NGUYỄN ĐÌNH THU
Xét trên những thi phẩm viết bằng chữ Hán của Đào Tấn, chúng tôi nhận thấy có đầy đủ biểu hiện của ba kiểu loại ứng xử nhà nho: hành đạo, ẩn dật và tài tử. Tuy nhiên xuyên suốt và đậm nét hơn cả vẫn là loại hình nhà nho hành đạo.
Đào Tấn - Ảnh: internet
Khảo sát cụ thể sáng tác thơ chữ Hán của Đào Tấn, nhiều biểu hiện cho thấy tác giả vẫn sống đúng với phận vị của một bề tôi. Tết đến xuân về, Đào Tấn không quên gửi lời chúc tốt đẹp đến vua: Ngự Bình Nam vọng chiêm hoa đán/ Nguyện hiệu sơn hô đệ kỷ thanh (Ngóng về phương Nam nơi có núi Ngự Bình mà đón tết/ Xin tung hô nhiều lần chúc thọ nhà vua - Nhâm Dần nguyên đán thí bút). Trong mắt cụ Đào, đôi khi ngay cả cỏ hoa cũng mang ơn vua: Kỳ viên hoa thảo thượng quân ân (Hoa cỏ vườn chùa còn thắm đượm ơn vua - Dạ quá Hòa Quang tự ngẫu chiếm). Có lúc, kẻ bề tôi cô đơn lại hổ thẹn vì cảm thấy có lỗi với đấng tiên đế (Tự Đức): Tiên đế ủy vi kim nhật dụng/ Cô thần hoàn tác cố sơn mưu (Đấng tiên đế ủy thác cho ta phải làm công việc ngày hôm nay/ Nhưng kẻ bề tôi cô đơn này lại toan tính việc trở về non cũ - Vô đề), tựa như Nguyễn Khuyến từng trách mình: “Ơn vua chửa chút báo đền/ Cúi trông hổ đất ngửa lên thẹn trời” (Di chúc văn - Trần Tán Bình dịch). Và trong những lúc buồn rầu, cô đơn ấy, khi nghe tiếng cuốc kêu, Đào Tấn không khỏi bâng khuâng nhớ về vị vua cũ đầy tâm đắc, tri ngộ (Văn đỗ vũ). Xuất phát từ lý tưởng “Quân minh thần lương” nên khi vua quan nhà Nguyễn ngày càng sa sút, từ trong đáy lòng mình, Đào Tấn vẫn mong muốn có một vị vua sáng suốt, biết dựa vào dân như người anh hùng Lê Lợi để phò tá. Điều đó giải thích tại sao hai lần đi thăm di tích Lam Sơn (Thanh Hóa), tác giả đều có thơ ca ngợi Lê Lợi (Du Lam Sơn bái đề Lê Thái Tổ miếu, Trùng du Lam Sơn tuyệt cú). Tuy tư tưởng trung quân ở Đào Tấn không được phát biểu trực tiếp như Nguyễn Đình Chiểu từng nói: Trai thời trung hiếu làm đầu (Truyện Lục Vân Tiên) nhưng tác giả lại gián tiếp mượn hình ảnh bề tôi nổi tiếng trung với vua, sẵn sàng chết vì vua như Nhạc Phi (thời Nam Tống) để ngầm thể hiện điều đó: Đại nghĩa quân thần trọng/ Cô trung thiên địa tri (Nặng lòng vì nghĩa lớn vua tôi/ Ôm nỗi cô trung trời đất biết - Vịnh Nhạc Vũ Mục). Như vậy, nuôi lý tưởng trung quân vẫn là khát vọng mong manh của Đào Tấn trong chốn quan trường. Tuy nhiên, tiếng nói ơn vua, giữ phận làm tôi trong thơ ông không có được sự hùng sảng, khẳng định mạnh mẽ mà chỉ phảng phất, có phần mờ nhạt. Điều đó phù hợp với tâm trạng tác giả, với sự suy tàn của chế độ phong kiến nước ta cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.
