Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

16:52 01/04/2009
Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ra và lớn lên bên bờ sông Kiến Giang thơ mộng. Nhưng tuổi thơ của chị chứa đầy buồn đau và nước mắt: Mẹ không có cửa nhà/  Em đứa trẻ vắng cha/ Như mầm cây trên đá/ Biết khi nào nở hoa? Nỗi tuyệt vọng cứ ám ảnh suốt cả tuổi thơ của chị. Trong một bài thơ đầu tay chị viết: Tuổi thơ tôi như ráng chiều đỏ lựng/ Hắt máu xuống dòng sông đen.

Chị là một trong những nạn nhân của chủ nghĩa lý lịch ấu trĩ một thời. Tốt nghiệp cấp III (trung học phổ thông) chờ mãi vẫn không có giấy báo đại học, chị đành lủi thủi trở về quê giúp mẹ buôn bán tảo tần: Thác ghềnh, nước cả, sông sâu/ Chống chèo mình mẹ đương đầu bão giông... Nhờ nhà thơ Hải Bằng phát hiện và được nhà thơ Xuân Hoàng đưa về làm việc ở cơ quan Hội Văn nghệ Quảng Bình, cuộc đời của Lâm Thị Mỹ Dạ sang trang từ đó. Bằng năng khiếu trời cho và sự nỗ lực không ngừng của bản thân chị đã có bước đột phá khá ngoạn mục. Năm 1973, chùm thơ dự thi trên báo Văn nghệ (trong đó có bài Khoảng trời hố bom) của chị đoạt giải nhất. Sau khi tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du, chị càng viết càng lên tay. Thơ chị được nhiều bạn trẻ chép vào sổ và đọc thuộc lòng. Các tập thơ đặc sắc của chị lần lượt ra đời: Trái tim sinh nở (1974), Bài thơ không năm tháng (1983), Hái tuổi em đầy tay (1984), Mẹ và con (1984), Đề tặng một giấc mơ (1998), Hồn đầy hoa cúc dại (2007), Chỉ riêng mình em thấy (2008). Chị có nhiều tứ thơ lạ, nhiều phát hiện hết sức độc đáo. Chẳng hạn như những câu thơ sau đây: Ôi trái tim/ sao em lại mang dáng lưỡi cày/ Để suốt đời không bao giờ yên ổn... Hay: Nhìn lá/ Cứ ngỡ là lá ngọt... Bạn bè văn nghệ cả nước đều yêu mến chị. Chị đã từng được bầu vào Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt (khóa III), Ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt (khóa V). Chị xứng đáng nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học (năm 2007). Ngoài thơ, chị còn viết truyện cho thiếu nhi, như các tập Danh ca của đất (1984), Nai con và dòng suối (1987), Phần thưởng muôn đời (1987). Gần đây chị còn sáng tác cả ca khúc.

Đã mười năm nay, kể từ khi nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường - chồng chị bị cơn bạo bệnh, nằm liệt giường, chị phải ngày đêm chăm sóc: Bàn tay nâng em thành bảo mẫu/ Nước mắt lặn vào trong cho anh thấy nụ cười... Sức khỏe của chị ngày một giảm sút. Có lúc chị đã định kéo cờ trắng đầu hàng trước thơ. Nhưng như chị từng nói: “Người ta có thể làm thơ khi vẫn còn một tấm lòng, một trái tim rung động trước cuộc sống”. Thế thì chẳng có trở lực nào có thể ngăn cản được cảm hứng sáng tạo thi ca của chị.
         MAI VĂN HOAN giới thiệu

Ừ thôi tưởng tượng

Tưởng tượng một người
Hồn xanh như cỏ
Tâm rộng như trời
Cho tôi bé nhỏ
Thả đời rong chơi

Tưởng tượng một người
Lặng im như tượng
Khổ đau vui sướng
Giấu tận đáy lòng
Thông minh, tinh tế
Lặn vào bên trong

