Nhạc sĩ Trần Hoàn người nghệ sĩ trong lòng nhân dân

16:50 04/02/2009
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã gần một năm, Anh từ biệt trần gian về cõi vĩnh hằng, tâm tưởng tôi vẫn vấn vương với Anh, vẫn luôn mường tượng thấy Anh với nụ cười tươi tắn, rất hồn nhiên, lại nhiều lúc thấy Anh đang mơ màng chìm trong một thế giới riêng tư xa thẳm nào đó.

Khi Anh cười tươi thắm, ấy là lúc Anh đang tiếp xúc với mọi người với tấm lòng nồng hậu. Khi Anh đắm chìm trong suy tưởng, ấy là lúc Anh đang sáng tác, đang khó nhọc hình dung ra những ý tưởng mới cho một tác phẩm nào đó, hoặc đang suy nghĩ để xử lý một công việc gì đó mà cương vị của Anh đòi hỏi Anh phải giải quyết. Đó là hai trạng thái, hai khuôn mặt thân quen của Anh - nhạc sĩ Trần Hoàn thân thiết - còn đọng mãi trong tôi.

Những năm chống Mỹ, cô em gái tôi cùng sống với Anh trên chiến khu Quảng Trị, có một thời gian dài ở căn cứ Pa-nang. Chồng nó là đạo diễn ở đoàn văn công Quân khu Trị Thiên, còn nó là chiến sĩ, giữ thư viện của Quân khu. Hai vợ chồng lấy nhau mấy năm, đến cuối 1974 mới sinh đứa con đầu lòng ở ngay tại căn cứ Pa-nang. Bấy giờ, đó là đứa trẻ đầu tiên sinh ra tại  vùng căn cứ này nên được các cô, các chú, các bác rất quý, rất thương. Bác Trần Hoàn lúc đó ở Tuyên huấn khu uỷ Trị Thiên, và bác Dương Bá Nuôi, Phó tư lệnh quân khu, nhận làm bố nuôi, và đặt biệt danh cho cháu là "Pa nang" để kỷ niệm nơi cháu sinh ra đời. Đến giờ, cô gái Tôn Nữ Anh Sơn, tức cháu Pa nang ngày ấy, vẫn giữ mãi tấm ảnh chụp các bố nuôi đang bồng ẵm cháu. Ngày giải phóng về Huế, cháu chỉ mới 4 tháng tuổi, các bố nuôi vẫn ần cần chăm sóc, biếu cháu nhiều quà như bánh, sữa, áo quần v.v...

Mới giải phóng Huế, Anh Trần Hoàn về làm Trưởng ty Thông tin Văn hoá, lúc đó phụ trách đến mười mấy ngành khác nhau, như văn công, văn nghệ, thư viện, thông tin, phát thanh, truyền hình.v.v. Cuối năm 1975, một cơn lụt lớn tràn ngập vùng Thừa Thiên, thành phố Huế chìm trong cơn lũ, Đài phát thanh Huế, nơi tôi làm việc ở ngay bên chân cầu Trường Tiền, kề ngay bên trụ sở của Ty Thông tin Văn hoá. Anh Trần Hoàn chỉ đạo chúng tôi phải bám lại ở đài 24/24 giờ, liên tục phát các bản tin về tình hình cơn lụt, các chỉ thị, mệnh lệnh của Uỷ Ban quân quản lúc đó do đồng chí Lê Tự Đồng làm Chủ tịch. Hai ba ngày liền, chúng tôi bám lại ở trụ sở, ngay cả việc đi từ chỗ làm việc ra đường cũng rất khó, vì nước lụt làm ngập cả sân Đài. Nơi làm việc của bộ phận hành chính ở dãy nhà sau, thấp ngang mặt sân, nên bị ngập, không có chỗ để nấu nướng. Anh Trần Hoàn lệnh cho bộ phận văn phòng bên Ty tìm mọi cách chuyển cho chúng tôi mấy thùng lương khô. Bộ phận phát thanh lúc đó do anh Hồ Như Ý, phó Ty phụ trách, nhưng đợt đó, anh Ý đang đi công tác chưa về kịp. Vậy là anh Trần Hoàn trực tiếp giao cho tôi phụ trách biên tập các chương trình, nhiều khi không thể trình sang anh để duyệt, anh bảo đọc những nội dung chính qua điện thoại để anh duyệt.