Bên cạnh đạo vua tôi, Đào Tấn nổi bật hơn là một nhà nho luôn giữ lối sống phải đạo đối với những người thân. Người học trò họ Đào ấy dù đi đâu cũng không quên ân nghĩa của thầy (Sơ thu vãng yết nghiệp sư Nhơn Ân Nguyễn tiên sinh sơn phần cảm thuật). Khi làm quan nơi đất khách quê người, trong nỗi nhớ quê thường trực, Đào Tấn luôn thể hiện ước nguyện báo hiếu và nỗi nhớ mẹ già day dứt khôn nguôi. Đó còn là tình cảm anh em sâu nặng chỉ biết lấy rượu mà giải bày: Chước bãi hân nhiên hướng quân đạo (Rượu rót rồi khuây khỏa nói cùng em - Hoan thành dữ gia cửu đệ Khiêm Khiêm tử thoại cựu). Bao nhiêu thành đạt trên bước đường hoạn lộ, chẳng lúc nào ông không nghĩ tới công ơn của người vợ từ thuở hàn vi ở quê nhà Bình Định (Đợ áo cho ta rượu, lúc nghèo/ Bỏ nhà khi loạn, bế con theo/ không màng cảnh sống ngày vinh lạc/ So với nàng, ta thẹn xiết bao - Mai tăng đề ư An Tịnh tổng chế đường chi khiếu ngạo đông hiên, đương Thành Thái Quý Tỵ, hòa tiết, Vũ Ngọc Liễn dịch). Tình cảm phu thê thắm thiết, thủy chung được Đào Tấn bộc lộ trong nhiều thi phẩm của mình (Bệnh tích Diêu Tiên ái khanh thi dược hữu hiệu hí thư thị chi, Thọ Diêu Tiên phu nhân ngũ thập sơ độ, Thính Diêu Tiên khanh độc tao…). Đặc biệt, tác giả còn có cả một bài thơ khóc vợ: Tự cổ sinh ly túc cảm thương/ Tranh giao tử biệt tiện tương vương (vong)/ Hoang pha hà xứ phần tam xích/ Lão nhãn tha hương lệ sổ hàng… (Từ xưa đến nay, sống mà chia lìa đã là chuyện đau thương/ Huống chi sự chia lìa bằng cái chết, thế là mất nhau rồi/ Ngôi mộ ba thước đặt nơi gò hoang nào/ Ở đất khách, đôi mắt già rơi bao hàng lệ… - Điệu vong). Bài thơ vừa nói lên được cái triết lí tình cảm sâu sắc của con người, vừa là bài khóc vợ thống thiết thương đau. Bài thơ xứng đáng là một trong những tác phẩm ai điếu hay nhất trong văn học trung đại Việt Nam, bên cạnh Nguyễn Kiều (1694-1771) khóc thương Đoàn Thị Điểm, Ngô Thì Sĩ (1726-1780) với Khuê ai lục, Ngô Thì Nhậm (1746-1803) với Hoài nội, Phạm Thái (1777- 1813) với Văn tế Trương Quỳnh Như, Nguyễn Khuyến (1835-1909) với Điếu nội, v.v... Trong quan hệ với con, Đào Tấn là người cha mẫu mực, luôn quan tâm, lo lắng, khuyên bảo con những điều hay lẽ phải. Từ việc con đi lấy chồng, con đi học, đi ứng thí, hay đặt tên cho cháu, ông đều trăn trở và ký thác vào thơ (Giá nữ tiểu khúc, Ký nhi, Sinh tôn chu nguyệt mệnh danh Sư Kiệm thị nhi Thạch…). Qua đây, chúng ta thấy, Đào Tấn luôn quan tâm đến mọi sắc thái của tình cảm gia đình. Đó là biểu hiện của một tâm hồn nhà nho giàu tình cảm và phần nào mang cảm quan hiện thực. Bên cạnh đó, trong 141 bài thơ chữ Hán, thơ viết về bạn, viết cho bạn của cụ Đào cũng chiếm một số lượng khá lớn. Một lần tiễn bạn, bạn nhậm chức mới, bạn mất, hay những lúc ngồi một mình nhớ bạn,… tất cả đều có thể tạo thành nguồn cảm xúc vô tận để tác giả chấp bút thành thơ (Khấp Lan Nông Phan thượng thư cố hữu, Ký hoài Hà Đình công, Tống Hồ An Tăng cải phiên Phú Yên...).
