Những bài thơ sống với thời gian

08:11 11/03/2025
Vào giữa những năm 60, 70 của thế kỷ, lớp thanh niên ngày ấy không mấy ai là không thuộc một vài bài thơ của Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm...

Nhất là với những bài thơ được chính tác giả đọc trong một đêm thơ thời chiến, sau đó được chép tay, chuyền từ người nọ sang người kia. Bầy ong trong đêm sâu là một trong những bài thơ đã đi vào “bộ nhớ” của bao lớp sinh viên nói chung và sinh viên văn khoa nói riêng thời ấy. Giờ đây, khi bài thơ được chọn làm tựa đề, được in trên trang đầu của tập thơ đã khiến chúng ta rưng rưng nhớ lại bao kỷ niệm không dễ quên của những năm tháng chiến tranh khốc liệt, nhớ lại hiện thực tâm trạng của một thời mà Lưu Quang Vũ chưa có dịp được giải bày, công bố...

Để giành món quà tặng Vũ nhân dịp anh tròn 45 tuổi, gia đình và bạn bè đã công bố di cảo thơ của Vũ trong khoảng những năm 1970 - 1975. Đây không phải chỉ là mong ước của gia đình Vũ mà còn là sự chờ đợi của người đọc. Từ lâu nay, công chúng không chỉ muốn thỏa mãn trước những vở kịch nổi tiếng của anh mà còn muốn được thỏa mãn đối với những bài thơ chưa được "trình làng" của Vũ. Dường như ngay cả với Lưu Quang Vũ, niềm đam mê thơ ca còn lớn hơn cả kịch trường, cho dù lĩnh vực này, anh đã gặt hái những thành công không nhỏ.

So với các bạn thơ cùng lứa; xuất hiện vào giữa những năm 60 cho đến nay, Lưu Quang Vũ là người được in thơ ít nhất. Nhưng "quý hồ tinh bất quý hồ đa", chỉ nửa tập thơ in chung với Bằng Việt, Hương Cây của Vũ đã tạo nên cốt cách thi sĩ nơi anh, và ngay từ buổi ấy, nhà thơ đã gây được ấn tượng không phai mờ trong tâm khảm người đọc.

Có thể nói từ Hương Cây (1968), Mây trắng của đời tôi (1989) đến Bầy ong trong đêm sâu, thơ của Vũ lôi cuốn người đọc không ở sự chau chuốt lời lẽ, ngôn từ với những kỹ xảo, ngón nghề mà chính một hồn thơ đắm đuối mà chân thành, giản dị mà nồng nàn, da diết. Anh làm thơ như một sự ký thác, gửi gắm, như một sự tự bộc lộ những gì đã có trong cõi lòng anh với những "tin yêu cuộc đời theo cách của tôi”, rất Lưu Quang Vũ. Giữa dòng thơ chống Mỹ ngày ấy, không theo quy ước chung, Vũ lặng lẽ tìm "tín ngưỡng" riêng cho thơ mình. Ngòi bút anh hướng vào bên trong, khám phá nội tâm, khai thác triệt để "cái tôi" của chính mình: "Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh". "Anh xé lòng anh những đêm mất ngủ", "Anh khờ dại anh tự làm mình khổ", “Có những lúc tâm hồn anh rách nát”...

Mấy năm gần đây trong không khí dân chủ hóa và đổi mới nền văn học, các nhà thơ mới có điều kiện thể hiện nỗi buồn và những bi kịch của nội tâm, của cuộc đời thì ngay từ ngày ấy, Lưu Quang Vũ đã tự cấp "giấy phép" cho mình "quyền được buồn" của thi sĩ. Anh là người có khả năng nhạy cảm cao độ với nỗi buồn đau của chính mình và của cả kiếp người, với những "viễn vông, cay đắng, u buồn", với "Nỗi buồn chân thành đời chẳng nhận hay sao", "nhưng từ đáy nỗi buồn tôi thăm thẳm!", "Bị lừa dối, bị lăng nhục; rách rưới bơ phờ, cô độc"... Có lúc buồn đến nỗi tự trào: "Anh như thằng Bờm, chẳng thiết trâu bò chẳng thiết lim; chỉ nhận nắm xôi cười ngặt nghẽo".