Ba ngày sau cơn lụt, nước đã rút dần, tôi được anh cho về nhà ở số 4 Nguyễn Huệ để nghỉ bù. Nhưng vừa về lúc buổi trưa, ăn vội vài bát cơm, lăn ra ngủ, thì vợ tôi đã đánh thức dậy. Tôi choàng dậy, thì thấy Anh Trần Hoàn đã ngồi trong phòng khách, nói ngay : "Mình vừa đi dự cuộc họp ở Uỷ ban quân quản. Có lệnh là phải viết ngay lời kêu gọi của Uỷ ban quân quản về việc tập trung khắc phục hậu quả thiên tai. Phải viết ngay lúc này để kịp đưa anh Lê Tự Đồng duyệt và phát đi ngay. Cậu xuống Đài, mình truyền đạt kỹ thêm, rồi viết". Tôi ra xe, nhưng ngạc nhiên vì không thấy lái xe đâu cả. Đó là chiếc xe jeep của Mỹ. Anh Trần Hoàn cười cười : "Đồ xe này lái dễ ợt. Nó như nồi đồng cối đá ấy mà. Cậu lên xe đi!". Tôi bất ngờ, vì chưa lúc nào nghĩ rằng mình lại được "thủ trưởng" đích thân lái xe đưa đến cơ quan! Sau này, trong công việc, tôi còn nhiều dịp được đi công tác với anh, và những lúc khó khăn, anh thường rất tế nhị động viên tôi. Có lần, từ Tuyên Hoá, Quảng Trạch đi công tác về qua Bố Trạch, ghé vào huyện uỷ. Một số anh chị em ở đó nói vui: "Anh viết bài hát cho Tuyên Hoá hay như thế mà không thấy viết gì cho Quảng Trạch, Bố Trạch cả". Hồi đó, chả là anh vừa viết xong bài "Về Đồng Lê" được phát nhiều lần trên đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) và đài Phát thanh Bình Trị Thiên. “Ô! Quảng Trạch thì mình đã có bài về Cảnh Dương. Còn Bố Trạch thì... phong trào của các cậu còn... ì ạch, khó viết lắm!". Anh nói vui như thế, nhưng mọi người cũng cười xoà, vì họ biết anh nói tránh đi, chớ khi nói riêng, có lần anh đã nói: "Tớ cũng muốn viết về huyện các cậu, nhưng nghĩ chưa ra. Cái vần ạch ạch, khó viết quá !"...

Một hôm, anh đến Đài phát thanh rất sớm, ngay đầu giờ làm việc. Chúng tôi đón anh, định mời anh lên phòng Giám đốc. Nhưng Anh nói: "Thôi khỏi, cho mình vào phòng thu nhạc". Chúng tôi dẫn anh vào phòng ghi âm lớn. Anh đến ngay bên chiếc đàn pianô cũ kỹ, ngồi xuống, mở nắp đàn ra, dạo mấy nốt, rồi lắc đầu: "Tiếc quá, đàn hỏng rồi!". Sau đó, anh cho chúng tôi biết, anh vừa sáng tác xong bài "Một mùa xuân nho nhỏ”, bài hát phổ thơ của nhà thơ Thanh Hải. Anh muốn dàn dựng ở Huế để cho Đài địa phương được sử dụng ngay, nhưng không có phòng thu âm nào đạt tiêu chuẩn cả. Ít lâu sau, bài hát ấy của anh vang lên trên làn sóng của Đài TNVN, và không lâu sau, anh chuyển cho chúng tôi cuốn băng ghi âm bài hát của Anh do đài TNVN dàn dựng.

