Nhà thơ Thu Nguyệt: “Ta ngồi đo đếm mênh mông”

17:07 02/10/2008
Sinh ngày 02 tháng 8 năm 1962 tại Cao Lãnh, Đồng ThápTốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du (khoá III).Hiện công tác ở Báo Tuổi Trẻ, thành phố Hồ Chí MinhHội viên Hội Nhà văn Việt NamBài “copy” sau đây là cuộc trò chuyện giữa nhà thơ Thu Nguyệt và nhà báo Diễm Chi, đăng trên báo Phụ nữ chủ nhật thành phố Hồ Chí Minh.http://thunguyetvn.com

“Giơ tay là hái được tình/ Một mình mình nắm, một mình mình buông”. “Ta ru đá lẫn ru mình/ Buồn ngây ngất giữa chông chênh đất trời”. “Ước gì ta được buồn như đá/ Nước giỡn mà ta khuyết thật thà”. “Hoa vô tư nở bên đời/ Ta vô tình lại học đòi xót xa”. “Ta ra thành phố xa đồng/ Đốt nhang nhìn khói bay vòng mà thương/ Nhớ cồn cào nước kinh mương/ Vắng mình rải lá xem đường nước trôi/ Đã xa thì lỡ xa rồi/ Buồn! Đem thau nước ra soi bóng mình”. “Trút tình vào chốn hư không/ Ta như sợi chỉ đèo bòng treo chuông/ Loay hoay giữa một con đường/ Chuông không ai gióng mà buồn cứ ngân”. “Ta ngồi đo đếm mênh mông/ Không đèn, trăng… để cùng không bóng mình”… Thơ Thu Nguyệt là vậy - mở ra một “cõi lạ”(*) tràn đầy cảm xúc và chiêm nghiệm. Trong thời buổi mà không ít người làm thơ dễ dãi và thơ xuất hiện quá nhiều đến mức khiến cho người ta ngán đọc thơ thì thơ Thu Nguyệt vẫn cuốn hút và gây ấn tượng đặc biệt với người đọc. Không có gì lạ khi thơ Thu Nguyệt nhận được sự đánh giá cao của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà phê bình văn học. Cũng không có gì ngạc nhiên khi thơ chị đã nhiều lần được trao giải thưởng: giải C (không có giải A) cuộc thi sáng tác văn học năm 1998–2000 của báo Văn Nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam, giải B (không có giải A) giải thưởng văn học năm 2000 của Hội Nhà văn Việt Nam, giải thưởng Văn học Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh năm 2000–2002… Không chỉ là tác giả của 5 tập thơ (Điều thật, Ngộ, Cõi lạ, Hoa cỏ bên đường, Theo mùa), Thu Nguyệt còn sáng tác nhiều truyện ngắn, tản văn, bút ký…  

 * PV: Nhiều cây bút cho rằng văn chương đối với họ chỉ là một cuộc chơi. Với chị thì sao? Thơ có tầm quan trọng như thế nào trong đời sống tinh thần của chị? Chị có coi văn chương là sự nghiệp?
Nhà thơ Thu Nguyệt: Văn chương là tất cả đời sống tinh thần của tôi. Tôi đã viết: “Tôi không bao giờ xem văn chương là trò tiêu khiển, giải trí...” (Một chút với nghề). “Nếu không có văn chương thì chắc cuộc đời này không còn gì hấp dẫn tôi nán lại” (Phương tiện). Văn chương là người bạn thân thiết nhất, đồng hành cùng tôi trong cuộc đời này. Sự nghiệp văn chương của tôi, dù “mỏng dính”, rất quèn, nhưng không vì thế mà tôi xem đó chỉ là đồ chơi.

