Nhân cách luận cách mạng - điểm quy chiếu con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

16:07 24/01/2011
TRẦN VĂN SÁNG - NGUYỄN THỊ TỐ LOANKỷ niệm 100 năm Bác Hồ đi tìm đường cứu nước (1911 - 2011)

Nguyễn Tất Thành trên bến nhà Rồng năm 1911 - Ảnh: Internet


Viết về tư tưởng và tầm nhìn văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho đến nay, đã có hàng ngàn tác giả với hàng vạn trang sách được công bố trong và ngoài nước. Do vậy, những điều chúng tôi nghĩ về Bác, một con người giản dị mà vĩ đại, một lãnh tụ kính yêu của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, cũng chỉ là những suy nghĩ nhỏ về một nhân cách lớn, nhân cách luận cách mạng Hồ Chí Minh, qua đó, góp phần lí giải sự kế thừa chủ nghĩa yêu nước truyền thống đưa đến sự thành công cho quá trình tìm đường cứu nước của Người.

Từ con người nhân cách luận truyền thống Nguyễn Tất Thành…

Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan để đưa đến sự thành công trong con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Song một điều chắc chắn không ai có thể chối cãi được, đó là, Người đã được tiếp thu, thừa hưởng một truyền thống văn hoá cổ truyền đậm chất nhân văn, trọng tình, giàu lòng nhân ái của dân tộc Việt Nam từ hàng ngàn năm trước. Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò gần gũi của Hồ Chí Minh cũng đã viết: “Tôi bắt đầu cuốn sách về tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách đặt câu hỏi Hồ Chí Minh là ai lúc ra đi tìm đường cứu nước?”. Gs Phan Ngọc có lí khi cho rằng, “Con người thừa hưởng văn hoá của quê hương mình cũng như anh ta thừa hưởng ngôn ngữ, cách sinh hoạt, quan niệm sống, quan niệm về hạnh phúc, đau khổ, bổn phận, nghĩa vụ, cái đẹp về nhân cách, đạo đức, các cách ứng xử của nó”(1). Quê hương, gia đình và sự nhập cuộc của bản thân đã sớm làm nảy nở trong người thanh niên Nguyễn Tất Thành tấm lòng yêu nước, thương dân thiết tha: “Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”(2). Văn hoá trước hết là một sự kế thừa, do vậy, cũng có thể nói về tính kế thừa của tư tưởng Hồ Chí Minh từ góc nhìn văn hoá.

Trước hết, Người được thừa hưởng và chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng văn hoá phương Đông được tích lũy từ bao thế hệ. Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho giáo, từ nhỏ Người đã học chữ Hán với các thầy là bậc túc nho yêu nước, làu thông Tứ Thư, Ngũ Kinh. Ảnh hưởng của Nho giáo đối với Người rất lớn, đạo đức Nho giáo đã thấm vào tư tưởng của Người. Người tiếp thu tinh hoa Nho giáo và đứng trên quan điểm cách mạng để sử dụng Nho giáo, tức là tiếp thu có phê phán. Cũng giống như Mác tiếp thu có phê phán tư tưởng của các nhà khoa học xã hội tư sản, triết học duy vật của Phơ-bách và phép biện chứng của Hêghen, Hồ Chí Minh có cách nhìn nhận khách quan, khoa học đối với Nho giáo, Người đánh giá đúng đắn vai trò, ý nghĩa của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng xã hội nhân loại.

Cũng như vậy là sự tiếp thu có chọn lọc tinh túy của Phật giáo - một nguồn gốc tư tưởng, triết lý, văn hóa phương Đông du nhập vào Việt Nam rất sớm. Những điểm tích cực của Phật giáo đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tư duy hành động, cách ứng xử của Hồ Chí Minh. Người kế thừa những tư tưởng tiến bộ, tích cực của Phật giáo, đó là tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn; nếp sống giản dị, thanh liêm; đề cao tinh thần bình đẳng; không xa rời đời sống mà luôn gắn bó với dân tộc, đất nước. Ảnh hưởng của tư tưởng Lão - Trang cũng thể hiện đậm nét trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh với lòng yêu thiên nhiên, lối sống giản dị, hòa mình với thiên nhiên của Người.