Nói đến khí tiết trong sạch của cụ Đào, giới nghiên cứu thường lấy thi phẩm Đề mai sơn thọ viên của ông để minh họa:
Nhàn hướng Mai sơn bốc thọ viên,
Thạch đầu cao cứ tiếu vô ngôn.
Mai sơn tha nhật tàng mai cốt,
Ưng hữu mai hoa tác mộng hồn.
(Lên đỉnh núi Mai tìm đất thọ,
Mỉm cười lặng ngắm đá chon von.
Núi Mai rồi gửi xương mai nhé,
Ước được hoa mai hóa mộng hồn)
(Xuân Diệu dịch)
Bài thơ chuyển tải được vẻ thanh thản, ung dung, tự tại của một con người đã “tri thiên mệnh”, xem thường danh lợi, không còn quá lo lắng trước sóng gió cuộc đời. Cái “tiếu vô ngôn” ấy mang tinh thần “vô úy”, chứa chất nội lực đến mức “vô ngã” mà hòa nhập đến tận cùng vào trời mây cây cỏ. Khi rảnh rỗi tìm đất thọ, thản nhiên với một ngày mình sẽ nằm lại nơi này, ước tâm hồn biến thành hoa mai, chỉ bấy nhiêu thôi đã đủ nói lên nhân cách lớn của một bậc đại nhân. Mười năm làm quan gắn bó sâu nặng trên đất Lam Hồng, có lúc nhà thơ còn hóm hỉnh hỏi sông Lam núi Hồng để gián tiếp thể hiện khí tiết như tác giả cũng đã từng trực tiếp khẳng định tâm hồn trong sạch của mình qua thơ: Thập niên lai vãng Hồng Lam lộ/ Thanh khoáng ngâm hoài tự thử trung (Mười năm qua lại con đường núi Hồng sông Lam/ Thơ văn ta cũng trong sạch như cảnh nước non nơi đây - Hành bộ ngẫu đắc)...
Không chỉ “thanh, thận, cần”, Đào Tấn còn mang phẩm chất cương trực, cứng cỏi của một nhà nho “tiết tháo”: An đắc Linh Phong phong hạ kiến tiết lâu (Dễ đặng một ngôi nhà dành cho người tiết tháo dựng dưới chân núi Linh Phong - Hoan thành dữ gia cửu đệ Khiêm Khiêm tử thoại cựu). Ông tồn tại như một cây tùng, cây bách giữa trời, dày dạn nắng mưa (Vãng đăng Hồng Sơn phỏng Thiên Tượng phế tự xuất sơn hữu tác) như Nguyễn Trãi, hay Nguyễn Công Trứ cũng đã từng khẳng định. Đào Tấn đã hết lời ca ngợi những người bạn như thế: Bắc Hải hào tình dư khẳng khái (Khấp Lan Nông Phan thượng thư cố hữu), Hà xứ giai nhân không cốc trung (Tịnh am tôn thất tặng lan thư thử báo chi), Khởi thị tầm thường nhất hác mưu/ Thung dung tiến thoái thị hà vưu (Tống Hoàng Miễn Trai hiệp quỹ công trí sự).
Theo đạo đức Nho giáo, người quân tử sau khi đã tu thân, có được đạo đức; biết thi, thư, lễ, nhạc thì phải có bổn phận hành động nhập thế bằng con đường công danh. Con người nhà nho hành đạo trong thơ Đào Tấn cũng tỏ chí, cũng nói lên khát vọng của mình nhưng hẳn không phải là khát vọng công danh kiểu như Đặng Trần Côn từng tỏ bày: “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa/ Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao” (Chinh phụ ngâm) mà là khát vọng giúp dân, cứu nước. Nền văn hóa nông nghiệp lúa nước chúng ta vốn trọng tình và coi trọng khái niệm quốc gia nên đã biến khái niệm trung quân phải đi liền với ái quốc; pháp trị phải đi liền với nhân trị. Điều đó phù hợp với cách ứng xử của đại đa số nhà nho Việt Nam và cũng đúng với Đào Tấn. Khi vua với đất nước không còn là một thì trách nhiệm của nhà nho là trách nhiệm đối với đất nước, với nhân dân chứ không chỉ còn dừng lại ở trách nhiệm của một bề tôi đối với vua chúa.
