Nhìn lại vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật

16:47 10/06/2009
TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.

Chẳng hạn, đánh giá lại tình hình phản ánh hiện thực của văn học ở giai đoạn trước, có ý kiến đã tìm nguyên nhân từ mục đích tuyên truyền để cắt nghĩa cho sự xuất hiện những tác phẩm minh hoạ. Nhìn lại mối quan hệ giữa văn nghệ với chính trị cũng có người cho văn nghệ, do chỗ hướng tới tuyên truyền vì mục đích chính trị, nên không để lại được những tác phẩm lớn có giá trị lâu dài. Ngay cả trong những bài viết, những cuộc hội thảo về chức năng của văn học, về phương pháp sáng tác.v.v... thì vấn đề này vẫn thảng hoặc được nói đến.

Xét ra, vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật đã chi phối bản thân nghệ thuật không ít. Ảnh hưởng của nó đã lan toả trên nhiều bình diện, từ quan niệm lý thuyết đến thực tiễn sáng tác, từ chủ thể sáng tạo đến khách thể tiếp nhận tác phẩm. Và xuyên suốt trong chiều dài lịch sử kể từ ý kiến của đồng chí Trường Chinh chính thức phát biểu tại Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ hai (1948) đến nay vẫn còn mở ra nhiều khuynh hướng đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau khi vận dụng quan điểm này để lý giải tình hình văn học đã qua.

Muốn có được một cách nhìn thoả đáng, ít ra trên phương diện lý thuyết, rõ ràng vấn đề tuyên truyền trong tác phẩm nghệ thuật cần được triển khai xem xét trong tương quan của sự phát triển giữa lý luận và thực tiễn sáng tác, đặc biệt phải chú ý gắn nó với yêu cầu chính trị qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Riêng ở đây, chúng tôi muốn trở lại với ý kiến ban đầu của đồng chí Trường Chinh phát biểu từ hội nghị nêu trên để đề xuất một số khía cạnh cần được khẳng định và đổi mới trong tư duy lý luận hiện nay khi đề cập đến vấn đề này trong tác phẩm văn nghệ.

Đánh giá và tổng kết các đợt tranh luận đầu những năm 40 của thế kỷ XX về các quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề tuyên truyền và nghệ thuật, đồng chí Trường Chinh đã nêu lên một kết luận có tính khái quát: "Tuyên truyền cao tới một mức nào đó thì tuyên truyền trở thành nghệ thuật. Nghệ thuật thiết thực tới một mức nào đó thì nghệ thuật có tính chất rõ rệt là tuyên truyền" (Về văn hoá và nghệ thuật - T1 - Nxb Văn học - Hà Nội - 1985 - trang 113). Kết luận này chỉ ra mối quan hệ có tính nhân quả giữa tuyên truyền và nghệ thuật với điều kiện khi cả hai đều đạt đến độ giá trị của nó - tuyên truyền phải cao, nghệ thuật phải thiết thực. Vậy xem sự chuyển hoá này có diễn ra như một tất yếu hay không. Nói cách khác, mỗi khi tuyên truyền và nghệ thuật đã đạt được yêu cầu nêu trên thì có phải bao giờ mỗi loại như vậy cũng bao hàm trong nó phẩm chất hay đặc tính của loại kia hay không? Điều đó, chỉ có thể trên cơ sở phân tích về thực tiễn văn học đã qua may ra mới có thể khẳng định được.