Đối với bạn bè, văn nghệ sĩ, Anh sống hết sức chân tình, quí trọng. Hôm lễ tang anh Thanh Hải, anh là trưởng ban tang lễ, vì lúc đó Anh đang là Trưởng ban Tuyên giáo, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bình Trị Thiên. Trước lúc hạ huyệt, đứng bên quan tài nhà thơ Thanh Hải, anh đọc lời điếu, với giọng trầm trầm. Đến phần cuối, anh không nhìn vào tờ giấy viết sẵn mà nhìn vào quan tài nhà thơ đang đặt dưới huyệt sâu. Anh cất tiếng nói nghẹn ngào: "Anh Thanh Hải ơi. Vẫn biết sống chết là lẽ thường tình. Con người có sống thì có chết. Nhưng sao anh ra đi sớm như vậy. Nhìn cảnh chị và các cháu thế kia... Sao anh nỡ vội ra đi!" Và không ngờ, chính Anh đã cất lên tiếng khóc thật thống thiết, khiến cho mọi người chung quanh đều không cầm được nước mắt. Tình cảm của Anh đối với nhà thơ Thanh Hải thật sậu nặng biết chừng nào!

Lần cuối cùng gặp Anh ở Huế là những ngày đầu năm 2001, khi Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức đại hội. Gặp chúng tôi ở Đài phát thanh truyền hình tỉnh, Anh nói ngay: "Mình có bài hát mới cho Huế đây. Mình biết bây giờ các cậu đã có nhiều trang bị hiện đại, nhờ các cậu dựng ngay cho mình bài hát này". Rồi Anh rút từ trong cặp ra một tờ giấy có ghi nhạc và lời bài hát "Huế - Festival". "Cậu Việt lấy cho mình mượn cây đàn ghi ta, mình hát thử cho các cậu nghe!". Anh chị em ở Đài đều coi Anh như người Anh cả thân thiết, không hề có chút khách khí gì. Nhạc sĩ Nguyễn Việt, trưởng phòng văn nghệ của Đài PTTH tỉnh đem đến cho Anh cây đàn, và Anh say sưa thể hiện ngay tác phẩm của mình với giọng hát rất khoẻ khoắn, sôi nổi. "Huế bây giờ là thời kỳ mới rồi, phải sôi nổi lên, rộn ràng lên. Cho nên mình viết bài này theo điệu disco". "A! Vậy xin mời Anh chiều ngày mai thứ Bảy, từ 17 giờ đến tham gia chương trình âm nhạc - tin tức phát trực tiếp, có phần giao lưu với các bạn trẻ. Hôm đó, Anh có thể trình bày trực tiếp bài hát này được không ạ?". Nguyễn Việt đề nghị. Anh trả lời ngay: "Sẵn sàng!"... và hôm sau, đúng hẹn, Anh đã đến tham gia chương trình.

Rất nhiều các bạn trẻ đến dự buổi giao lưu, hết sức hào hứng được trực tiếp hát với nhạc sĩ Trần Hoàn những bài hát của Ông, và nghe Ông trả lời về hoàn cảnh, cảm hứng khi sáng tác những bài hát đó. Nhiều bạn trẻ và khách qua đường đứng lâu ngoài bờ rào, trước đường Lê Lợi, hay bên chân cầu Trường Tiền, hướng nhìn về sân khấu là khoảng sân nổi trên tiền sảnh của Đài, chăm chú lắng nghe nhạc sĩ Trần Hoàn tâm tình và ca hát. Nhiều lúc, tiếng hát trầm ấm của Ông hoà vào với những giọng hát trẻ trung, sôi nổi của các bạn trẻ, là những ca sĩ xứ Huế, và cả nhiều sinh viên, học sinh...
            N.T.Đ

(nguồn: TCSH số 191 - 01 - 2005)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • MẶC HY    Hồi kýThế là tôi và Lê Lự, mấy đêm nay, lại được nằm chỏng khoèo trên mấy tấm ván nóc chuồng trâu nhà mẹ An tại Khe Giữa để đón một cái Tết thứ hai ở chiến khu Ba Lòng.

  • NGUYỄN VIỆT ĐỨC1.Về bản sắc văn hoá dân tộc.Mỗi dân tộc đều có một tiếng nói riêng, một cốt cách riêng được phản ánh thông qua những giá trị tinh thần và vật chất cụ thể, đó là bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc đó.