* Người ta bắt gặp trong thơ chị những giọt nước mắt, những nỗi buồn tưởng như không  gì có thể an ủi hay hóa giải, nhưng rồi chị lại tự dỗ dành với nụ cười vô ưu, với sự tự trào tỉnh táo để  nỗi buồn bỗng trở thành nhẹ tênh, trong trẻo… Đó là nhờ sức mạnh của thơ hay sức mạnh nội tại của chị, hay cả hai?
Theo tôi, nỗi buồn không thể hóa giải được bằng bất cứ sức mạnh nào. Hóa giải được tận gốc những nỗi buồn “bao la” ấy chỉ có thể bằng sự thấu hiểu thấu đáo lẽ đời, qui luật…

* Người ta cũng nhận xét là thơ chị giàu tính triết lý. Chị có chủ trương dùng thơ để triết lý hay đó chỉ là sự chiêm nghiệm tất yếu của người làm thơ về niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, đau khổ, sự có–không, được–mất… của kiếp người?
Nếu chủ trương dùng thơ để triết lý thì e rằng thơ không còn là thơ nữa. Trong thơ có triết lý nhưng trong triết lý chưa chắc đã có thơ, vậy thì thơ “oách” hơn triết lý rồi, dại gì ta chủ trương đem thơ đi mần triết lý. Thơ hay, trong đó ắt sẽ có nhiều thứ và triết lý là một thành phần.

* Trong thơ cũng như truyện ngắn, bút ký, tản văn của chị đều ít nhiều mang màu sắc đạo pháp Phật giáo. Hình như không riêng gì trong tác phẩm mà ngay chính trong cuộc sống chị cũng bị ảnh hưởng và chi phối bởi tư tưởng Thiền?

Đó là hướng đến của tôi.

 * Trong thơ chị ít khi xưng “em” như số đông các nhà thơ nữ khác. Thu Nguyệt trong thơ thường xưng “ta” và cái “ta” ấy luôn độc thoại… Tại sao vậy? Sự độc thoại triền miên trong thơ khiến chị vơi bớt cô đơn hay càng cảm thấy cô đơn nhiều hơn?
Tôi không có nhu cầu vơi bớt cô đơn nên cũng không lúc nào cảm thấy cô đơn nhiều hơn hay ít hơn. Khi ta còn độc thoại là chưa đi đến tận cùng sự cô đơn đâu. Cô đơn đến tận cùng sẽ là sự hòa nhập với tất cả. Tôi mong ước đều đó.

* Nhiều người trong giới chuyên môn đã đánh giá rất cao và hết lời khen ngợi thơ chị. Riêng chị, chị có hài lòng với thơ mình?
Dại gì giả vờ khiêm tốn mà trả lời là hài lòng nhỉ? Người hời hợt sẽ bảo mình chảnh, người sâu sắc sẽ bảo mình thấp, người thâm thúy sẽ biết mình giả bộ (cười…). Thật ra, nếu có sự hài lòng thực sự thì thế giới này đã khác rồi. Người ta chỉ hài lòng từng lúc thôi. Tôi nhớ nhà văn Sơn trong nhiều câu chuyện thường hay nheo nheo mắt hồn nhiên nói “Ê, cái này tui hay à nghen!” Tôi có lúc bất chợt trong hoàn cảnh bồng bột nào đó bỗng nhớ vài câu thơ mình và cũng mắc nói như ổng. Nhưng hú hồn là tôi kịp nín! Và bây giờ, khi công tâm tự “quýnh giá” thơ mình, tôi dự tính không làm thơ nữa. (Nhưng thơ là thứ không thể dự tính!).

* Trong thơ và trong văn xuôi của chị chỉ có một Thu Nguyệt hay có nhiều Thu Nguyệt khác nhau? Nếu
Thu Nguyệt thơ khác Thu Nguyệt văn xuôi thì Thu Nguyệt nào là thật nhất?
Thu Nguyệt nào cũng thật quá trời là thật hết! Tôi mà biết Thu Nguyệt nào là thật nhất thì tôi đã thành Phật rồi.

 * Nhìn lại những năm tháng đã qua, chị có hối tiếc gì không? Hiện nay chị mong ước điều gì?
Không có điều gì trên đời không mang lại cho ta bổ ích nếu ta biết vận dụng nó. Mọi sự trong vũ trụ đều có căn nguyên và qui luật của nó nên “hối tiếc” là hai từ vô bổ nhất… Tôi chỉ có một hướng đến. Sở dĩ tôi còn quanh quẩn “Theo mùa”(*) chưa thoát ra được là vì “nợ trần chưa dứt”. Điều mong ước nhất hiện nay của tôi là đừng mong ước gì ngoài những điều tôi có thể làm được.

