Nhà thơ Thu Nguyệt: “Ta ngồi đo đếm mênh mông”

17:07 02/10/2008
Sinh ngày 02 tháng 8 năm 1962 tại Cao Lãnh, Đồng ThápTốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du (khoá III).Hiện công tác ở Báo Tuổi Trẻ, thành phố Hồ Chí MinhHội viên Hội Nhà văn Việt NamBài “copy” sau đây là cuộc trò chuyện giữa nhà thơ Thu Nguyệt và nhà báo Diễm Chi, đăng trên báo Phụ nữ chủ nhật thành phố Hồ Chí Minh.http://thunguyetvn.com

“Giơ tay là hái được tình/ Một mình mình nắm, một mình mình buông”. “Ta ru đá lẫn ru mình/ Buồn ngây ngất giữa chông chênh đất trời”. “Ước gì ta được buồn như đá/ Nước giỡn mà ta khuyết thật thà”. “Hoa vô tư nở bên đời/ Ta vô tình lại học đòi xót xa”. “Ta ra thành phố xa đồng/ Đốt nhang nhìn khói bay vòng mà thương/ Nhớ cồn cào nước kinh mương/ Vắng mình rải lá xem đường nước trôi/ Đã xa thì lỡ xa rồi/ Buồn! Đem thau nước ra soi bóng mình”. “Trút tình vào chốn hư không/ Ta như sợi chỉ đèo bòng treo chuông/ Loay hoay giữa một con đường/ Chuông không ai gióng mà buồn cứ ngân”. “Ta ngồi đo đếm mênh mông/ Không đèn, trăng… để cùng không bóng mình”… Thơ Thu Nguyệt là vậy - mở ra một “cõi lạ”(*) tràn đầy cảm xúc và chiêm nghiệm. Trong thời buổi mà không ít người làm thơ dễ dãi và thơ xuất hiện quá nhiều đến mức khiến cho người ta ngán đọc thơ thì thơ Thu Nguyệt vẫn cuốn hút và gây ấn tượng đặc biệt với người đọc. Không có gì lạ khi thơ Thu Nguyệt nhận được sự đánh giá cao của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà phê bình văn học. Cũng không có gì ngạc nhiên khi thơ chị đã nhiều lần được trao giải thưởng: giải C (không có giải A) cuộc thi sáng tác văn học năm 1998–2000 của báo Văn Nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam, giải B (không có giải A) giải thưởng văn học năm 2000 của Hội Nhà văn Việt Nam, giải thưởng Văn học Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh năm 2000–2002… Không chỉ là tác giả của 5 tập thơ (Điều thật, Ngộ, Cõi lạ, Hoa cỏ bên đường, Theo mùa), Thu Nguyệt còn sáng tác nhiều truyện ngắn, tản văn, bút ký…  

 * PV: Nhiều cây bút cho rằng văn chương đối với họ chỉ là một cuộc chơi. Với chị thì sao? Thơ có tầm quan trọng như thế nào trong đời sống tinh thần của chị? Chị có coi văn chương là sự nghiệp?
Nhà thơ Thu Nguyệt: Văn chương là tất cả đời sống tinh thần của tôi. Tôi đã viết: “Tôi không bao giờ xem văn chương là trò tiêu khiển, giải trí...” (Một chút với nghề). “Nếu không có văn chương thì chắc cuộc đời này không còn gì hấp dẫn tôi nán lại” (Phương tiện). Văn chương là người bạn thân thiết nhất, đồng hành cùng tôi trong cuộc đời này. Sự nghiệp văn chương của tôi, dù “mỏng dính”, rất quèn, nhưng không vì thế mà tôi xem đó chỉ là đồ chơi.

* Người ta bắt gặp trong thơ chị những giọt nước mắt, những nỗi buồn tưởng như không  gì có thể an ủi hay hóa giải, nhưng rồi chị lại tự dỗ dành với nụ cười vô ưu, với sự tự trào tỉnh táo để  nỗi buồn bỗng trở thành nhẹ tênh, trong trẻo… Đó là nhờ sức mạnh của thơ hay sức mạnh nội tại của chị, hay cả hai?
Theo tôi, nỗi buồn không thể hóa giải được bằng bất cứ sức mạnh nào. Hóa giải được tận gốc những nỗi buồn “bao la” ấy chỉ có thể bằng sự thấu hiểu thấu đáo lẽ đời, qui luật…

* Người ta cũng nhận xét là thơ chị giàu tính triết lý. Chị có chủ trương dùng thơ để triết lý hay đó chỉ là sự chiêm nghiệm tất yếu của người làm thơ về niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, đau khổ, sự có–không, được–mất… của kiếp người?
Nếu chủ trương dùng thơ để triết lý thì e rằng thơ không còn là thơ nữa. Trong thơ có triết lý nhưng trong triết lý chưa chắc đã có thơ, vậy thì thơ “oách” hơn triết lý rồi, dại gì ta chủ trương đem thơ đi mần triết lý. Thơ hay, trong đó ắt sẽ có nhiều thứ và triết lý là một thành phần.

