách nói của người Nga - " Người ta gọi tôi là...”  Ở đây, lớp vỏ của ngôn từ chỉ diễn tả một khái niệm mù mờ nhất của một lượng thông tin ít nhất.Trong khi đó, có bao giờ ta nghĩ rằng một cái tên, không ít khi hàm chứa thật nhiều điều - thậm chí nó cho phép người khác biết khá rõ về tính cách, khả năng và ngay cả một phần của số phận của kiếp người?

  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Ivan Bunhin (1870-1953) là một nhà văn xuôi Nga nổi tiếng của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông trải qua những bước thăng trầm gắn với nhiều biến động dữ dội mang tính chất thời đại của nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX và mấy chục năm đầu thế kỷ XX.

  • LÊ THÀNH NGHỊCâu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ chống Mỹ đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới, khi nhu cầu xã hội và cá nhân đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình của người làm thơ. Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu. Chẳng hạn, thời chống Mỹ đó là độc lập tự do của dân tộc. Tất cả những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” này không phù hợp, không được đón nhận... và vì thế không thể phát triển. Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, với chủ trương đổi mới, trong xã hội ta, nhu cầu bức thiết nhất, theo chúng tôi là khát vọng dân chủ.

  • LÝ TOÀN THẮNG“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao - từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.

  • INRASARA1. Đó là thế hệ thơ có một định phận kì lạ. Người ta vội đặt cho nó cái tên: thế hệ gạch nối, thế hệ đệm. Và bao nhiêu hạn từ phái sinh nhợt nhạt khác.Đất nước mở cửa, đổi mới, khi văn nghệ được cởi trói, nhà thơ thế hệ mới làm gì để khởi sự cuộc viết? Cụ thể hơn, họ viết thế nào?

  • VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.

  • HỒ THẾ HÀ1. Diễn đàn thơ được tổ chức trên đất Huế lần này gắn với chương trình hoạt động của lễ hội Festival lần thứ 3, tự nó đã thông tin với chúng ta một nội dung, tính chất và ý nghĩa riêng. Đây thực sự là ngày hội của thơ ca. Đã là ngày hội thì có nhiều người tham gia và tham dự; có diễn giả và thính giả; có nhiều tiếng nói, nhiều tấm lòng, nhiều quan niệm trên tinh thần dân chủ, lấy việc coi trọng cái hay, cái đẹp, cái giá trị của nghệ thuật làm tiêu chí thưởng thức, trao đổi và tranh luận. Chính điều đó sẽ làm cho không khí ngày hội thơ - Festival thơ sẽ đông vui, phong phú, dân chủ và có nhiều hoà âm đồng vọng mang tính học thuật và mỹ học mới mẻ như P.Valéry đã từng nói: Thơ là ngày hội của lý trí (La poésie est une fête de l'intellect).

  • THẠCH QUỲThơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay, bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức, 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây, như suối cạn nước, hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.

  • NGUYỄN VĨNH NGUYÊNNhững năm gần đây, người ta tranh luận, ồn ào, khua chiêng gõ mõ về việc làm mới văn chương. Nhất là trong thơ. Nhưng cái mới đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau những cuộc tranh luận toé lửa rốt cục vẫn là: hãy đợi đấy, lúc nào đó, sẽ... cãi tiếp...

  • TRẦN VĂN LÝAi sản xuất lốp cứ sản xuất lốp. Ai làm vỏ cứ làm vỏ. Ai làm gầm cứ làm gầm. Nơi nào sản xuất máy cứ sản xuất máy. Xong tất cả được chở đến một nơi để lắp ráp thành chiếc ô tô. Sự chuyên môn hoá đó trong dây chuyền sản xuất ở châu Âu thế kỷ trước (thế kỷ 20) đã khiến cho nhiều người mơ tưởng rằng: Có thể "sản xuất" được thơ và sự "mơ tưởng" ấy vẫn mãi mãi chỉ là mơ tưởng mà thôi!

  • HOÀNG VŨ THUẬTChúng ta đã có nhiều công trình, trang viết đánh giá nhận định thơ miền Trung ngót thế kỷ qua, một vùng thơ gắn với sinh mệnh một vùng đất mà dấu ấn lịch sử luôn bùng nổ những sự kiện bất ngờ. Một vùng đất đẫm máu và nước mắt, hằn lên vầng trán con người nếp nhăn của nỗi lo toan chạy dọc thế kỷ. Thơ nảy sinh từ đó.

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng dáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v... Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi điểm lại những khái niệm về Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau.

  • MẠNH LÊ Thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX đã thu được những thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thơ ca dân tộc. Đặc biệt từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến thực dân hơn trăm năm đô hộ nước ta cùng với khí thế cách mạng kháng chiến cứu nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1946 đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới để từ đó thơ ca hiện đại Việt Nam mang một âm hưởng mới, một màu sắc mới.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.

  • ĐỖ LAI THÚYThanh sơn tự tiếu đầu tương hạc                                  Nguyễn KhuyếnNói đến Dương Khuê là nói đến hát nói. Và nói đến hát nói, thì Hồng Hồng, Tuyết Tuyết làm tôi thích hơn cả. Đấy không chỉ là một mẫu mực của thể loại, mà còn làm một không gian thẩm mỹ nhiều chiều đủ cho những phiêu lưu của cái đọc.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNHải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh năm 1908 trong một gia đình Nho học, khoa bảng. Năm 20 tuổi, trở thành đảng viên trẻ của Tân Việt cách mạng Đảng, Nguyễn Khoa Văn bắt đầu cầm bút viết báo với bút danh Nam Xích Tử (Chàng trai đỏ). Điều này đã khiến trong lần gặp gỡ đầu tiên, người trai có "thân hình bé nhỏ và cử chỉ nhanh nhẹn theo kiểu chim chích" (1) ấy đã gây được cảm tình nồng hậu của Trần Huy Liệu- chủ nhiệm Nam Cường thư xã, người bạn cùng trang lứa tuy vừa mới quen biết, nhưng đã chung chí hướng tìm đường giải phóng cho dân tộc, tự do cho đất nước.

  • TÔ VĨNH HÀ Huế đang trở lạnh với "mưa vẫn mưa bay" giăng mờ như hư ảo những gương mặt người xuôi ngược trên con đường tôi đi. Tôi giật mình vì một tà áo trắng vừa trôi qua. Dáng đi êm nhẹ với cánh dù mỏng manh như hơi nghiêng xuống cùng nỗi cô đơn. Những nhọc nhằn của tuổi mơ chưa đến nỗi làm bờ vai trĩu mệt nhưng cũng đủ tạo nên một "giọt chiều trên lá(1), cam chịu và chờ đợi nỗi niềm nào đó hiu hắt như những hạt mưa...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG1. Một cuộc đời lặng lẽ và những truyện ngắn nổi danhO' Henry, tên thật là William Sydney Porter, được đánh giá là người viết truyện ngắn xuất sắc nhất của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Greenboro, tiểu bang North Carolina vào năm 1862. Năm 15 tuổi (1877), ông thôi học và vào làm việc trong một hiệu thuốc tây. Vào tuổi hai mươi, ông bị đau nặng và sức khoẻ sa sút nên đã đến dưỡng sức ở một nông trại tại tiểu bang Texas. Ông đã sống ở đấy hai năm, đã làm quen với nhiều người và hiểu rất rõ tính cách miền Tây. Sau này, ông đã kể về họ rất sinh động trong tập truyện ngắn có tựa đề đầy xúc cảm Trái tim miền Tây.

  • MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.