* Cách đây vài năm, chồng chị – họa sĩ Việt Hải đã đột ngột qua đời vì tai nạn. Chị còn lại cô đơn, hụt hẫng với các con bé dại. Từ một phụ nữ vốn quen với sự bảo bọc của chồng, chỉ biết làm thơ và nội trợ, chị đã phải gượng dậy từ nỗi đau mà bươn chải nuôi các con… Chị đã trải qua thời kỳ đau xót và khó khăn ấy như thế nào, điều gì giúp chị sức mạnh để có thể đứng vững trong hoàn cảnh nghiệt ngã và thích nghi với cuộc sống hiện nay?
Là một con bé nhà quê đến “nằm mơ vẫn mớ lời dân miệt đồng”, là một người phụ nữ làm thơ không thuộc trường phái “bản lĩnh”, tôi không thể hình dung được mình sẽ sống ra sao giữa đất Sài Gòn với một đàn con 3 đứa nhóc nheo. Biến cố năm 2003 đối với tôi như một vụ big-bang! Trong vòng 6 tháng tôi phải chịu 2 cái đại tang: tang chồng và tang cha. Nếu không có tinh thần Phật giáo, tôi chắc mình sẽ không thể trụ nổi! Cũng may, ngoài sự thấu hiểu của bản thân, tôi còn được sự thông cảm, giúp đỡ của mọi người.

* Chẳng những chị đã vượt qua hoàn cảnh khó khăn để nuôi con, giữ vững gia đình mà còn… cầm chắc tay cây bút, chị có thấy “Ê, cái này tui hay à nghen!” không?
Thực ra, người ta không ai sử dụng hết khả năng của mình. Khi hoàn cảnh bắt buộc, con người sẽ phải thích ứng. Tôi thấy mình cũng bình thường thôi, có biết bao người phụ nữ khác hoàn cảnh còn thê thảm hơn tôi, và họ cũng đã vượt qua còn ngoạn mục hơn tôi. Với một người cầm bút thì hoàn cảnh khó khăn không dễ rứt cây bút ra khỏi tay ta hơn là hoàn cảnh thuận lợi. Có trang viết để sẻ chia, tôi thấy mình hạnh phúc và “có phước” hơn nhiều người phụ nữ (không biết viết văn) khác. Thiệt tình thì không phải tôi cầm chắc cây bút mà là nương tựa vào cây bút.

* Hoàn cảnh khó khăn, neo đơn có ảnh hưởng đến thời gian sáng tác của chị?
Sống trong thời đại ngày nay, người rảnh rỗi cũng chẳng thể bảo mình không bận. Vấn đề là cách ta xử lý thời gian thế nào cho hiệu quả nhất. Mà cái này là cái… nhà thơ lúng túng nhất! Có lần nhà thơ Nguyễn Duy đã phải thốt lên: “Việc thiên, việc địa, việc nhà/ Một mình anh vãi cả ba linh hồn”. Vợ bệnh có một ngày mà ổng còn “vãi linh hồn” như thế, huống là tôi… có lẽ không còn biết linh hồn nằm ở đâu mà “vãi” nữa!!! (cười). Thật ra mọi sự đều nằm ở tâm ta. Một tâm thế bình an, không loạn động sẽ mang lại cho ta sự cân bằng, mọi vấn đề sẽ lần lượt được giải quyết một cách nhẹ nhàng không rối rắm. Một điều quan trọng không kém là ta đừng quá tham lam, chớ đặt ra cho mình quá nhiều áp lực. Tôi rất thích câu thơ của Trần Nhân Tông và tôi thường lấy đó làm phương châm sống:“Ở đời vạn sự cứ tùy duyên/ Đói đến thì ăn mệt ngủ liền”. Cứ thế. Và tôi đã từ từ làm được những việc cần làm.