Kế đến, văn hóa phương Tây với tư tưởng dân chủ cách mạng cũng thể hiện đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ khi còn học ở các trường Tiểu học Đông Ba, Quốc học Huế, Người đã say mê môn học lịch sử và tìm hiểu về cuộc Đại cách mạng Pháp năm 1789. Một điểm quan trọng tác động đến Hồ Chí Minh là tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, có thể nói đó là xuất phát điểm để Người xác định hướng đi tìm đường cứu nước của mình. Những tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng như Vônte, Rútxô, Môngtexkiơ cũng ảnh hưởng đến tư tưởng Người. Khi sang Mỹ, Người đã tiếp thu giá trị về quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc, Người tiếp thu và hình thành phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn ở châu Âu.

Cho dù tiếp xúc với hệ tư tưởng nào, Người cũng luôn khiêm tốn và lúc nào cũng tiếp thu sáng tạo những tinh hoa văn hoá nhân loại theo tinh thần “Việt Nam hoá” theo cách của mình. Trong “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” (1949) của Trần Dân Tiên có đoạn viết: “Có người hỏi ông Nguyễn: ông là người thế nào, theo chủ nghĩa cộng sản hay theo chủ nghĩa Tôn Dật Tiên? Ông Nguyễn trả lời: Học thuyết Khổng tử có cái hay là sự tu dưỡng đạo đức; tôn giáo Giê-su có cái hay là lòng bác ái. Chủ nghĩa Mác có cái hay là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có cái hay là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước chúng tôi… Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ. Tôi chính là tôi ngày trước: một người yêu nước”. Yêu nước chính là một giá trị văn hoá nhân văn truyền thống được người Việt Nam hun đúc từ bao đời nay mà Bác được thừa hưởng.

Một nền văn hoá có một tư tưởng chủ đạo. Nếu tư tưởng chủ đạo của văn hoá phương Tây là cá nhân luận thì truyền thống văn hoá Việt Nam, theo Gs Phan Ngọc, là truyền thống nhân cách luận. Con người nhân cách luận lấy nguyên lí trọng tình làm triết lí sống (Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình, Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ). Người Việt Nam không đánh giá một người ở tài sản, địa vị, quyền lực, mà ở quan hệ của anh ta với mọi người, cụ thể trong hai quan hệ: Một là trong quan hệ với đất nước, tổ quốc Việt Nam. Anh ta phải “trung” với tổ quốc Việt Nam, đặt quyền lợi của tổ quốc lên trên mọi quyền lợi. Hai là trong quan hệ với gia đình hiểu theo nghĩa rộng, trong cách đối xử với cha mẹ, vợ con, làng nước, bạn bè. Cơ sở của quan hệ thứ nhất là chữ “trung” (hiểu theo nghĩa trung với nước); cơ sở của quan hệ thứ hai là chữ “hiếu” (hiếu với dân chứ không chỉ hiếu với cha mẹ). Qua cách ứng xử của anh ta với tổ quốc và gia đình, anh ta có được một thân phận và một diện mạo. Người ta đánh giá anh theo nhân cách, là người có nhân cách cao hay nhân cách thấp. Nhân cách không lệ thuộc vào địa vị, tài sản, học vấn, quyền lực. Đây chính là bản sắc văn hoá Việt Nam, văn hoá 4F mà Gs Phan Ngọc đã từng đề cập: Tổ quốc (Fatherland), Gia đình (Family), Thân phận (Fate), Diện mạo (Face). Vì vậy, con người nhân cách luận Việt Nam lấy tổ quốc làm điểm quy chiếu, cho nên Việt Nam là một nước hàng ngàn năm không ai đánh bại nổi, không ai chinh phục được. Đối với nhân dân Việt Nam, Tổ quốc lớn hơn tất cả. Sở dĩ Việt Nam đánh bại được quân xâm lược là vì có một lý thuyết quân sự xuất phát từ chính văn hoá dân tộc Việt: văn hoá vì nghĩa vì tình, văn hoá yêu nước thương nòi; đó là sự hiếu hoà, khoan dung, tâm công theo tinh thần nhân văn truyền thống. Hồ Chí Minh đàm phán với các nước trên cơ sở tự do, bình đẳng, bác ái của Pháp; đàm phán với Mỹ trên cơ sở quyền tự quyết của dân tộc mà hiến pháp Mỹ thừa nhận. Cố Gs Trần Quốc Vượng đã từng đưa ra nhận định rất hay về văn hoá Việt Nam truyền thống: mất dân gian là mất hồn dân tộc. Cái tạo nên minh triết Hồ Chí Minh, ngoài sự tích hợp văn hoá Đông Tây kim cổ, là truyền thống yêu nước thương nòi, triết lí dân gian của chính người Việt.

