Nhớ một đời thơ Trần Nhật Thu

15:34 03/12/2009
NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH       (nhân Đọc "Từ những bờ hoa gió thổi về")Ông Trần Nhật Thu sinh năm 1944 ở Quảng Bình. Ông  lớn lên, làm thơ, đoạt giải thi ca cũng từ miền đất gió cát này. Năm 1978 ông rời Quảng Bình như một kẻ chạy trốn quê hương. Nhưng hơn hai chục năm nay miền quê xứ cát vẫn âm thầm đeo bám thơ ông. Qua đó lộ cảm tâm trạng ông vẫn đau đáu miền gió cát này.

Nhà thơ Trần Nhật Thu - Ảnh: evan.vnexpress.net

Từ những sáng tác thơ cách đây hơn ba chục năm, ông Thu luôn cố gắng ép theo phương thức cố vươn lên, bay lên chất lý tưởng. Lý tưởng đó là lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu con người. Nhưng tiếc thay, thơ ông không để lại dấu ấn từ những cố gắng này mà, như một sự vô tình cái còn lại của thơ ông lại là chất trữ tình dào dạt, rưng rưng như một ám ảnh, không dễ buông tha. Chất trữ tình đó nó gieo hạt, ẩn náu trong thơ ông khi ông còn trẻ dại, nó lớn dần lên theo thời gian và như một trò đùa của số phận, nó nở hoa khi đời ông đã bắt đầu xế bóng.

Những bài thơ hay nhất của ông đều được sinh ra từ những bóng chớp thoáng qua của nỗi vui buồn rớm lệ trong tâm hồn ông. Một tâm hồn yếu đuối lúc nào cũng tỏa hương dìu dịu ái ngại cho miền quê xứ cát nghèo đói khắc nghiệt và xót xa cho những mối tình trai gái lỡ dở, muộn màng. Tôi khẳng định thơ ông Thu là thơ trữ tình vì phần lớn nó được đẻ ra từ những xúc cảm bên trong tâm hồn cho dù ông chỉ biết xử dụng thủ pháp miêu tả - một thủ pháp rất dễ là tù nhân của các giác quan và tư duy trừu tượng. Nhưng có một điều cần nói rõ hơn ấy là dù có xử dụng thủ pháp miêu tả, thì thủ pháp này cũng được tưới đẫm những cảm xúc run rẩy. Hay nói cách khác thơ ông Thu đều bắt đầu từ một tâm trạng nào đó của đời sống bên trong ông. Thơ ông không có chỗ đứng cho lý trí. Bản tính thi sĩ của ông giống như một tiếng rên nhẹ nhàng. Vì vậy nó mang thân phận một con mồi, một vật tế thần cho thơ ca trữ tình mà thôi. Nhưng chính tất cả những dị biệt đó lại tạo nên phong cách thơ Trần Nhật Thu quán xuyến và thống nhất trong cả đời thơ của ông.

Cách biểu đạt bên ngoài thơ ông Thu không có gì đáng lưu ý bởi ông chỉ biết tự đồng hóa mình trong các ẩn dụ, các hình tượng và so sánh để cố trình bày cái hiện thực đời sống một cách tự nhiên qua niềm hứng khởi của cảm xúc. Ngôn ngữ thơ ông Thu trau chuốt một cách lộ liễu đến đạm bạc. Ông dùng nhiều điệp âm, điệp phụ âm và vần điệu để tạo nên chất nhạc trong thơ. Vì vậy khi đọc lên, thơ ông có cái thánh thót lộ liễu như giai điệu bài hát.

Con đường thi ca tiếng Việt mấy chục năm nay là con đường vận động liên tục trên thông lộ lý tưởng, trữ tình, lãng mạn. Thơ ông Thu nằm trong dòng chảy lớn kiếm tìm và sinh nở đó. Thơ ông để lại dấu vết khiêm nhường như một cột cây số nhỏ bé nằm náu mình dọc con đường thi ca của dân tộc.

N.Đ.C
(124/06-99)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRUNG SƠN

    100 NĂM NGÀY SINH BÁC SĨ NGUYỄN KHẮC VIỆN (1913 - 2013)

  • Các tạp chí văn nghệ ở các địa phương trong những năm qua đã đóng góp rất nhiều vào dòng chảy văn học Việt Nam. Đó là nơi góp sức hình thành tên tuổi của nhiều tác giả, tác phẩm từ các địa phương trước khi soi vào gương mặt chung của nền văn học nước nhà, là nơi giữ gìn bản sắc văn hóa văn nghệ của mỗi vùng đất, là nơi khởi thủy của những khuynh hướng sáng tạo mới...

  • NINH GIANG THU CÚC

    Tôi đọc Tim Tím Huế của Bùi Kim Chi bằng tâm trạng, và tâm cảm mình là một kẻ đang được dự phần trong cuộc hành hương về vùng trời hạnh phúc, về thiên đường của tuổi măng tơ, về lứa tuổi mà ai đó đã rất tự hào và trân quý khi họ viết.

  • NINH GIANG THU CÚC

    Tôi đọc Tim Tím Huế của Bùi Kim Chi bằng tâm trạng, và tâm cảm mình là một kẻ đang được dự phần trong cuộc hành hương về vùng trời hạnh phúc, về thiên đường của tuổi măng tơ, về lứa tuổi mà ai đó đã rất tự hào và trân quý khi họ viết.