* Trong thơ cũng như truyện ngắn, bút ký, tản văn của chị đều ít nhiều mang màu sắc đạo pháp Phật giáo. Hình như không riêng gì trong tác phẩm mà ngay chính trong cuộc sống chị cũng bị ảnh hưởng và chi phối bởi tư tưởng Thiền?

Đó là hướng đến của tôi.

 * Trong thơ chị ít khi xưng “em” như số đông các nhà thơ nữ khác. Thu Nguyệt trong thơ thường xưng “ta” và cái “ta” ấy luôn độc thoại… Tại sao vậy? Sự độc thoại triền miên trong thơ khiến chị vơi bớt cô đơn hay càng cảm thấy cô đơn nhiều hơn?
Tôi không có nhu cầu vơi bớt cô đơn nên cũng không lúc nào cảm thấy cô đơn nhiều hơn hay ít hơn. Khi ta còn độc thoại là chưa đi đến tận cùng sự cô đơn đâu. Cô đơn đến tận cùng sẽ là sự hòa nhập với tất cả. Tôi mong ước đều đó.

* Nhiều người trong giới chuyên môn đã đánh giá rất cao và hết lời khen ngợi thơ chị. Riêng chị, chị có hài lòng với thơ mình?
Dại gì giả vờ khiêm tốn mà trả lời là hài lòng nhỉ? Người hời hợt sẽ bảo mình chảnh, người sâu sắc sẽ bảo mình thấp, người thâm thúy sẽ biết mình giả bộ (cười…). Thật ra, nếu có sự hài lòng thực sự thì thế giới này đã khác rồi. Người ta chỉ hài lòng từng lúc thôi. Tôi nhớ nhà văn Sơn trong nhiều câu chuyện thường hay nheo nheo mắt hồn nhiên nói “Ê, cái này tui hay à nghen!” Tôi có lúc bất chợt trong hoàn cảnh bồng bột nào đó bỗng nhớ vài câu thơ mình và cũng mắc nói như ổng. Nhưng hú hồn là tôi kịp nín! Và bây giờ, khi công tâm tự “quýnh giá” thơ mình, tôi dự tính không làm thơ nữa. (Nhưng thơ là thứ không thể dự tính!).

* Trong thơ và trong văn xuôi của chị chỉ có một Thu Nguyệt hay có nhiều Thu Nguyệt khác nhau? Nếu
Thu Nguyệt thơ khác Thu Nguyệt văn xuôi thì Thu Nguyệt nào là thật nhất?
Thu Nguyệt nào cũng thật quá trời là thật hết! Tôi mà biết Thu Nguyệt nào là thật nhất thì tôi đã thành Phật rồi.

 * Nhìn lại những năm tháng đã qua, chị có hối tiếc gì không? Hiện nay chị mong ước điều gì?
Không có điều gì trên đời không mang lại cho ta bổ ích nếu ta biết vận dụng nó. Mọi sự trong vũ trụ đều có căn nguyên và qui luật của nó nên “hối tiếc” là hai từ vô bổ nhất… Tôi chỉ có một hướng đến. Sở dĩ tôi còn quanh quẩn “Theo mùa”(*) chưa thoát ra được là vì “nợ trần chưa dứt”. Điều mong ước nhất hiện nay của tôi là đừng mong ước gì ngoài những điều tôi có thể làm được.