Đứng về phía đất nước, nhân dân nhưng lại làm quan cho một triều đình bị phụ thuộc nên chí trai của Đào Tấn không có cơ hội để khẳng định mạnh mẽ, quyết liệt như Nguyễn Công Trứ: “Chí những toan xẻ núi lấp sông/ Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ” (Chí anh hùng); hay mang phong vị hào hùng của một tráng sĩ như Đặng Dung: “Quốc thù vị báo đầu tiên bạch/ Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma” (Cảm hoài). Cái ngục văn tự treo trên đầu những nhà nho có cái tôi công dân như Đào Tấn, buộc họ phải tỏ chí theo kiểu truyền thống - thể hiện gián tiếp qua thiên nhiên, con người. Mượn nhân vật lịch sử là Trịnh Ninh, tác giả đã bày tỏ được khát vọng trừ gian diệt tà, mang lại thái bình cho đất nước: Nghịch tử cường thần đương nhật bối/ Khả tằng trảm đắc kỷ đầu lai (Đề Trịnh thị Ninh Quận Công thí kiếm thạch). Hỏi Trịnh Ninh đã chém được bao nhiêu cường thần nghịch tử, Đào Tấn cũng như hỏi chính bản thân mình. Câu hỏi tu từ không nhằm để biết mà để khẳng định lại dũng khí của một nhà nho đầy trách nhiệm đối với đất nước. Trước cảnh nước mất nhà tan, triều đình nhu nhược, nhà thơ canh cánh nung nấu khát vọng cứu dân giúp nước. Tiếng vọng của non sông đất nước, của phong trào Cần Vương Phan Đình Phùng nơi núi cao cứ ngân mãi trong lòng nhà thơ, khiến tác giả trăn trở nhiều đêm không ngủ được: Dạ trường bất đắc miên/ Minh nguyệt hà chước chước/ Tưởng văn tán hoán thanh/ Hư ứng không sơn nặc (Đêm dài không ngủ được/ Ánh trăng sao cứ lấp lánh?/ Đâu đây như có tiếng vang gọi/ Dội lại từ núi xa - Tý dạ ca nhị thủ). Và có những thi phẩm, Đào Tấn lại như nhắn nhủ, gửi gắm khát vọng đó ở những người bạn của mình: Thạch Thành sơn thủy hảo/ Tịnh nhập họa đồ trung (Tống Hồ An Tăng cải phiên Phú Yên). Câu thơ ngũ ngôn tự nhiên mà rất hàm súc, đầy ẩn ý. Nói đến cảnh đẹp non nước phải chăng là tác giả đang ca ngợi phong trào cách mạng chống Pháp nơi đây, và khuyên bạn nên hòa mình vào giúp đỡ mọi người. Trong thơ chữ Hán Đào Tấn, tinh thần yêu nước còn được bộc lộ khá rõ, ở việc tác giả có hàng loạt những bài thơ khóc thương, ca ngợi những người anh hùng xả thân vì nước như: Hoàng Kế Viêm, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Hoàng Quang Viễn...
Có thể nói, trong thời buổi đen tối nhất của lịch sử, Đào Tấn đã chọn cách ứng xử linh hoạt, vì chẳng bao lâu sau, phong trào Cần Vương của Đào Doãn Địch - Mai Xuân Thưởng ở Bình Định, của Phan Đình Phùng ở Nghệ Tĩnh bị dập tắt, sự nghiệp cứu nước của Phan Bội Châu cũng không thành. Ông đã tìm con đường đi phù hợp theo quan điểm nhận thức lịch sử của bản thân, chọn “lối đi bình dị” mà lên đến đỉnh non (Chỉ tùng bình dị quá sơn điên - Sơn hành ngẫu đắc). Phải chăng, đối với Đào Tấn, làm quan là kiểu “đại ẩn” tốt nhất để vừa mưu sinh, có thời gian chăm lo sự nghiệp soạn tuồng, vừa có điều kiện giúp đỡ các phong trào cách mạng, tìm ra đường lối cứu nước. Trên cơ sở những tư liệu lịch sử cũng như qua sáng tác thơ văn, chúng ta có thể khẳng định, mặc dù không có những hành động dứt khoát, mạnh mẽ trong việc chống lại triều đình phong kiến tay sai và thực dân pháp, không trực tiếp tham gia các phong trào cách mạng nhưng tâm thế của ông vẫn luôn hướng về cách mạng, về vận mệnh của đất nước.