  • THÁI KIM LAN

    Đầu năm 1999, nhà Văn hóa Thế giới ở Berlin gửi xuống Muenchen cho tôi ngót chục bài thơ, nhờ chuyển ngữ sang tiếng Đức cho tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Berlin vào cuối tháng 3 năm ấy. Như thường lệ không đắn đo, tôi sốt sắng nhận lời.

  • LÊ MINH PHONG

    Đừng đặt tên cho họ…
    Có thể họ còn vô vàn những cuộc phiêu lưu khác nữa.

                               (Robbe - Grillet)

  • PHAN TRẦN THANH TÚ

    “Chính anh là người đã nhẫn tâm với bản thân mình khi tôn thờ chỉ có một điều duy nhất” (Đoản khúc số 97)

  • KỶ NIỆM 123 NĂM NGÀY SINH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

    TRẦN HIẾU ĐỨC

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG 

    Chữ Quốc Ngữ (Q.N) viết theo dạng 24 chữ cái ABC xuất xứ từ các Thầy Dòng truyền giáo Tây Phương mang vào nước ta, cho đến nay gọi là được phổ biến trên dưới trăm năm, gói gọn vào thế kỷ 20.

  • THỤY KHỞI

    Lần hồi qua những trang thơ Lê Vĩnh Thái mới thấy chất liệu thơ từ Ký ức xanh (2004), Ngày không nhớ (2010) cho đến nay Trôi cùng đám cỏ rẽ(*) (2012) hẳn là sự hối hả của dòng chảy ký ức miệt mài băng qua những ghềnh thác thời gian, mà ở độ tuổi của anh có thể bị ăn mòn.

  • Hoàng Minh Tường

    Nhà văn, nhà báo Lê Khắc Hoan xuất hiện và gây ấn tượng trên văn đàn khá sớm: Năm 1959, khi đang là giáo viên trường Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, Lê Khắc Hoan đã có truyện ngắn đầu tay Đôi rắn thần trong hang Pa Kham đoạt giải Khuyến khích báo Thống Nhất (Nguyễn Quang Sáng giải Nhất với truyện ngắn Ông Năm Hạng).

  • LÊ HUỲNH LÂM  

    Khi thơ như một tấm gương phản chiếu tâm hồn của tác giả, phản ánh nhận thức của người sáng tạo với cuộc sống quanh mình, chiếc bóng trong tấm gương ấy là một phần của sự thật. Đôi khi sự thật cũng chưa được diễn đạt trọn vẹn bằng ngôn ngữ của nhà thơ.

  • HOÀNG ANH 

    (Bài viết này, là nén hương lòng tôi thắp dâng lên linh hồn của anh Đơn Phương thân quý!)

  • LGT: Cho đến nay văn học Hậu hiện đại ở Việt Nam vẫn đang là một hấp lực đối với người sáng tạo lẫn phê bình, nhất là giới viết trẻ. Sông Hương đã từng có một chuyên đề sớm nhất về vấn đề này vào số tháng 7/2011.

  • BÙI VIỆT THẮNG  

    Bản thảo tập truyện Nhiệt đới gió mùa tôi nhận được từ nhà văn Lê Minh Khuê qua email cá nhân, in ra 115 trang A4, co chữ 12, đọc phải hết sức chăm chú vì mắt mũi có phần kém sút khi tuổi đã ngoại lục tuần.

  • VĂN GIÁ

    NHÀ VĂN VÕ THỊ XUÂN HÀ - Sống và làm việc tại Hà Nội. Quê gốc: Vỹ Dạ, Huế. Hiện là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa 8). Trưởng Ban Nhà văn Trẻ, Tổng Biên tập Tạp chí Nhà văn. Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm (khoa Toán Lý). Tốt nghiệp thủ khoa khóa 4 Trường viết văn Nguyễn Du.

  • HỒNG NHU 

    Tạp chí Thơ số tháng 10 năm 2012 in bài “Hiểu và dịch bài thơ Đường Khúc Lương Châu như thế nào” của Phạm Thức. Tôi liền đọc ngay vì nói chung về Đường thi hàng nghìn bài nổi tiếng và nói riêng về tác giả là một nhà thơ tài danh: Vương Hàn.

  • THƯ PHÙNG QUÁN GỬI TÔ NHUẬN VỸ

    Sự thay đổi, tiến bộ của Việt Nam sau năm 1975 là to lớn và rõ rệt, đặc biệt trên lãnh vực đặc thù như Văn học, nếu nhìn lại những “vết sẹo” của một thời quá khứ để lại trên cơ thể nền Văn học, mà tiêu biểu là đối với nhà thơ Phùng Quán.

  • GS. VŨ KHIÊU 

    Lần này Vạn Lộc cho in trên 72 bài thơ Đường luật. Đối với Vạn Lộc, đây là một sự táo bạo và cũng là một thử thách với chính tài năng của mình.

  • TRẦN NGHI HOÀNG 

    “mảnh|mảnh|mảnh”, chỉ nhìn tập thơ, chưa cần đọc gì hết, đã thấy là một tác phẩm nghệ thuật tạo hình với bố cục táo bạo và vững vàng. Không offset bảy màu, không chữ nổi giấy tráng glassy, chỉ đơn giản hai màu đen và trắng. Đơn giản, nhưng rất công phu với khuôn khổ 12,5 x 26.