Trước hết, nên hiểu tuyên truyền là khái niệm chỉ gắn liền với những vấn đề chính trị cụ thể: "nói tuyên truyền tức là nói chính trị". Quan hệ giữa nghệ thuật và tuyên truyền nếu không xem là hoàn toàn thì cũng một phần biểu hiện mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị. Vậy nên dễ nhận thấy, mỗi khi hoàn cảnh xã hội cho phép xem xét lại mối quan hệ này thì lập tức, vấn đề nghệ thuật và tuyên truyền cũng được đưa ra thẩm định, đánh giá. Thậm chí, đó còn là điểm nóng của nhiều cuộc tranh luận khá sôi nổi. Chứng cứ là tình hình của đời sống văn học nước ta đã diễn ra những năm 40, tiếp theo vào những năm 1957, 1958; và đặc biệt là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Với ý nghĩa đó, quan niệm trên của đồng chí Trường Chinh đã phản ánh đúng nét nổi bật của một bộ phận văn chương vốn ra đời trong những điều kiện lịch sử nhất định. Chẳng hạn, thơ văn của các lãnh tụ cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh trước đây cũng như của Hồ Chí Minh và của một số đồng chí lãnh đạo Đảng ta sau này là những ví dụ tiêu biểu. Điểm giống nhau của hai cụ Phan và Hồ Chí Minh là chưa bao giờ tự nhận mình là nhà văn, nhà thơ và trong tư tưởng không hề có ý lập thân bằng sự nghiệp văn chương. Với các vị, văn chương chỉ là một bộ phận nhỏ trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng, là một phương tiện tuyên truyền cổ động có hiệu lực trên mặt trận kháng chiến, kiến quốc. Ấy vậy, một số sáng tác của Phan Bội Châu trước cách mạng nhằm mục đích tuyên truyền vốn có sức mạnh thôi thúc cả một thế hệ độc giả lên đường tranh đấu thì "giờ đây, còn nhiều người vẫn đọc thuộc lòng và ngâm nga nhiều đoạn văn, nhiều bài thơ (...) một cách khoái trá" (Đặng Thai Mai - Thơ văn Phan Bội Châu - Nxb Văn hoá - 1960 - trang 84). Còn thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chỉ kể riêng phần truyện được Người viết để tuyên truyền cho mục đích chính trị thì rất đúng như Phạm Huy Thông nói: "Chính vì nhằm đạt kết quả thiết thực nhất cho nên rất sinh động, sôi nổi tình cảm, ước mơ, do đó lại rất văn nghệ". (Mấy lời nói đầu Truyện và Ký của Nguyễn Ái Quốc - Nxb Văn học - 1974 - trang 17). Nhà thơ Sóng Hồng - bút danh của đồng chí Trường Chinh cũng đã có lần tâm sự với bạn đọc: "Những bài thơ tôi làm cốt để phục vụ cho tuyên truyền cách mạng". Đúng vậy! Là thi sĩ cũng là bài thơ thuộc loại những tác phẩm nêu trên. Tác giả viết bài này một mặt nhằm chống lại quan điểm sai lầm của nhóm "nghệ thuật vị nghệ thuật", nhưng mặt khác còn để tuyên truyền cho một quan điểm nghệ thuật mới trong văn nghệ:

            Lấy cán bút làm đòn xoay chế độ
            Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền

Nhưng vẫn là bài thơ hay vì đã đạt đến một trình độ nghệ thuật nhất định. Đây là hiện tượng khá phổ biến chứ không chỉ là một vài trường hợp cá biệt. Lịch sử đã cho thấy, nhiều lãnh tụ do cuộc đời lịch lãm và từng trải trong quá trình rèn luyện để trở thành những nhà tư tưởng, nhà hoạt động cách mạng, thì đồng thời ngoài ý muốn chủ quan cũng chuẩn bị điều kiện để trở thành một nghệ sĩ lớn. Sáng tác của họ cho dù có khi chỉ hướng vào mục đích tuyên truyền, nhưng tuyên truyền đó thường đạt đến trình độ cao và "trở thành nghệ thuật". Vì vậy khuynh hướng đối lập giữa tuyên truyền và nghệ thuật tuy có dựa trên một vài căn cứ thực tế nhưng thiếu cái nhìn toàn diện và sự lý giải thoả đáng. Đúng quả có những nghệ sĩ thực sự tài năng nhưng vì lịch sử có lúc đã đặt ra trước mắt "những việc cần làm ngay" nên họ không có được khoảng thời gian ngừng nghĩ cần thiết, sự suy ngẫm, trau chuốt kỹ càng mà do đó, sáng tác có phần nặng về tuyên truyền mà nhẹ về nghệ thuật. Điều hiển nhiên mà ai cũng thừa nhận, Bác của chúng ta không những là một lãnh tụ vĩ đại mà còn là một nghệ sĩ lớn. Thế nhưng nếu ai đó gọi một số sáng tác của Bác như Ca dân cày, Ca du kích, hay Khuyên thanh niên, Gửi nông dân v.v... là những "truyền đơn bằng miệng" thì cũng không quá. Chính Bác đã có lần tâm sự: "Chắc sẽ có người cho rằng văn chương cụt quằn (...). Hơn sáu mươi năm nay đế quốc chủ nghĩa Pháp đạp lên đầu hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa. Phải kêu to làm chóng để cứu lấy giống nòi. Thời gian đâu rảnh mà vẽ với trau chuốt (...) văn chương và hy vọng cuốn sách này chỉ ở trong hai chữ cách mệnh! cách mệnh! cách mệnh!!!". Sự lý giải lịch sử này cho ta thấy, trong một số trường hợp cách mạng đã biến văn chương thành một hành vi chính trị trực tiếp, nhưng nên xem đấy là một hiện tượng cá biệt. Còn nhìn chung nghệ thuật và tuyên truyền chẳng những không đối lập mà còn thống nhất và bổ sung cho nhau để hoàn thiện bản chất và chức năng xã hội của chúng.