  • VĨNH PHÚCNghiên cứu, phê bình, giới thiệu Dân ca Nam Bộ trong giai đoạn này chúng tôi chỉ sưu tập được 15 bài, tuyển chọn và sử dụng 9 bài. Hầu như đều nổi trội lên 2 thể loại chủ yếu là Hò và Lý, kể cả những bài viết mang tính tổng quan về vùng dân ca này.

  • MẶC HY                Hồi ký "Lúa vàng! Lúa vàng trên cánh đồng làng, tang tình tang, tang tình tang... Đêm nay, gặt mà lúa về... ta đập mà ta xay, ta giã mà ta giần..."

  • MAI VYSự sáng tạo nghệ thuật của giới nghệ sĩ biểu diễn xuất phát từ cảm xúc trước tác phẩm, trước cuộc sống. Đó là đặc thù trong quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Mối quan hệ đó bao giờ cũng là mối quan hệ có tính chất cảm tính. Người nghệ sĩ chân chính nào cũng có khả năng cảm xúc rất nhạy bén trước đối tượng được thể hiện. Họ có khả năng lồng trí tưởng tượng vào trong quá trình sáng tạo cốt để thâm nhập sâu hơn vào bản chất của các sự vật.

  • NGUYỄN THỤY KHACó thể nói, khi có loài người là có âm nhạc. Thực ra những âm thanh trong thiên nhiên, vũ trụ có trước loài người. Nhưng loài người không chỉ nghe được nó như loài thú chỉ đạt tới cảm xúc, mà còn nhận thức nó, bắt chước nó để tạo ra những âm thanh của mình. Một cành cây hay một khúc xương, người làm ra cây sáo. Sợi dây cung trở thành dây đàn. Một tấm da thú căng ra là thành cái trống.

  • MAI VYÂm nhạc là một bộ môn nghệ thuật có nhiều loại hình phong phú và đa dạng, từ làn điệu dân ca mộc mạc, từ nét nhạc tấu đơn giản của cây đàn nghiệp dư, đến những bản a-ri-a hết sức phức tạp trong ô-pê-ra hay các hình thức âm nhạc giao hưởng khác nhau như liên khúc giao hưởng, Trường ca giao hưởng.

  • NGUYỄN THỤY KHAVới độ dày gần nửa mét, gồm 7 quyển sách chia làm 5 tập (có tập 2 và tập 5 gồm 2 quyển) và bìa sách trình bày đẹp, trang trọng, bộ sách “Hợp tuyển tài liệu Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX” là bộ sách âm nhạc đồ sộ và công phu nhất của ngành âm nhạc từ trước đến nay do Viện Âm nhạc Việt chủ biên và ấn hành vừa giới thiệu trước công luận gần đây.

  • NHẤT LÂMVâng.Ca khúc thời ấy thật hào hùng, sôi sục và đầy lãng mạn.Đó là đêm trước của tháng Tám năm 1945, những năm tháng của phong trào Việt Minh chuẩn bị cho ngày toàn dân vùng lên đánh đổ mọi thế lực thù địch để giải phóng dân tộc, đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do. Và cái mốc đó, theo tôi là từ ngày cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) năm 1941.

  • VIỆT ĐỨCVề với Trường Sơn, về với kỷ niệm của một thời khói lửa đạn bom là tiếng lòng, là tâm nguyện của nhiều hội viên Hội nhạc sỹ Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế kể từ sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam 30/4/1975. Và sau gần 30 năm, mùa xuân 2004, tâm nguyện ấy đã trở thành hiện thực khi kỷ niệm của một thời chiến tranh cứ ào ạt ùa về theo bước chân các nhạc sỹ trở lại tuyến biên giới miền Tây A Lưới.

  • PHAN THUẬN THẢOGagaku - Nhã nhạc - là loại hình âm nhạc cung đình của Nhật Bản, đối lập với Zokugaku, tức âm nhạc dân gian. Thuật ngữ Gagaku được tiếp thu từ Trung Hoa cùng với sự tiếp nhận một bộ phận các nhạc khí và bài bản từ hệ thống âm nhạc cung đình phong phú và đặc sắc của đất nước Trung Hoa rộng lớn và giàu truyền thống văn hoá.