Khác với tấm lòng yêu nước phải thổ lộ một cách kín đáo, tình cảm thương dân của Đào Tấn phần nào được bộc bạch trực tiếp hơn. Ở Đào công, tình cảm thương dân vừa xuất phát từ tinh thần của một nhà nho “dĩ dân vi bản”, vừa xuất phát từ truyền thống của một dân tộc giàu lòng nhân đạo và đoàn kết. Hơn nữa, chính ông cũng xuất thân từ một vùng quê nghèo Tuy Phước - Bình Định. Do đó, trong thơ, tâm hồn ông đã thực sự hòa nhập vào đời sống của nhân dân, vui buồn cùng người dân, chứ không còn khoảng cách xa lạ, tự đặt mình cao hơn những người lao động, lấy người dân để khẳng định vai trò của mình như một số sáng tác của vua quan, nho sĩ thế kỷ XV. Đi ngang qua những cánh đồng, nhà thơ không khỏi lo lắng, xót thương cho người dân vì nắng hạn: Xuân, hạ tồ thu thốn trạch vô/ Cao đê, điền mẫu thái tiêu khô (Từ xuân, hạ đến thu vẫn chưa có giọt mưa nào/ Đồng thấp, đồng cao đều khô cháy cả - Thương hạn). Rồi một ngày mưa xuống, ông lại tràn ngập niềm vui: Vạn kim hảo vũ tán nguyên điền/ Tẩy tịnh viêm trần lục nguyệt thiên (Cơn mưa lành như muôn vàng rải xuống ruộng đồng/ Rửa sạch lớp bụi nóng của tiết trời tháng sáu - Hỷ Vũ). Không dừng lại ở đó, Đào Tấn còn có sự hiểu biết sâu sắc và đồng cảm thực sự với nỗi khổ của người nông dân. Thi nhân ai cũng bảo nhà nông sướng, Đào Tấn lại thấy nhà nông rất đáng thương: Ngũ nguyệt, lục nguyệt bất vũ thiên/ Đạp xa nhi nữ ca thả miên/ Thi nhân mỗi đạo điền gia lạc/ Như thử điền gia tối khả liên (Thủy xa), rồi hiểu được ngàn nỗi lo của người dân sau ba ngày tết: Đồng du tam nhật xuân/ Trúc phù khan phóng hạ/ Thiên lự hựu thùy nhân (Tân sửu trừ tịch). Đặc biệt, trong thời buổi “súng giặc đất rền”, ông rất buồn cho những cảnh tan tác, chia ly: Thùy gia trú trạch Bắc sơn ôi/ Loạn hậu bô nhân thượng vị hồi (Nhà ai dựng ở hẻm núi phía Bắc/ Sau khi loạn, người đi trốn vẫn chưa về - Kinh phế trạch). Và có lúc không kìm nén được lòng mình, tác giả đã thốt lên lời ai oán, xót thương cho những người dân vô tội trong cơn loạn lạc: Thử địa tùng tiền diệc phú nhiêu/ Khả liên loạn hậu bán tiêu điều (Chốn này trước kia là nơi trù phú/ Thương thay sau cơn loạn lạc bị xơ xác đến một nửa - Vô đề). Tấm lòng xót xa của Đào Tấn trước cảnh bể dâu ấy đã bắt gặp được sự đồng điệu ở Nguyễn Du (Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng - Truyện Kiều), hay ở Nguyễn Đình Chiểu (Bến Nghé của tiền tan bọt nước/ Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây - Chạy giặc).