* Cách đây vài năm, chồng chị – họa sĩ Việt Hải đã đột ngột qua đời vì tai nạn. Chị còn lại cô đơn, hụt hẫng với các con bé dại. Từ một phụ nữ vốn quen với sự bảo bọc của chồng, chỉ biết làm thơ và nội trợ, chị đã phải gượng dậy từ nỗi đau mà bươn chải nuôi các con… Chị đã trải qua thời kỳ đau xót và khó khăn ấy như thế nào, điều gì giúp chị sức mạnh để có thể đứng vững trong hoàn cảnh nghiệt ngã và thích nghi với cuộc sống hiện nay?
Là một con bé nhà quê đến “nằm mơ vẫn mớ lời dân miệt đồng”, là một người phụ nữ làm thơ không thuộc trường phái “bản lĩnh”, tôi không thể hình dung được mình sẽ sống ra sao giữa đất Sài Gòn với một đàn con 3 đứa nhóc nheo. Biến cố năm 2003 đối với tôi như một vụ big-bang! Trong vòng 6 tháng tôi phải chịu 2 cái đại tang: tang chồng và tang cha. Nếu không có tinh thần Phật giáo, tôi chắc mình sẽ không thể trụ nổi! Cũng may, ngoài sự thấu hiểu của bản thân, tôi còn được sự thông cảm, giúp đỡ của mọi người.

* Chẳng những chị đã vượt qua hoàn cảnh khó khăn để nuôi con, giữ vững gia đình mà còn… cầm chắc tay cây bút, chị có thấy “Ê, cái này tui hay à nghen!” không?
Thực ra, người ta không ai sử dụng hết khả năng của mình. Khi hoàn cảnh bắt buộc, con người sẽ phải thích ứng. Tôi thấy mình cũng bình thường thôi, có biết bao người phụ nữ khác hoàn cảnh còn thê thảm hơn tôi, và họ cũng đã vượt qua còn ngoạn mục hơn tôi. Với một người cầm bút thì hoàn cảnh khó khăn không dễ rứt cây bút ra khỏi tay ta hơn là hoàn cảnh thuận lợi. Có trang viết để sẻ chia, tôi thấy mình hạnh phúc và “có phước” hơn nhiều người phụ nữ (không biết viết văn) khác. Thiệt tình thì không phải tôi cầm chắc cây bút mà là nương tựa vào cây bút.

* Hoàn cảnh khó khăn, neo đơn có ảnh hưởng đến thời gian sáng tác của chị?
Sống trong thời đại ngày nay, người rảnh rỗi cũng chẳng thể bảo mình không bận. Vấn đề là cách ta xử lý thời gian thế nào cho hiệu quả nhất. Mà cái này là cái… nhà thơ lúng túng nhất! Có lần nhà thơ Nguyễn Duy đã phải thốt lên: “Việc thiên, việc địa, việc nhà/ Một mình anh vãi cả ba linh hồn”. Vợ bệnh có một ngày mà ổng còn “vãi linh hồn” như thế, huống là tôi… có lẽ không còn biết linh hồn nằm ở đâu mà “vãi” nữa!!! (cười). Thật ra mọi sự đều nằm ở tâm ta. Một tâm thế bình an, không loạn động sẽ mang lại cho ta sự cân bằng, mọi vấn đề sẽ lần lượt được giải quyết một cách nhẹ nhàng không rối rắm. Một điều quan trọng không kém là ta đừng quá tham lam, chớ đặt ra cho mình quá nhiều áp lực. Tôi rất thích câu thơ của Trần Nhân Tông và tôi thường lấy đó làm phương châm sống:“Ở đời vạn sự cứ tùy duyên/ Đói đến thì ăn mệt ngủ liền”. Cứ thế. Và tôi đã từ từ làm được những việc cần làm.

* Chị có dự định gì cho những ngày sắp tới – trong đời sống gia đình và trong sự nghiệp văn chương?
Tôi có tới 3 cô con gái, cô bé nhất chưa đầy 10 tuổi. Quãng đường hồi hộp và quá xa, xa đến mức tôi chẳng biết phải dự định gì! Trước mắt là phải kiếm mồi nuôi con như bao gà mẹ khác. Mong ước của tôi là sau này khi các con khôn lớn, tự lo được cho bản thân, tôi sẽ lui về ở ẩn trong một vùng núi rừng xa xôi nào đó. Hành trang mà tôi mang theo - nếu có -  cũng sẽ chỉ là cây viết. Năm nay tôi dự định sẽ in một tập văn xuôi. Tôi vẫn viết thường ngày lai rai trên trang web cá nhân “thunguyetvn.com”. Đó là công việc tôi yêu thích nhất. Tôi mong muốn trang viết của mình sẽ mang lại cho người đọc đôi điều bổ ích, có thể chia sẻ và gợi mở cho mọi người những điều mà tôi trăn trở nghĩ suy. Với mong ước như thế, những trang viết là tâm huyết, là tấm lòng của tôi đối với cuộc đời này.
DIỄM CHI thực hiện
(nguồn: TCSH số 224 - 10 - 2007)