…Đến con người nhân cách luận cách mạng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

Đến với cách mạng từ truyền thống văn hoá cũng là con đường chuyển biến từ con người nhân cách luận truyền thống đến con người nhân cách luận cách mạng Hồ Chí Minh. Cuộc đời hoạt động cách mạng, tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là cuộc đời của một nhân cách luận cách mạng mẫu mực. Nhân cách luận cách mạng được Bác lấy làm triết lí sống trong suốt cả cuộc đời của mình, dù đứng trên cương vị nào. Điều này được thể hiện trên mấy khía cạnh sau:

Thứ nhất, “tìm đường cứu nước” không phải là cụm từ mới mẻ ở thời đại Nguyễn Tất Thành. Nhưng so với cha ông, con đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành có khác. Không ít nhà nghiên cứu, học giả, nhà văn, nhà báo… trong và ngoài nước đã tìm hiểu cái “khác” ấy ở Nguyễn Tất Thành. Cụ Phan Chu Trinh chủ trương cách mạng cải lương với chính quyền thực dân Pháp, điều đó chẳng khác gì “xin giặc rủ lòng thương”. Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp, điều đó không chỉ là không tưởng mà còn rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Phải tìm con đường khác, con đường mới; phải đi ra nước ngoài nhưng theo một hướng khác. Chỗ khác nhau cơ bản không phải ở hành động xuất dương, mà trước hết ở mục đích của nó. Nguyễn Tất Thành xác định mục đích hoàn toàn khác: “Tôi muốn đi ra ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem họ làm thế nào, tôi sẽ về giúp đồng bào chúng ta”(3). Đó phải chăng là sự vận dụng triết lí dân tộc trong thực tiễn “Trăm nghe không bằng một thấy” của Người đó sao. Muốn chiến thắng đối phương phải hiểu đối phương. Nguyễn Trãi hiểu đối phương tương đối dễ vì những quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có từ lâu. Con đường cứu nước mà Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh phải tìm là ở ngay các nước tiêu biểu nhất của chủ nghĩa đế quốc (Pháp, Mỹ), một đối tượng hoàn toàn xa lạ với Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là một sự thức nhận mẫn tiệp của một nhân cách có tầm nhìn xa và rộng.

Thứ hai, đường lối chính trị của con người nhân cách luận cách mạng lấy đoàn kết làm nền tảng sách lược, cho nên, để thu phục quần chúng không thuần túy bằng con đường kinh tế, con đường bạo lực dựa trên kỷ luật mà còn theo chính con đường nhân cách luận cách mạng - con đường nêu gương. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), Bác đã từng đề cập đến “tư cách một người cách mệnh” với 23 đặc điểm. Với mình thì: cần kiệm; hoà mà không tư; quả quyết sửa lỗi mình; cẩn thận mà không nhút nhát; hay hỏi; nhẫn nại; hay nghiên cứu, xem xét; vị công vong tư; không kiêu ngạo; hy sinh; ít lòng ham muốn về vật chất; bí mật. Với người thì: với từng người thì khoan thứ; với đoàn thể thì nghiêm; có lòng bày vẽ cho người; trực mà không táo bạo; hay xem xét người. Làm việc phải: quyết đoán; dũng cảm, phục tùng đoàn thể. Những đức tính trên đều được tìm thấy trong truyền thống văn hoá dân tộc. Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... là những tấm gương bất tử về nhân cách. Trong đó, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương sáng nhất về con người suốt đời hi sinh phấn đấu cho độc lập tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân; lòng nhân ái, tình yêu nước, đồng chí, đồng bào; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và học tập không mệt mỏi để phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân.