Một biểu hiện khác trong con người nhà nho hành đạo còn giữ được lương tâm trong cảnh “trời đất nổi cơn gió bụi” ; trong nhiều bài thơ của mình, Đào Tấn đã vẽ nên bức tranh biếm họa về sự thối nát không thể cứu vãn của một bộ máy chính quyền phong kiến nhà Nguyễn. Giang Nam xứ xứ phong yên khỉ/ Hải thượng niên niên ngự tửu lai (Phương Nam chốn chốn khói lửa dậy/ Mặt biển năm năm rượu ngự về (Tịch thượng tác - Xuân Diệu dịch). Đối lập giữa cảnh binh đao, khói lửa của nhân dân lục tỉnh Nam kỳ với cảnh tiệc tùng của triều đình cùng bọn phương Tây, bản thân nó đã cất lên tiếng nói phê phán, tố cáo đối với thói ích kỷ, chỉ biết hưởng thụ cá nhân mà phớt lờ đi nỗi nhục mất nước.
Nhìn lại con người Đào Tấn trong thơ, ta thấy toát lên hình ảnh một nhà nho hành đạo nhưng có phần ly tâm, xa chính thống. Về hình thức, ông vẫn làm quan nhưng tâm hồn thì đã hướng hẳn về phía nhân dân, cách mạng; hướng vào quan hệ gia đình, bạn bè, thiên nhiên hơn là nói chí trung quân, tỏ lòng khát vọng công danh. Ông là một nhà nho thức thời, linh hoạt xuất xử trong tình cảnh mất nước, nặng lòng với nước, với dân. Trên lĩnh vực văn chương, tác giả đã có những thi phẩm thực sự có giá trị đóng góp vào sự phát triển của dòng thơ văn yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Qua đó, chúng ta có thể khẳng định, bản thân con người Đào Tấn là hiện thân cho sự chuyển hóa của tầng lớp nho sĩ cuối mùa.
N.Đ.T
(TCSH363/05-2019)
Tải mã QRCode
ĐỖ LAI THÚY
Trong một vài năm gần đây, nhiều nhà phê bình và nghiên cứu văn học đã có những cố gắng đáng kể để thoát ra khỏi tình trạng tiếp cận văn học một cách xã hội học có phần dung tục, hướng đến cách tiếp cận mới xuất phát từ đặc trưng của chính bản thân văn học. Một trong nhiều đường hướng nghiên cứu có triển vọng đó là phong cách học.
Cần phải nói ngay, Tưởng tượng & Dấu vết là cuốn tiểu thuyết khó đọc. Nó khó đọc vì hai lẽ: thứ nhất, nền tảng logic văn bản không nằm trong phương pháp tạo dựng hay trong tri thức thực hành của tác giả, mà nó nằm sâu trong yếu tính[2] thời gian.
ĐINH VĂN TUẤN
Thi hào Nguyễn Du khi sáng tác “Truyện Kiều” đã đặt tên cho tác phẩm nổi tiếng này là gì? Cho đến nay, giới nghiên cứu Kiều vẫn còn phân vân, chưa dứt khoát hẳn một nhan đề nào là khởi đầu do cụ Nguyễn Du đặt.
KHẾ IÊM
Tặng nhà thơ Biển Bắc và Hồ Đăng Thanh Ngọc
Nhà thơ và nhà nghiên cứu Mỹ Timothy Steele, trong bài viết “Phép làm thơ cho những nhà thơ thế kỷ 21”, nhấn mạnh, cách làm thơ trong thế kỷ tới sẽ là tuôn nhịp điệu ngôn ngữ nói vào thể luật, để hình thành nhịp điệu thơ.
HOÀNG DŨNG, BỬU NAM
(Phỏng vấn nhà sử học Nguyễn Hồng Phong, nhà văn Huy Phương và nhà phê bình văn học Phương Lựu)
HỒ TIỂU NGỌC
Thế kỷ XXI là thế kỷ của internet và truyền thông, nơi mọi chân lý và định luật đều gói gọn ở trong hai con số 0 và 1 của ngôn ngữ lập trình mạng.