---------------------------- 
(*) “Cõi lạ”, “Theo mùa”: tên các tập thơ của Thu Nguyệt.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Rất nhiều hoa, rất nhiều nụ cười đã hiện diện một cách cởi mở và đầm ấm trong buổi chiều ngày 18.7.2008 tại Trung tâm Du lịch và Dịch vụ Festival - Huế, nơi diễn ra Lễ kỷ niệm 25 năm Tạp chí Sông Hương phát hành số báo đầu tiên (1983-2008).

  • HỒ THẾ HÀĐến nay, Tạp chí Sông Hương đã tròn một phần tư thế kỷ (1983-2008) kể từ số đầu tiên được ra mắt bạn đọc. Hai mươi lăm năm đủ để vui buồn ôn lại những chặng thác ghềnh và phẳng lặng của một dòng sông từ nguồn ra biển.

  • ĐẶNG VĂN VIỆTKỷ niệm 63 năm Cách mạng Tháng TámSau ngày đảo chính (9-3-1945), Nhật lật đổ Pháp. Phong trào Việt Minh như một luồng gió mạnh, thổi từ miền Bắc vào miền Trung, miền Nam, thức tỉnh lòng yêu nước, thương nòi của người dân đất Việt, thúc giục mọi người sẵn sàng để chớp thời cơ, giành lại chính quyền về tay nhân dân.

  • TRẦN THÙY MAIThuở trước, mỗi đêm cuối năm, anh Hải Bằng bao giờ cũng đến thăm trụ sở Hội Văn nghệ, rồi túc tắc ngự trên chiếc xe babeta màu đỏ, ghé thăm nhà bạn bè thân hữu đó đây trước khi quay về để kịp đón giao thừa.

  • NGUYỄN QUANG HÀCuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cả nước xôn xao về vụ án Trần Dụ Châu.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTrong một cuộc vui gần đây, nhân nhắc đến việc bình chọn các nhân vật, sự kiện nổi bật trong năm trên báo chí, có ý kiến phong cho nhà văn Hồng Nhu là người đạt nhiều cái “nhất” nhất trong làng văn ở Huế.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG - Chúng ta lại thắng rồi. Thỉnh thoảng lão lại reo lên như thế khi bất chợt gặp một người mà lão coi là bạn. Lão nói câu ấy cả khi lão đang thoi thóp trên giường bệnh, miệng méo xệch lão nói một cách khó khăn nhưng vừa nói lão vừa cười khiến cho người ta yên tâm là lão bắt đầu sống trở lại, cái chết còn lâu mới quật được lão.

  • PHẠM QUANG TRUNGAnh Cao Xuân Hạo kính mến!Trước tiên, xin thú nhận, tôi là người mê say tên tuổi anh đã từ lâu. Tuổi trẻ và sau đó là những năm tháng trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu, phê bình văn chương đã đưa tôi đến những trang dịch văn xuôi Nga – Xô viết đầy sức cuốn hút của anh, như Chuyện núi đồi và thảo nguyên, Chiến tranh và hòa bình, Truyện ngắn Gorki, Con đường đau khổ, Tội ác và trừng phạt…

  • VINH HUỲNHLTS: Có bạn đọc gửi thư đến Toà soạn chúng tôi đề nghị nếu chọn topten sự kiện nổi bật trong làng báo chí năm 2001 thì không nên bỏ qua “hội chứng” đánh vào các trường đại học, trong đó có Đại học Nghệ thuật Huế và trường Viết văn Nguyễn Du.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCH(Tham luận đọc trong hội thảo)Cho đến đầu thế kỷ 21 này, chúng ta vẫn đang đứng trước nguy cơ tụt hậu về mặt kinh tế đã là điều đáng sợ nhưng cái đáng sợ hơn là nguy cơ vong bản về mặt văn hoá. Xu thế toàn cầu hoá đang xâm nhiễm và xâm thực vào đời sống chúng ta một cách ngọt ngào mà chua cay, dịu êm mà đẫm máu.

  • TRẦN HOÀNLTS: Từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 12 năm 2001 đã diễn ra cuộc tập huấn - hội thảo báo chí văn nghệ địa phương tại thủ đô Hà Nội. Nhạc sĩ Trần Hòan, Phó Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Phó Chủ tịch UBTQ.LH các Hội V.H.N.T Việt Nam đã đọc báo cáo đề dẫn hội nghị. Sông Hương xin trích đăng một phần trong báo cáo đó (đầu đề do chúng tôi đặt).