Vả chăng, tuyên truyền cũng như nghệ thuật xét cho cùng thì đều là những chuyện của cuộc đời được đưa ra để nói, để giãi bày trao đổi. Sự gặp gỡ tuyệt diệu ở mục đích, lý tưởng thường khi đã tạo nên cho cả hai một thái độ và khuynh hướng biểu hiện chung. Vậy nên khi thấy nội dung một tác phẩm văn nghệ sát thực với nội dung chính trị thì đừng vội cho đó là tác phẩm minh họa. Lịch sử nhiều khi đã đặt ra trước mắt người nghệ sĩ vai trò của một chiến sĩ. Nhà văn chiến đấu không vì một chỉ thị nào khác ngoài chỉ thị của trái tim với ý thức tự nguyện cao cả. Họ thấy cần thiết phải phản ánh bằng được những khát vọng cháy bỏng, những yêu cầu bức thiết trước mắt của dân tộc cũng như của giai cấp để khích lệ tinh thần cộng đồng trong đấu tranh và xây dựng một cuộc sống mới. Mục đích của tuyên truyền và nghệ thuật trong trường hợp đó đã xuyên thấm, hoà tan trong cảm hứng sáng tạo của nhà văn, đồng thời là điều kiện thuận lợi cho phép nhà văn vươn lên đạt được những thành tựu nghệ thuật đáng kể. Cứ bình tâm nhìn lại nền văn nghệ cách mạng nước ta trong quá khứ một cách khách quan và nghiêm túc, chúng ta sẽ thấy không ít tác phẩm văn chương đã kết tinh rực rỡ sự gặp gỡ kỳ diệu đó.

Một khía cạnh nữa cũng thể hiện mặt đúng trong quan niệm của đồng chí Trường Chinh là việc thừa nhận ý nghĩa tuyên truyền trong tác phẩm văn nghệ. Có thể, "nghệ thuật thiết thực tới một mức nào đó" chưa hẳn đã mang tính chất tuyên truyền; nhưng nghệ thuật có tác dụng tuyên truyền thì dứt khoát phải thiết thực. Nói rõ ra, đó phải là những tác phẩm văn nghệ thể hiện được những vấn đề cơ bản của thời đại, của dân tộc và giai cấp, phản ánh được những nguyện vọng tha thiết, những đòi hỏi bức xúc, chính đáng của quảng đại quần chúng trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Hiệu quả giáo dục và tác dụng cổ vũ lớn lao của nhiều tác phẩm nghệ thuật chân chính đã biến tinh thần của quần chúng trở nên một lực lượng vật chất trong nhiều cuộc cách mạng xã hội vĩ đại. Chẳng phải từ lâu, Lênin đã từng coi tác phẩm Người mẹ của Gorki là một sáng tác rất kịp thời. Và khi nhìn về quá khứ, Người cũng gọi Pôchiê "là một trong những người tuyên truyền bằng thơ ca vĩ đại nhất" đó sao. Sau này một số người do quá nhiệt tâm đấu tranh cho "tính độc lập" của văn chương nghệ thuật mà dẫn đến khuynh hướng phủ nhận toàn bộ ý nghĩa tuyên truyền này. Họ tưởng nghệ thuật linh diệu và trường cửu phải là "nghệ thuật thuần tuý"; nhưng thực ra một quan niệm như vậy đã tước đi cái bản chất và chức năng cao quý vốn đã tạo nên giá trị muôn đời của nhiều tác phẩm vĩ đại.