* Chị có dự định gì cho những ngày sắp tới – trong đời sống gia đình và trong sự nghiệp văn chương?
Tôi có tới 3 cô con gái, cô bé nhất chưa đầy 10 tuổi. Quãng đường hồi hộp và quá xa, xa đến mức tôi chẳng biết phải dự định gì! Trước mắt là phải kiếm mồi nuôi con như bao gà mẹ khác. Mong ước của tôi là sau này khi các con khôn lớn, tự lo được cho bản thân, tôi sẽ lui về ở ẩn trong một vùng núi rừng xa xôi nào đó. Hành trang mà tôi mang theo - nếu có -  cũng sẽ chỉ là cây viết. Năm nay tôi dự định sẽ in một tập văn xuôi. Tôi vẫn viết thường ngày lai rai trên trang web cá nhân “thunguyetvn.com”. Đó là công việc tôi yêu thích nhất. Tôi mong muốn trang viết của mình sẽ mang lại cho người đọc đôi điều bổ ích, có thể chia sẻ và gợi mở cho mọi người những điều mà tôi trăn trở nghĩ suy. Với mong ước như thế, những trang viết là tâm huyết, là tấm lòng của tôi đối với cuộc đời này.
DIỄM CHI thực hiện
(nguồn: TCSH số 224 - 10 - 2007)

---------------------------- 
(*) “Cõi lạ”, “Theo mùa”: tên các tập thơ của Thu Nguyệt.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN QUANG HÀTạp chí sáu tỉnh Bắc miền Trung vẫn duy trì đều đặn hàng năm gặp gỡ giao lưu để cùng tìm cách nâng cao chất lượng tờ tạp chí văn học của địa phương mình. Năm nay, năm 2003 Tạp chí Nhật Lệ đến phiên đăng cai cuộc họp mặt. Khách mời năm nay, ngoài các cơ quan trong tỉnh Quảng Bình, còn có đại biểu của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, của tạp chí Diễn đàn, cơ quan ngôn luận của Hội về dự.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOLTS: Nhà thơ Thu Bồn có nhiều duyên nợ với Huế, với Sông Hương. 20 năm trước, trong dịp TCSH ra đời, anh có mặt ở Huế và viết bài thơ “Tạm biệt” - một trong ít ỏi những bài thơ hay nhất về Huế, 20 năm sau, cũng vào dịp TCSH kỷ niệm tròn 20 tuổi thì anh lại ra đi, ra đi trong lời vĩnh biệt!Thương tiếc nhà thơ tài hoa Thu Bồn, Sông Hương xin trân trọng giới thiệu một vài kỷ niệm vaì tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp dành cho anh.                                                                TCSH

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNVề chính trị, ông được chữ nhất: Đại biểu quốc hội trẻ nhất (22 tuổi, khóa I năm 1946); Tổng thư ký Hội Nhà văn lâu nhất (1958 – 1989).Về văn nghệ, ông được chữ đa: đa tài, sáng tác nhiều lĩnh vực, và để lại dấu ấn: thơ (Người chiến sĩ, Tia nắng, Sóng reo), văn (Vỡ bờ), kịch (Con nai đen, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc), nhạc (Diệt phát xít, Người Hà Nội), tiểu luận (Mấy vấn đề văn học, Công việc của người viết tiểu thuyết).

  • ...Có 2 từ người Việt Nam hay dùng cho những người làm thuê các công việc cho người khác là: "Lê dương" và "Pắc chung hy". Chả biết từ bao giờ, bạn bè gọi tôi là "Kha lê dương" bên cạnh các biệt hiệu khác như "Kha điên", "Kha voi", "Kha xe bò miên". Là gì thì cũng vẫn là Kha. Thiếu em ư? Đúng ra là tôi không thể sống thiếu tình yêu như một câu thơ tôi đã viết: "Điều khốn nạn là không thể nào khác được - không thể không tình yêu, không tin ở con người"...