Thứ ba, Nguyễn Ái Quốc là một người cộng sản hết sức tích cực và lỗi lạc (sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam). Nhưng là người phương Đông, Nguyễn Ái Quốc nhìn cách mạng theo con mắt phương Đông, có một truyền thống đạo đức khác truyền thống văn hoá phương Tây. Bằng chứng là Bác chủ trương một chủ nghĩa Mác-Lênin mang đậm bản sắc Việt Nam, xây dựng trên cơ sở tiếp thu, kế thừa truyền thống trọng nghĩa tình của dân tộc không phải hoàn toàn trên căm thù giai cấp. Do những điều khách quan về kinh tế - xã hội, quá trình phân hoá xã hội giai cấp ở Việt Nam có những sắc thái riêng: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lí nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”(4). Người đã “Việt Nam hoá” và trực tiếp đưa lí luận Mác-Lênin vào phong trào cách mạng Việt Nam, bao gồm cả phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Từ chủ nghĩa yêu nước, thực tiễn sống, học tập và hoạt động phong phú ở Pháp (1911), Mỹ (1912-1913), Anh (1913-1917), Paris (1917-1923), với bản lĩnh, tư chất thông minh, kiến thức văn hoá rộng cổ - kim - đông - tây, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã “Việt Nam hoá” lí luận Mác-Lênin và trực tiếp đưa vào phong trào cách mạng Việt Nam một cách thành công và hiệu quả nhất.

Sau hết, tầm nhìn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được thể hiện thông qua sự thức nhận về cách mạng của Người. Theo Nguyễn Ái Quốc, có 3 loại cách mạng: “Tư bản cách mệnh như Pháp cách mạng năm 1789, Mỹ cách mệnh độc lập năm 1776 (đuổi Anh), Nhật cách mệnh năm 1864. Dân tộc cách mạng như Itali đuổi cường quyền Áo năm 1859, Tàu đuổi Mãn Thanh năm 1911. Giai cấp cách mệnh như công nông Nga đuổi tư bản và giành lấy chính quyền năm 1917”(5). Từ sự phân loại đó, Nguyễn Ái Quốc đi đến đánh giá có tính chất so sánh để hướng người đọc tới một sự lựa chọn duy nhất: Cách mạng Việt Nam đang tiến hành thuộc loại cách mạng gì? Theo Nguyễn Ái Quốc đó là cuộc cách mạng dân tộc, hay là cuộc cách mạng chính trị với mục đích cuối cùng là đoàn kết tất thảy mọi người bị áp bức bóc lột vùng dậy lật đổ chính quyền thực dân Pháp, giành lại tự do cho nhân dân, độc lập cho dân tộc. Sau 10 năm (1911-1920) tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người cần phải có những nhân tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, dân tộc và thời đại. Tuy nhiên, nhân tố quan trọng “trước hết phải có đảng cách mệnh”(6). Từ chủ nghĩa yêu nước với nhân cách luận truyền thống đến chủ nghĩa cộng sản với nhân cách luận cách mạng, con đường mà Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đi cũng chính là con đường Người đưa dân tộc chúng ta đi theo: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Dẫu có lúc thăng, lúc trầm, nhưng hôm nay chúng ta vẫn có thể hiểu được vì sao từ nền văn hóa đã khai sinh ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt qua tư tưởng thời đại mình để tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin mà vẫn không đánh mất cái văn hóa làng quê Việt Nam trọng nghĩa, trọng tình. Cuộc đời cách mạng 10 năm tìm đường cứu nước (1911-1920), 10 năm tiếp thu, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin (1920-1930) đưa đến sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam, giành lấy chính quyền năm 1945 và con đường 30 năm kháng chiến giành lại sự thống nhất đất nước, là thực tiễn lịch sử minh chứng cho sức sống vững bền của đường lối cách mạng và tầm nhìn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về con đường cứu nước và giải phóng dân tộc.