Trong thơ của thời kỳ này, Lưu Quang Vũ không che dấu những tai ương, những bất hạnh ập lên số phận mình. Chông chênh trên đường công danh, bất hạnh trong đời tư, Vũ rơi vào tình thế cô độc, bất ổn. Giữa hoàn cảnh sôi động, hào hùng lúc ấy, anh không dễ tìm được tiếng nói đồng cảm của người đương thời và đã có lúc anh cảm thấy tuyệt vọng: “Lòng tốt ai cần đến”, “Thơ không đâu dùng”, “Quen thất vọng tôi hồ nghi mọi chuyện”. Nhưng cũng từ những nỗi buồn của cảnh ngộ cá thể, của bi kịch nội tâm, Vũ đã nhận thức được đến tận cùng con người mình, viết ra những “dòng thơ dằng xé, dày vò”. Suy cho cùng, nỗi đau đớn, nỗi buồn của Vũ trong một lúc nào đó lại là sự an ủi nỗi lòng con người. Có thể nói trong ngõ ngách của mỗi tâm trạng cá nhân, dường như ai đó đều cảm thấy có chút nỗi niềm của mình trong những câu thơ Vũ:

Tôi là đứa con cô đơn ngay từ khi ngồi cạnh mẹ
Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào
Bàn chân hồ nghi giữa đường phố lao xao.

So với các bạn cùng thời, Lưu Quang Vũ là người trẻ hơn cả nhưng tâm hồn anh lại có phần già dặn, từng trải bởi cảnh ngộ riêng, bởi cái "đa đoan phức tạp" của anh. Ẩn chứa bên trong cái thể chất thanh xuân của Vũ là một trái tim trải đời, đầy ưu tư, dằn vặt. Anh luôn luôn chiêm nghiệm, nghiền ngẫm con người và sự đời cả phần ánh sáng lẫn phần khuất tối, thậm chí ở cả phần dễ bị người ta lướt qua bằng cái nhìn đầy phát hiện, vừa tỉnh táo khách quan, vừa ngậm ngùi thương cảm (Những tuổi thơ, Nửa đêm tới thành phố lạ gặp mưa, Quán cà phê ngoại ô, Ngã tư tháng chạp, Viết lại một bài thơ Hà Nội, Ghi vội đêm 1972...) Ngay cả đến tình yêu (chiếm một vị trí đáng kể trong thơ Lưu Quang Vũ) đã có lúc đem lại cho anh cảm giác: "Anh trẻ lại, đời chẳng còn rắc rối", "Anh còn em ta sống lại cuộc đời"; nhưng để có được hạnh phúc ấy anh cũng đã phải nếm trải không ít buồn bã, xót xa, đau đớn đến tội nghiệp: "Anh là con ong bay giữa trời lận đận; Trời đêm dài chẳng có một ngôi sao", "Những gì em cần, anh chẳng có; Em không màng những ngọn gió anh trao"...

Chính nỗi đau tâm hồn, sự đắng cay nghiệt ngã của số phận đã giúp anh sáng tạo những câu thơ đích thực với nghệ thuật đằm chín cùng thời gian; sống trong lòng bạn đọc. Vượt lên trên hoàn cảnh, lấy nghệ thuật làm cứu cánh, tập thơ của Vũ có thể với hôm qua còn phải bàn bạc nhưng với hôm nay thì đã có thể được khẳng định và tồn tại. Đọc những bài thơ nói về "cái tuổi trẻ ồn ào mà cay cực" của Vũ, người đọc nhận thấy được sự thống nhất, biện chứng trong tâm hồn thi sĩ ấy. Năm tháng qua đi, Vũ cũng đã vĩnh biệt chúng ta tròn 5 năm. Ở cõi xa xăm kia, Vũ có linh cảm thấy những câu thơ đang hiện lên trang sách mở ra của anh, sẽ giúp người đọc hiểu thêm và thông cảm hơn với nỗi niềm của chàng thi sĩ một thời thơ ấy.

B.T.
(TCSH59/01-1994)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • Mối quan hệ của Chủ nghĩa Siêu thực với hội họa vẫn là một câu hỏi chưa được sáng tỏ, vấn đề khó khăn này đã được các nhà lịch sử mỹ thuật hé mở hơn khi chú ý ở khía cạnh hình tượng xảy ra trong các giấc mơ và coi đó là một hành vi đặc biệt của “phong cách” nghệ thuật hiện đại.

  • Cách đây vài hôm, tôi nói chuyện với một vị nữ tiến sỹ ở Viện nghiên cứu văn hoá nghệ thuật. Bà là một trưởng phòng nghiên cứu có thâm niên, rất thông thái về văn hoá. Trong lúc vui chuyện tôi nói rằng mình có ý định tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ. Bà bảo không thể đặt vấn đề như vậy, vì ngôn ngữ là một thành tố của văn hoá.

  • TRẦN HUYỀN SÂMVăn học là dòng sông chở đầy dư vị của cuộc đời, mà văn hóa là một trong những yếu tố kết tinh nên hương sắc ấy.

  • LÊ ĐẠTTình không lời xông đất để sang xuânTrước hết xin giải quyết cho xong một vấn đề đã được giải quyết từ rất lâu tại các nhà nước văn hóa phát triển.