Tuy nhiên trên đây cũng mới đề cập đến những khía cạnh đúng đắn trong nhận định của đồng chí Trường Chinh. Còn thật ra nhận định đó chưa thể bao quát hết toàn bộ các hiện tượng khi xem xét sự chuyển hoá hai chiều giữa tuyên truyền và nghệ thuật. Cụ thể, có loại tuyên truyền cho dù đã đạt đến trình độ cao thì vẫn không thể trở thành nghệ thuật. Loại này không biểu hiện như một chức năng của văn chương nghệ thuật mà là một hành vi chính trị thuần tuý, một hoạt động có tính độc lập. Kinh nghiệm và năng khiếu nghề nghiệp có thể giúp các cán bộ hoạt động trong lĩnh vực này đạt đến trình độ tuyên truyền cao, nhưng không vì thế mà hiệu quả tuyên truyền lại trở thành nghệ thuật. Nếu nghệ thuật được dùng như một khái niệm rộng, thì trong chừng mực nào đó có thể coi đã đạt đến trình độ nghệ thuật tuyên truyền chứ không phải nghệ thuật mĩ học. Đồng chí Trường Chinh nói đúng: "Tuyên truyền chính nghĩa rất có thể đạt được trình độ nghệ thuật chân chính" (Sđd trang 114). Nhưng đó là sự thống nhất trong thế khả năng. Còn một lúc vì hiệu quả tuyên truyền mà nghệ thuật có được thì không phải là hiện tượng phổ quát cho mọi trường hợp. Mặt khác, cũng có loại "nghệ thuật thiết thực" nhưng không biểu hiện gì có tính chất rõ rệt là tuyên truyền. Một tác phẩm văn chương có giá trị thường khi chỉ đem lại cho bạn đọc sự am hiểu sâu sắc về thiên nhiên, về con người của một xứ sở, một đất nước nào đó. Một bản giao hưởng tuyệt vời làm thoả mãn sự khoái cảm nghệ thuật của thính giả có khi chỉ vì sự thể hiện tài tình của nghệ sĩ bằng âm thanh về vẻ đẹp của một buổi sáng lúc bình minh đang lên. Sự mở rộng tầm nhìn, vốn hiểu biết cũng như khả năng đáp ứng những rung động thẩm mĩ cần thiết không phải khi nào cũng có tính chất tuyên truyền dù trong ý đồ của tác giả hay trong nội dung khách quan của tác phẩm. Có ý kiến cho rằng: "Tác phẩm nghệ thuật nào mà lại không tuyên truyền cho một cái gì" (Sự lãnh đạo của Đảng và tự do sáng tác của văn nghệ sĩ - Báo Nhân Dân - 20-3-1984 - trang 2). Cố nhiên! Nhưng hiểu khái niệm tuyên truyền như vậy đã theo một hàm nghĩa rộng. Nghĩa là tuyên truyền được coi như sự biểu đạt tin tức hay phổ biến, trao đổi một nội dung thông báo nào đó. Ví như một câu tục ngữ ít ra cũng mách bảo cho người đọc biết được một vài khía cạnh nhất định về kinh nghiệm sống. Một pho tượng La Hán chùa Tây Phương cũng truyền lại cho thế hệ mai sau thấu hiểu phần nào nỗi đau của ông cha ta trước đây trong kiếp trầm luân. Hay một bản nhạc, một bức tranh cho dù chỉ là kết quả của một cảm hứng thuần tuý, nhưng khi ra đời, vẫn có giá trị như một thông điệp gởi đến mọi người một cái gì về hiện thực, về tâm sự của chính nghệ sĩ v.v... Chẳng phải đã có người thừa nhận, bằng tác phẩm và thông qua tác phẩm, nghệ sĩ mượn những sự việc của thực tại để "tuyên truyền" một cái gì với thực tại đó sao. Nhưng tuyên truyền đang nói ở đây đã giới hạn trong nội dung tác phẩm gắn liền với những vấn đề thuộc chủ trương đường lối. Nó phải thể hiện được phần nào khát vọng, khuynh hướng tư tưởng của một giai cấp hay của một tập đoàn chính trị xã hội nào đó. Trong phạm vi như vậy, tuyên truyền không phải bao giờ cũng là người bạn đường của nghệ thuật. Nghĩa là, không phải tác phẩm văn chương nghệ thuật nào cũng có tính chất tuyên truyền, kể cả tác phẩm có giá trị thiết thực đối với đời sống tinh thần của chúng ta.