  • ... Với giới văn nghệ sĩ thừa Thiên Huế, nhà văn Nguyễn Đình Thi là người anh lớn, rất thân thiết và gần gũi qua nhiều năm tháng. Anh là tấm gương sáng trên nhiều lĩnh vực sáng tác, quản lý, hoạt động phong trào... Đã có nhiều tác động tích cực, ảnh hưởng tốt đẹp cho một số cây bút ở Thừa Thiên Huế; đồng thời đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong đời sống văn học Thừa Thiên Huế.Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Đình Thi là một tổn thất lớn đối với nền văn học nghệ thuật nước nhà, để lại cho chúng ta niềm tiếc thương vô hạn.... Sự nghiệp sáng tạo văn học nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Đình Thi vẫn sống mãi với chúng ta!                                 (Trích điếu văn của nhà thơ Võ Quê)

  • ĐÀO DUY HIỆPGiáo sư, nhà giáo ưu tú Đỗ Đức Hiểu đã không còn nữa.Đã vĩnh biệt chúng ta một nhà sư phạm hiền từ, một nhà khoa học khiêm tốn và có nhiều phát hiện, một con người đầy lòng nhân ái, tin yêu cuộc sống và suốt đời đã sống vì cái đẹp của văn chương, nghệ thuật. Mười bảy giờ bốn mươi nhăm phút ngày 27 tháng 2 năm 2003 đã là thời khắc đó – cái thời khắc đã chia cách hai thế giới từ nay âm dương cách trở giữa giáo sư Đỗ Đức Hiểu với chúng ta. Ông đã để lại sau mình một cuộc đời dài nhiều ý nghĩa.

  • NGUYỄN HOÀNGTrong cuộc đời 83 năm của mình, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (BS.NKV) không chỉ một lần tình nguyện đem cuộc đời mình làm... vật thí nghiệm để có được một kết luận khoa học. Lần đầu, nửa thế kỷ trước, tại Pháp, sau 7 lần lên bàn mổ, cắt mất hẳn lá phổi trái, 1/3 lá phổi bên phải và 8 xương sườn (do bị lao mà thời đó chưa có thuốc chữa đặc hiệu), thấy rõ y học phương Tây không cứu được mình, BS. NKV đã vận dụng phương pháp Yoga của Ấn Độ và khí công của Trung Quốc trên cơ sở phân tích sinh lý, tâm lý và giải phẫu cơ thể con người, tự cứu sống mình, hình thành nên phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện” ngày nay.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNVào dịp Tết Bính Thìn, Tết dân tộc cổ truyền đầu tiên sau giải phóng, Viện Đại học Huế nhận được một bưu thiếp chúc Tết đặc biệt của vị Thủ tướng kính mến thời đó - Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhà trường đã cho viết to bức thư của Thủ tướng viết sau cánh thiếp lên một tấm bảng lớn, trân trọng đặt tại Hội trường của Viện Đại học Huế.

  • TÔ NHUẬN VỸTôi có một cái va ly nhỏ dùng để đựng những vật kỷ niệm, những thư từ, những bức ảnh quý nhất của mình. Trong số kỷ vật quý giá đó, có bức thư của anh Tố Hữu gửi tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, tháng 3/1987, kèm theo là bài thơ Nhớ về anh được đánh máy trên giấy Pơ luya vàng nhạt, kiểu chữ ở một cái máy nào đó mà  mới nhìn biết ngay là từ một cái máy chẳng lấy gì làm tốt, để "Kỷ niệm lần thứ 80 ngày sinh mồng 7 tháng 4 của đồng chí Lê Duẩn”.

  • LÊ MỸ Ý ghi                (Trích)Khi tôi đến, hai ông đang ngồi chiếu rượu trong căn hộ chung cư sáu tầng cao ngất ngưởng. Căn phòng như được ghép bằng sách. Trên tường, ảnh Văn Cao đang nâng ly và bức sơn dầu "Tuổi Đá Buồn" Bửu Chỉ vẽ Trịnh Công Sơn dựa vào cây đàn ghita ngóng nhìn vô định. Ngẫu nhiên tôi trở thành người hầu rượu, nói đế cho cuộc đối thoại ngẫu nhiên của hai ông...

  • MAI VĂN HOANThầy giáo dạy văn                                      Tặng Mai Văn HoanHộ tập thể nằm trên gác xépCăn phòng thanh đạm, có gì đâu!Một chồng sách cũ, dăm chai nướcMột chiếc bàn con, một bếp dầu...

  • THANH THẢOThái Ngọc San khác với một số người bạn Huế mà tôi chơi: anh ít nói, ít nói đến lặng thinh, ít nói nhiều khi đến sốt cả ruột. Nhưng nhiều lúc, vui anh vui em, rượu vào lời ra, San cũng nói hăng ra phết. Những lúc ấy, cứ nghĩ như anh nói để giải toả, nói bù cho những lúc im lặng.