T.V.S - N.T.T.L 
(263/01-11)



--------------
(1) Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, tr.396.
(2, 3, 6) Trần Dân Tiên,
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Chính trị quốc gia và Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr.12.
(4) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, t.1, tr.465.
(5) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.2, tr.264-280.



Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • THANH THẢO(Đọc “Bán đảo” của Thái Bá Lợi)

  • TRẦN HUYỀN TRÂNNgày 10 - 10, Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế và Công ty Văn hóa Phương Nam đã tổ chức buổi tọa đàm về tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Buổi tọa đàm đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của các nhà văn, nhà nghiên cứu và đông đảo sinh viên các trường đại học.

  • KIM QUYÊNSau tập thơ Ngày đầu tiên(*), nhà văn Trần Hữu Lục tiếp tục ra mắt bạn đọc tập Góc nhìn văn chương(**) và anh sẽ xuất bản tập truyện ngắn Trần Hữu Lục (tuyển chọn năm 2010). Thật là một mùa bội thu với nhà văn Trần Hữu Lục.

  • HỒNG DIỆU(Nhân đọc Trái tim sinh nở và Bài thơ không năm tháng *)

  • MAI VĂN HOANTôi cố hình dung những tháng ngày nhà văn Hồng Nhu trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh từng gắn bó đã hơn hai mươi năm với bao kỷ niệm vui buồn.

  • KHẢI PHONG“Thơ kỵ nhất viết điều người đã viết! Nhưng biết sao, khi tôi mến sông Cầu…Lòng khẽ nhắc: đừng nói điều đã viết,Sao âm vang cứ mãi gọi: sông Cầu”

  • (Về cuộc thi truyện ngắn dành cho sinh viên Huế do Sông Hương tổ chức)BAN TỔ CHỨC CUỘC THINhằm tạo không khí sáng tác, phát hiện các cây bút trẻ Huế, trong khuôn khổ Chương trình Phát triển Tài năng Trẻ, Tạp chí Sông Hương tổ chức Cuộc thi truyện ngắn dành cho sinh viên đang theo học các trường đại học và cao đẳng ở Huế.

  • LÊ HUỆCuộc thi Truyện ngắn cho sinh viên Huế do tạp chí Sông Hương tổ chức đã thu hút được sự tham gia của rất nhiều các bạn trẻ mang trong mình khát vọng văn chương. Những truyện ngắn dự thi đã cho ta thấy được một vóc dáng mới của các cây bút trẻ Huế hiện nay: phản ánh cuộc sống đương đại từ nhiều góc cạnh bằng bút pháp tinh tế, mới mẻ, giàu trí tuệ và đầy chất thơ. Mười lăm truyện ngắn xuất sắc lọt vào chung khảo đã được tập hợp lại thành ấn phẩm mang tên “Yêu xa xa một phút”.

  • PHAN MINH NGỌC“Bài thơ về biển khơi” (*) là tập sáng tác đầu tay của cây bút nữ Trần Thùy Mai.

  • NGÔ HƯƠNG GIANGLàm thế nào để diễn giải hợp lý về Tường Thành?

  • KHẢI PHONGTôi đã có dịp gặp những trang thơ chân chất của Nguyễn Quang Hà trong “Tiếng gà trên đỉnh chốt”(1). Lần này gặp văn Nguyễn Quang Hà trong “Mùa xương rồng nở hoa” (2), cảm tưởng lưu lại trong tôi là văn anh gây được ấn tượng mạnh hơn thơ.

  • NGUYỄN ĐÔNG NHẬT19 lời chứng của những ONS(1) cuối cùng, lần đầu tiên được lên tiếng qua công trình nghiên cứu hoàn hảo của bà Liêm Khê LUGUERN(2) là những nhân chứng cuối cùng trong số khoảng 27.000 người từ Đông Dương bị lùa đến nước Pháp từ tháng 10/1939 đến tháng 6/1940 để phục vụ cho guồng máy chiến tranh của thực dân Pháp trong Thế chiến thứ II.