  • HỮU ĐẠTMột trong những đặc điểm dễ nhận thấy về phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều chính là tính sáng tạo qua việc dùng từ. Có thể bàn đến nhiều trường hợp khác nhau, trong đó chữ Xuân là một ví dụ khá điển hình.

  • NGUYỄN THANH HÙNGLý do để có thể còn viết được những cái như là hiển nhiên rồi, thật ra có nhiều. Nói về văn thơ tức là nói về cuộc đời, về sự sống dù chỉ nói được một phần rất nhỏ của cả một vũ trụ đang trong cơn say biến đổi, mà đã thấy choáng ngợp lắm rồi.

  • THANH THẢOThơ như những ngọn đèn thuyền câu mực trong biển đêm. Lấp lóe, âm thầm, kiên nhẫn, vô định.

  • ĐÔNG LA.     (Tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà, Nxb Văn Học")

  • NguyỄn Thu TrangNghệ thuật ẩm thực của người Việt đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Việt . Bàn về ẩm thực và những gì liên quan thì quá rộng, thế nên ở đây chúng tôi chỉ mạn phép bàn đến một khía cạnh nhỏ của nó mà thôi.

  • NGUYỄN NGỌC MINHNằm trong nội dung một đề tài nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn của Tỉnh về: khảo sát thực trạng, đề xuất chủ trương giải pháp, xây dựng đội ngũ công nhân- nông dân- trí thức, tăng cường khối liên minh công- nông- trí thức ở TT- Huế.

  • LẠI NGUYÊN ÂNTrước khi vào đề, tôi phải nói ngay rằng trong thực chất, người đã thúc đẩy tôi viết bài này là nhà Việt học người Nga Anatoly Sokolof. Tôi nhớ là anh đã ít nhất một lần nêu với tôi: hiện tượng mà người ta đang gọi chung là “thơ Hồ Xuân Hương” nên được tiếp cận từ góc độ “mặt nạ tác giả”.

  • Ngôn ngữ văn học luôn mang dấu ấn thời đại lịch sử của nó. Đồng thời, thông qua ngôn ngữ tác phẩm người đọc có thể đánh giá được khả năng sáng tạo và phong cách sáng tác của người nghệ sĩ. Văn học Việt Nam từ sau 1975, đặc biệt là sau Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã có những đổi mới mang tính đột phá trên mọi phương diện, trong đó có ngôn ngữ. Viết về đề tài lịch sử trong bối cảnh mới, các nhà văn sau 1975 không chịu núp mình dưới lớp vỏ ngôn ngữ cũ kĩ, khuôn sáo như trước.

  • Nếu có thể nói gì về tình trạng ngày càng thưa vắng các tiểu thuyết đọc được hôm nay, hay nói một cách chính xác hơn là sự vắng mặt của tiểu thuyết hay trong vài thập kỷ qua, theo tôi trước hết đó là vấn đề tâm thể thời đại

  • ĐINH XUÂN LÂM      (Hướng về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội)Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh sinh ngày 19 tháng 07 năm Quý Tỵ, niên hiệu Minh Mạng 14 (1833) tại xã Chân Mỹ, tổng Từ Vinh, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn Trực Mỹ, xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).

  • HOÀNG TẤT THẮNG1. Khái quát về địa danh học.

  • NGUYỄN HOÀNG ĐỨCKhông có một xã hội nào sống và phát triển được nếu không cậy trông vào khả năng phê bình của chính mình. Nói một cách thật dễ hiểu, như người Pháp khẳng nhận: "Người ta dựa trên những gì chống lại mình".

  • PHONG LÊ      (Tiếp theo Sông Hương số 250 tháng 12-2009 và hết) Sau chuyển đổi từ sự chia tách, phân cách đến hội nhập, cộng sinh, là một chuyển đổi khác, cũng không kém tầm vóc: đó là từ cộng đồng sang cá nhân; với một quan niệm mới: cá nhân mạnh thì cộng đồng mới mạnh; cá nhân được khẳng định thì sự khẳng định vai trò cộng đồng mới được bảo đảm.

  • ĐÀO THÁI TÔNNhư chúng tôi đã có lời thưa từ bài báo trước, trong Thơ quốc âm Nguyễn Du (Nxb Giáo dục, H, 1996), thay vì việc xem "bản Kinh" của Truyện Kiều là bản sách in bởi vua Tự Đức, Nguyễn Thạch Giang đã viết đó chỉ là những bản chép tay bởi các quan văn trong triều. Điều này là rất đúng.

  • PHẠM QUANG TRUNGHiện giờ báo chí chuyên về văn chương ở ta đã phong phú và đa dạng. Riêng Hội Nhà văn đã có các báo Văn nghệ, Văn nghệ dân tộc và miền núi, Văn nghệ Tre, và các tạp chí Tác phẩm mới, Văn học nước ngoài.

  • LÊ ĐẠT     Cầm tên em đi tìm