  • NGUYỄN KHOA ĐIỀM(TBT: 1983 - 1986)Bây giờ nhìn lại những số Sông Hương đầu tiên (số 1 ra mắt tháng 6-1983) không khỏi cảm thấy tờ tạp chí như một… cô gái quê, giản dị, khiêm nhường, có vẻ… tồi tội. Giấy đen. Bìa mỏng. Bát chữ typo chỗ đậm chỗ nhạt. Sông Hương làm sang cho in ảnh tác giả, khốn nỗi, ảnh loè nhoè, không rõ mặt. Giá bao cấp 7 đồng/số, vẫn bị chê đắt. Được cái lượng bản in ngay số đầu là 4.000 bản. Trông khí sắc cuốn tạp chí vẫn chưa xa cái thời tranh đấu chống Mỹ, in sách báo trong gác trọ sinh viên.

  • TÔ NHUẬN VỸ(TBT: 1986 - 1989)Có năm kỷ vật của Hải Bằng tặng tôi và gia đình, từ ngày anh còn sống cho đến nay, sau 10 năm anh mất, tôi vẫn nhìn ngắm và chăm sóc hàng ngày. Đó là bức tranh hồ sen, là hai câu thơ anh viết trên giấy đặc biệt, là tất cả các tập thơ anh in từ sau 1975, là đôi chim hạc anh tạo bằng rễ cây và con chó Jò bé xíu.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ(TBT: 1991)Tôi có may mắn được làm Phó Tổng biên tập nhiều năm cho hai “đời” Tổng biên tập nổi tiếng là Nguyễn Khoa Điềm và Tô Nhuận Vỹ, nhưng đến “phiên” mình được gánh vác trọng trách thì chỉ đảm đương được một thời gian ngắn. Đã đành do tài hèn sức mọn, nhưng cũng vì đó là giai đoạn khó khăn sau “Đổi Mới”, chúng ta đang phải tìm đường, nhiều quan niệm - nhất là về văn học nghệ thuật chưa dễ được nhất trí…

  • HỒNG NHU(TBT: 1992 - 1997)Thời gian như bóng câu qua cửa. Mới đó mà đã một phần tư thế kỷ, tờ tạp chí Sông Hương có mặt cùng bạn đọc trong và ngoài nước.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCH(TBT: 2000 - 2008)Vậy là đã tròn một phần tư thế kỷ. Ngày ấy, cũng vào mùa “Hạ trắng” nắng lên thắp đầy như nhạc Trịnh, tờ Tạp chí Sông Hương - tạp chí sáng tác lý luận phê bình nghiên cứu văn học nghệ thuật của xứ Huế được ra đời và đi qua cái ngưỡng “vạn sự khởi đầu nan” một cách kỳ diễm, đầy ấn tượng.

  • MAI VĂN HOANSáng 8 - 5 - 2008, ghé quán  26 Lê Lợi (trụ sở Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế) ngồi uống cà phê với hai nhà thơ Kiều Trung Phương và Ngàn Thương, tôi vô cùng sửng sốt khi Ngàn Thương cho biết người suốt đời đi tìm chân dung Hàn Mạc Tử là anh  Phạm Xuân Tuyển đã mất cách đây gần 7 tháng tại Phan Thiết.

  • I.Con người ấy từng mang tên Nguyễn Sinh Cung, và tên chữ Nguyễn Tất Thành, trước khi đến với tên Nguyễn Ái Quốc, đã trải một tuổi thơ vất vả vào những năm kết thúc thế kỉ XIX, để bước vào thế kỉ XX với một niềm khao khát lớn: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ: tự do, bình đẳng, bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thủa ấy tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn sau những chữ ấy...” (1)

  • Từ rất nhiều năm nay tôi rất muốn bày tỏ đôi điều về những bi kịch cuộc đời mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) từng chịu đựng và trăn trở, từng nén vào lòng để sống và sáng tác.

  • Chiều 17.11 vừa rồi, ở địa chỉ 26 Lê Lợi đã diễn ra cuộc tọa đàm giữa đoàn nhà văn Trung Quốc với Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Huế. Nhà thơ Phạm Tiến Duật, Phó Ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ đã tháp tùng đoàn nhà văn bạn từ Hà Nội tới Huế.