  • LÊ PHÙNGThế là không còn phút giây mong ngóng, đợi trông - “Ngày em đến đôi mắt long lanh, thơ ngây mơ màng, ngày em đến đôi má hây hây hương thơm nồng nàn...” Bởi chàng nhạc sĩ lãng tử ấy đã ra đi, về với cõi vĩnh hằng. Còn đâu nữa bóng hình của gã si tình say mê, đợi chờ ngày em đến.

  • Nhà thơ - Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là một tên tuổi nổi tiếng như một nghệ sĩ đa tài Cầm Kỳ Thi Họa trong làng văn học nghệ thuật Việt . Ông là Ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà Văn Việt Nam, người sáng lập và phụ trách tờ báo Thơ, nay là tạp chí Thơ; ông cũng là một trong những ngưới sáng lập ra Ngày Thơ VN.

  • DƯƠNG BÍCH HÀĐến hẹn lại lên - Festival Huế 2006 đã cận kề. Năm nay, ngoài các loại hình dân ca, dân nhạc, dân vũ; các lễ hội, kịch, tuồng... đặc sắc của Huế, ban tổ chức (BTC) Festival nhấn mạnh một số trọng tâm như: Giao lưu nhã nhạc Việt Nam - Nhật Bản - Hàn Quốc; không gian văn hoá cồng chiêng (nhân cồng chiêng được công nhận là di sản văn hoá); có dàn giao hưởng dân tộc; chương trình thử nghiệm đưa âm nhạc điện tử, nhạc Jar của Pháp kết hợp với âm nhạc truyền thống Huế, âm nhạc Phật giáo; và chương trình âm sắc Việt...

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGCó ngày bỗng dưng thấy lòng thật quạnh hiu. Một nỗi cô đơn nào đó khôn tả xâm chiếm tâm hồn. Tôi đi hoài, lang thang vô định trên những con đường phố Huế xanh xao ánh đèn vàng, bất chợt lòng vang lên giai điệu quen thuộc một ca khúc nào đó của Trịnh Công Sơn. Tự hát cho riêng lòng mình và thấy nỗi buồn vơi đi, lòng cơ hồ bằng an và niềm vui trở lại.

  • NGUYỄN VIỆT ĐỨCQua tiến trình phát triển của lịch sử âm nhạc thế giới, riêng trong lĩnh vực ca khúc chúng ta đều biết có những ca khúc là của mọi thời đại, có những ca khúc chỉ của một thời, có những ca khúc chỉ của một dòng nhạc phục vụ cho nhu cầu của một lớp công chúng riêng nào đó, có những ca khúc lại phù hợp với khá nhiều lứa tuổi và đông đảo công chúng, có những ca khúc chỉ của một vài ngày, có những ca khúc mãi mãi nằm trên giấy...

  • NGUYỄN THỤY KHAĐọc Dòng nước trong (Ca khúc Bích Anh), Nxb Đà Nẵng, 2006

  • HOÀNG DIỆP LẠCCó sự gắn kết nào đó gần như là định mệnh giữa hai con người Trịnh Công Sơn và Nguyễn Xuân Hoàng. Sơn và Hoàng có cùng quê quán ở huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Và cả hai đã sinh ra ở miền cao nguyên, nơi bụi đỏ và sương mù hoà trộn, tạo thành những hạt huyết dụ trôi chảy theo các mạch máu trong thân thể của những con người xứ bụi mịt mùng.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG(Kỷ niệm 6 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn 1/4/2001 - 1/4/2007)Với dòng - sông - Trịnh, đi về biển rộng là một cuộc hành trình trở về với nguồn cội. Dòng sông tìm về biển cả để thấy được sự mệnh mông, hùng vĩ và tuôn trào của biển cả. Tuy nhiên đấy cũng là sự bắt nguồn cho những vết xước trầm tích trong lòng người ở lại - như cọng rễ hoang nay mới đủ sức đâm lên một mầm nhói!

  • NGUYỄN THỤY KHAVào khoảng năm 1962 ở miền Bắc, bỗng rộ lên một bài tình ca ngắn mang tên “Giã từ”. Bài hát được truyền miệng rộng rãi và nếu có ai đó ký âm thành văn bản thì đều ghi là bài hát Liên Xô (CCCP).