Hơn nửa thế kỷ qua, nền văn nghệ nước ta do bám sát với đời sống chính trị xã hội nên đã phản ánh khá chân thật và sâu sắc những vấn đề cơ bản trong đường lối cách mạng của Đảng. Đó là nền văn nghệ cách mạng thực sự có vai trò và tác dụng lớn lao trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên nhìn lại, chúng ta thấy bên cạnh một thành tựu nghệ thuật đáng tự hào vẫn còn nhiều tác phẩm đã đánh mất những phẩm chất nghệ thuật cần thiết, mà theo cách nói thường dùng, đó là những tác phẩm minh họa vốn thực hiện chức năng tuyên truyền một cách sống sượng và khô khan. Nhưng dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng không nên quy lỗi cho hoàn cảnh lịch sử hay mục đích tuyên truyền mà trước hết nên xem trách nhiệm thuộc về người sáng tác. Tác phẩm nghệ thuật là đứa con tinh thần, nó ra đời do kết quả của một quá trình lăn lộn, thai nghén và sinh nở bằng chính tình cảm cũng như tài năng sáng tạo của nhà văn. Dù sao thì nguyên tắc của nghệ thuật, nhất là nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực cũng không cho phép nhà văn dễ dãi lược quy tất cả đặc trưng của nó để phục vụ cho mục đích tuyên truyền hay khuynh hướng tư tưởng nào đó. Chính C.Mác và Ph.Ăngghen, cách đây hơn một thế kỷ trước, mặc dù rất nhiệt tâm cổ vũ và đánh giá cao những tác phẩm tuyên truyền cho khuynh hướng chính trị của giai cấp vô sản nhưng vẫn luôn luôn đòi hỏi một yêu cầu nghiêm túc trong sáng tạo nghệ thuật đối với các nhà văn hiện thực. Ph.Ăngghen từng nhấn mạnh: "bản thân khuynh hướng phát toát ra từ tình thế và hành động", và theo Người: "Các quan điểm của tác giả càng kín đáo bao nhiêu thì lại càng tốt cho tác phẩm nghệ thuật bấy nhiêu" (Về văn học và nghệ thuật - Nxb Sự thật - Hà Nội - 1997 - trang 381,385). Vậy nên, ý nghĩa tuyên truyền cho dù được coi trọng đến mấy cũng không vì thế mà xem nhẹ đặc trưng phản ánh của nghệ thuật. Nghệ thuật dứt khoát phải có tiếng nói riêng, tiếng nói toát lên từ những biến cố và hệ thống hình tượng sinh động đầy sức thuyết phục. Nếu không thấy được điều này sẽ dễ dàng đồng nhất nghệ thuật với tuyên truyền, biến nghệ thuật thành một công cụ thực dụng và coi sáng tạo nghệ thuật như một hành vi chính trị thuần tuý.

T.T.H
(176/10-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.

  • TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.

  • HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNG                 Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.

  • ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.

  • LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.

  • NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.

  • AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.

  • TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!

  • PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

  • THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm.                                VẠN HẠNH Thiền sư

  • HỒ THẾ HÀ  Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique  expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.

  • LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết:              Đào tiên đã bén tay phàm              Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?

  • CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.

  • PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.

  • HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.

  • BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.

  • NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.