  • PHAN HỮU DẬTLTS: GS.TS Phan Hữu Dật là người làng Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, TT Huế, hiện nghỉ hưu tại Hà Nội. Giáo sư từng là Trưởng ban phụ trách Đại học Văn khoa Sài Gòn (1976), Hiệu trưởng Đại học Tổng hợp Hà Nội (1985-1988). Bài viết dưới đây do Giáo sư đọc trong Lễ kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhà thơ Vĩnh Mai (1918-2008), như một sự tri ân đối với người mà Giáo sư xem như là người thầy, người thủ trưởng, người đồng chí... với những tư liệu mới mẻ và góc nhìn thấu đáo. Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài viết này cùng bạn đọc.

  • NGÔ MINHTác phẩm văn học nghệ thuật là sáng tạo của mỗi tác giả hội viên; đồng thời là thước đo hiệu quả hoạt động của Hội trong một nhiệm kỳ. Nói cách khác, tất cả mọi hoạt động của Hội đều hướng về hội viên, hướng về việc làm sao để có những tác phẩm văn học nghệ thuật chất lượng ngày càng cao. Nếu không thì sinh ra Hội để làm gì?

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOVà tôi đã rời xa Huế vào những ngày mà chính tôi cũng không muốn một chút nào. Có lẽ, không ai trách được sự sắp xếp và an bài của cuộc sống. Dù rằng Huế đối với tôi là ân nghĩa, là những kỷ niệm khó phai thì rồi cũng phải tự tạ từ. Trong sâu thẳm đáy lòng, khi nhìn những đêm trăng phả xuống thành phố tôi đang sống, tôi lại quay lòng nhớ Huế, dẫu một chút thôi, hơi thở của tôi đã không được đắp bồi bởi Huế.

  • VÕ MẠNH LẬPTôi đọc một bài. Không! Chỉ là một đoạn nhưng vừa đủ ngẫm - mà thú vị. Đó là cô gái với cái tên quen mà lạ. Cô ta phân bày quê chôn nhau cắt rốn xa xa ngoài tê tề. Cha mẹ cô đèo bòng vô ở tại một thị xã miền Trung. Sau cùng cô lại ở Huế học hành, lớn lên, đôi lúc bạn bè xa đến cứ ngỡ cô là Huế ròng.

  • L.T.S: Nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San sinh năm 1947 tại Lệ Thuỷ, Quảng Bình nguyên Thư kí Toà soạn Tạp chí Sông Hương, chuyển công tác qua phụ trách văn phòng liên lạc báo Thanh Niên tại T.T. Huế đã từ trần vào lúc 0giờ 45 phút ngày 25.7.2005 sau một tai nạn giao thông oan nghiệt.Thương tiếc anh, Sông Hương mở thêm trang để bạn bè, đồng nghiệp cùng chia sẻ và thắp nén tâm hươngKhi chúng tôi được tin buồn về anh San thì số báo tháng 8 đã in xong; Tình thế “chữa cháy” này không sao tránh khỏi những bất cập, mong các tác giả cùng quý bạn đọc lượng thứ.

  • L.T.S: Đại hội VHNT Thừa Thiên Huế lần thứ X sẽ được tổ chức vào cuối tháng 8 năm nay. Để đại hội có tiếng nói dân chủ rộng rãi, TCSH xin “dành đất” cho các anh chị hội viên, các bạn đọc quan tâm tham gia ý kiến trao đổi về nghề nghiệp, về hoạt động của Hội, về tổ chức hội v.v...Ngoài các ý kiến đã đăng tải trên số này, chúng tôi sẽ tiếp tục in thêm các ý kiến khác trong số tới

  • ĐÔNG HÀTôi không sinh ra ở Huế, nhưng với tuổi đời chưa quá ba mươi mà đã hơn hai mươi năm sống ở đất Kinh thành, đó cũng một sự gắn bó không thành tên.

  • THU NGUYỆT                (Trích tham luận tại Đại hội VII  Hội Nhà văn Việt Nam)