Tưởng tượng một người
Tấm lòng cao cả
Khi tôi vấp ngã
Người ấy đỡ dìu
Ngực người - tôi tựa
Muôn ngàn tin yêu

Hoang mạc khô cằn
Người như ốc đảo
Cho bao khô khát
Tan vào dịu êm

Tưởng tượng một người
Tốt như là đất
Nhận bao cay đắng
Vẫn cho ngọt lành
Quả người - tôi hái
Hồn đầy nụ xanh

Tưởng tượng một người
Bao dung - bản lĩnh
Cho tôi úp mặt
Khóc to một lần
Khóc như trẻ  nhỏ
Chẳng cần giấu quanh!

Tưởng tượng một người
Ừ thôi tưởng tượng…


Nhỏ bé tựa búp bê

Làm sao anh đủ sâu
Cho em soi hết bóng

Làm sao anh đủ rộng
Che mát cho đời em

Làm sao anh đủ cao
Để thấy em cho hết....

Cuộc đời bao nhọc mệt
Cuộc đời bao dịu êm
Người đàn bà bước lên
Người đàn bà lùi lại

Này tôi ơi, có phải
Làm một người đàn bà
Người ta phải nhỏ bé
Nhỏ bé tựa búp bê
Mới dễ dàng hạnh phúc?
                                   1996

Không đề

Cuộc đời em vo tròn lại

Ném vào cuộc đời anh
Nó sẽ lăn sâu tận đáy cuộc đời anh
Sâu cho đến tận... cái chết

Trời ơi,
Làm sao có một cuộc đời
Để cho tôi ném đời mình vào đó
Mà không hề cân nhắc đắn đo
Rằng: cuộc đời ấy còn chưa đủ...

(241/03-09)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Tiểu thuyết "Vạn Xuân" (Dix mille Printemps) của nữ văn sĩ Pháp Yveline Féray viết về cuộc đời Nguyễn Trãi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dày trên 1200 trang, do Nguyễn Khắc Dương và một số cộng tác viên dịch, do Nhà xuất bản Văn học in năm 1997 đã được độc giả Việt Nam đón nhận nồng nhiệt.

  • PHAN VĂN CÁCTuy Lí Vương Nguyễn Miên Trinh (1820- 1897) là con thứ 11 vua Minh Mệnh triều Nguyễn, tự là Khôn Chương, lại có tự là Quý Trọng, hiệu là Tĩnh Phố (tên ngôi vườn ông ở) lại có hiệu là Vi Dã. Tuy Lí Vương là tước phong cuối cùng của ông (trước đó từng có tước Tuy Quốc công năm 19 tuổi).

  • HOÀNG CẦM(Lời Bạt cho tập thơ ĐÓA TẦM XUÂN của Trịnh Thanh Sơn - Nhà Xuất bản Văn học 1999)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTác phẩm đầu tay của tôi - tập ký sự “Vì sự sống con đường” (NXB Thanh Niên, Hà Nội, 1968) viết về những đồng đội của tôi trong cuộc chiến đấu anh hùng bảo vệ tuyến đường 12A lên đèo Mụ Dạ, một đoạn đường trọng yếu trong hệ thống đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1965-1966, được xuất bản năm 1968, nhưng bài viết đầu tiên của tôi được in trên báo chí khi tôi vừa tròn 20 tuổi và đang học tại Hà Nội.

  • Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn. Anh sinh ngày 4 tháng 11 năm 1930, quê ở xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhà thơ mất ngày 15 tháng 12 năm 1980, tại thành phố Huế.

  • LÊ VĂN DƯƠNG1. Quý II năm 2005, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh phát hành, nói đúng ra là tái bản lần thứ nhất cuốn Tản mạn nhớ và quên của Nguyên Ngọc. Cuốn sách dày 560 trang, tập hợp 15 bài viết của tác giả ở những thời điểm khác nhau nhưng đa phần là vào những năm 90 của thế kỷ XX và một vài năm mở đầu thế kỷ XXI.