  • LÝ HẠNHAi trong đời chẳng đã một lần làm thơ. Dù làm thơ để giải trí hay sẻ chia thì những trang thơ ấy cũng là tiếng hát của trái tim, là nơi dừng chân của tâm hồn.

  • LTS: Có một chuyện ít người biết là các nhà văn Tô Hoài, Xuân Diệu, Huy Cận không nhớ ngày sinh của mình. Xuân Diệu, con nhà Nho, thì biết mình sinh giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn, năm Thìn, nhưng không biết dương lịch ngày nào. Nhà văn Tô Hoài cũng vậy, nhưng nhớ Bà Cụ cho biết sinh ông đêm rằm Trung Thu. Sau này, sang Nga, bạn người Nga hỏi, mới tra ra ngày Tây là 27-9-1920. Do đó trên các tư liệu, thường thấy ghi ngày sinh: 07-9-1920, và nhà văn cũng không buồn đính chính. Nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà văn Tô Hoài, Sông Hương nhận được bài viết của nhà văn Đặng Tiến cùng thông tin về ngày sinh Tô Hoài nói trên. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

  • HOÀNG DŨNGKhông phải ngẫu nhiên khi ta nói vũ trụ, thế giới thì vũ, giới là không gian, mà trụ, thế là thời gian. Ngay trong những khái niệm tưởng chỉ là không gian, cũng đã có thời gian quấn quýt ở đấy.

  • LTS: Trong các ngày 7-9/9/2010 sắp đến, Ủy ban Văn hóa Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa Tổng Giám mục Giáo phận Huế sẽ tổ chức Hội thảo về thân thế và sự nghiệp của Léopold Cadière (1869-1955), Nhà nghiên cứu về Huế và Việt Nam học, chủ bút của tập san Bulletin des Amis du Vieux Hué (B.A.V.H), một trong số các tờ báo hay nhất ở Đông Dương thuở trước. Hội thảo sẽ có một số nội dung liên quan đến văn hóa Huế như Văn hóa Huế, Mỹ thuật Huế, Cổ vật Huế dưới con mắt của L. Cadière... Nhân dịp này, Tạp chí Sông Hương đăng bài viết của nhà nghiên cứu Hồ Vĩnh, chuyển tải vài nét về hoạt động văn hóa của Léopold Cadière. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.S.H

  • NGUYỄN THỊ HÒA Không cần phải bàn cãi, Từ điển tiếng Huế của Tiến sĩ, Bác sĩ Bùi Minh Đức là một tác phẩm Từ điển. Một quyển từ điển về phương ngữ địa phương Huế mà dày dặn, công phu, với 2050 trang, thể hiện công sức nghiên cứu miệt mài của một vị bác sĩ - nghiệp dư với nghề ngôn ngữ, nhưng đầy nhiệt tình và khá chuyên nghiệp trong nghiên cứu.

  • Sinh ngày 6-2-41 tại Huế. Hy sinh ngày 11-10-68 tại vùng biên giới tỉnh Tây Ninh, nguyên quán làng Bát Tràng tỉnh Bắc Ninh. Học sinh cũ Trường Quốc Học, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Ban Việt văn. Tên thật và bút hiệu công khai, chính thức: Trần Quang Long. Các bút hiệu khác: Thảo Nguyên, Chánh Sử, Trần Hoàng Phong.

  • TRẦN HỮU LỤCỞ tuổi 20, hành trình sáng tác của Nhóm Việt gắn liền với những biến cố lịch sử ở miền Nam (1965-1975). Những cây bút trẻ của Nhóm Việt đã bày tỏ một thái độ dấn thân ngày càng sâu sắc, vừa trên bình diện ý thức công dân, vừa trên bình diện ý thức nghệ sĩ.

  • PHONG LÊ(Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Tuân 10-7-1910 – 28-7-1987)