  • PHAN CHÍNSau khi làm tròn vai một nhà chính trị, không giống như nhiều người khác, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm rời Thủ đô Hà Nội về Huế sinh sống.

  • NGUYỄN THỊ KIM THANH(Nhân đọc Tập thơ Ngày đầu tiên của Trần Hữu Lục - NXB Hội Nhà Văn, 01-2010)

  • HOÀNG NHƯ MAI - NGUYỄN VĂN HẤN Cùng với những tập quán cổ truyền ngày Tết dân tộc, từ cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, nhân dân ta đã có thêm một tập quán quý báu nữa: đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ.

  • NGÔ MINHTôi đọc và để ý đến thơ Đông Hà khi chị còn là sinh viên khoa văn Trường Đại học Sư phạm Huế. Thế hệ này có rất nhiều nữ sinh làm thơ gây được sự chú ý của bạn đọc ở Huế và miền Trung như Lê Thị Mỹ Ý, Nguyễn Thanh Thảo, Huỳnh Diễm Diễm.v.v... Trong đó có ấn tượng đối với tôi hơn cả là thơ Đông Hà.

  • NGUYỄN ANH TUẤNKhông gian trữ tình không là một địa danh cụ thể. Mặc dù có một “thôn Vĩ” luôn hiện hữu hết sức thơ mộng trên toàn đồ trực diện thẩm mỹ của bài thơ, với những màu sắc, hình ảnh, đường nét:…

  • KHÁNH PHƯƠNGNhân cách văn hóa của nhà văn có thể được biểu hiện bằng những hành động, thái độ trong đời sống, nhưng quan trọng hơn, nó chi phối nhân cách sáng tạo của nhà văn.

  • HỒNG DIỆUTrương Mỹ Dung đời Đường (Trung Quốc) có một bài thơ tình yêu không đề, được nhiều nhà thơ Việt Nam chú ý.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LANMột hôm chú Văn tôi (Hải Triều Nguyễn Khoa Văn) đọc cho cả nhà nghe một bài thơ mà không nói của ai.

  • NGUYỄN QUANG HÀTôi nhớ sau thời gian luyện tập miệt mài, chuẩn bị lên đường chi viện cho miền Nam, trong lúc đang nơm nớp đoán già đoán non, không biết mình sẽ vào Tây Nguyên hay đi Nam Bộ thì đại đội trưởng đi họp về báo tin vui rằng chúng tôi được tăng viện cho chiến trường Bác Đô.

  • LÊ HUỲNH LÂM(Đọc tập truyện ngắn “Thõng tay vào chợ” của Bạch Lê Quang, NXB Thuận Hóa, 11/2009)

  • LÊ VŨ(Đọc tập thơ Nháp của Ngọc Tuyết - NXB Thanh niên 2009)

  • NGÔ MINHÐọc lại Chiếu Dời đô, tôi bỗng giật mình trước sự vĩ đại của một quyết sách. Từng câu từng chữ trong áng văn chương bất hủ này đều thể hiện thái độ vừa quyết đoán dứt khoát với một lý lẽ vững chắc, vừa là một lời kêu gọi sự đồng thuận của triều thần với lời lẽ rất khoan hòa, mềm mỏng.

  • LÊ HUỲNH LÂMThơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • KHÁNH PHƯƠNGNgay từ thuở cùng Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương viết tuyên ngôn Tượng trưng, Trần Dần đã mặc nhiên khảng khái công bố quan niệm, thơ bỏ qua những biểu hiện đơn nghĩa của sự vật, sự kiện, đời sống, mà muốn dung hợp tất cả biểu hiện hiện thực trong cõi tương hợp của cảm giác, biến nó thành không gian rộng lớn tiếp biến kỳ ảo của những biểu tượng tiềm thức. Như vậy cũng có nghĩa, nhà thơ không được quyền sao chép ngay cả những cảm xúc dễ dãi của bản thân.