VŨ THỊ THƯỜNG
Gần đây, nhân công việc tìm nhặt tư liệu xung quanh vụ án Lệ Chi viên để viết một cái gì đó bằng văn xuôi, tôi có đọc một số sách viết về Nguyễn Trãi. Trong số sách tôi đã đọc ấy, có hai cuốn: Văn chương Nguyễn Trãi và Chủ nghĩa yêu nước trong văn học thời khởi nghĩa Lam Sơn của tác giả Bùi Văn Nguyên.
VŨ TRỌNG QUANG
I. HÀNH TRÌNH TẤT YẾU
Bước chân bắt đầu từ khởi điểm Octavio Paz “Giữa im lặng và tiếng nói, đó là thơ”. Vậy thì im lặng hay lên tiếng, có người nói thơ là tiếng nói, và có người cho vô ngôn là một giá trị.
ROLAND BARTHES
Trong cuộc chiến giữa bạn với thế giới, hãy đặt thế giới ở hàng thứ cấp (Franz Kafka)
LÊ QUANG THÁI
Việt Nam đã có thơ mới sánh cùng với thơ mới của các nước Nhật Bản, Trung Hoa, Indonesia; khác nhau ở chỗ phong trào thơ mới dậy lên sớm hơn hoặc muộn hơn ba năm mà thôi. Còn các nước Thái Lan, Lào và Campuchia không có chuyện thơ mới bởi lẽ tình hình văn nghệ thiếu điều kiện phát triển.
PHẠM TẤN XUÂN CAO
Cầm tay chưa muộn nối lời
Nghiêng mình gửi mộng mây trời lang thang
(Bùi Giáng)
VĂN GIÁ
Tôi bắt đầu nhan đề bài viết bằng một câu hỏi có vẻ như khá liều lĩnh? Nó sẽ lập tức dẫn đến một phản biện ngay sau đó: “Hay” là một cách nói định tính, không tường minh được, anh cho là hay, tôi cho là không hay, thậm chí là dở thì thế nào?
BỬU Ý
(Nhân dịp giới thiệu tập sách của nhiều tác giả “Thơ Tân Hình Thức Việt - Tiếp nhận và sáng tạo” tại tòa soạn tạp chí Sông Hương, Huế, ngày 15.8.2014)
PHAN NGỌC THU
Cùng với văn học cả nước, hiện nay, văn học ở mỗi vùng đất cũng đang đứng trước yêu cầu lớn lao của công cuộc đổi mới.
“Chúng sanh chìm bùn dục
Những kẻ không thấy đời…”
Subha.
PHẠM XUÂN NGUYÊN
“Cái hèn” này, gần đây, đã được một số người nói đến khi nhìn lại một giai đoạn văn học vừa qua. Nhưng tôi có cảm tưởng tác giả đó chỉ mới đủ dũng cảm để dám nói về “cái hèn” của mình so từ bên ngoài mình đưa tới mà thôi.
HOÀNG LONG
Trên thế giới, thể loại truyện cực ngắn có nhiều tên gọi. Ngoài tên thông dụng nhất là “truyện cực ngắn” hay “truyện rất ngắn” thì còn có các tên truyện chớp, truyện ngắn ngắn…
LẠI NGUYÊN ÂN
Khi bàn tới những vấn đề không đơn giản như quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, thiết tưởng chẳng những cần xét xem về mặt logic lý luận thì nên quan niệm thế nào cho thỏa đáng, mà còn cần xét về mặt lịch sử, quan hệ này đã được biểu hiện ra sao, thực chất của nó là gì, v.v…
ANH CHI
Sau khi đọc tiểu luận Ý nghĩa một đời người của tôi trên tạp chí Nhà văn và Tác phẩm số Tết Giáp Ngọ 2014, nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện đã viết bài Về các tiểu luận cho là của Lê Tràng Kiều trong “Văn chương và hành động” (NV&TP số tháng 3 và 4/2014), ghi là “trao đổi với Anh Chi”. Nhưng, nội dung bài viết đó cho thấy anh chỉ hành xử với nhà văn Lê Tràng Kiều, và cách hành xử vẫn như cũ. Do vậy, tôi thấy cần phải viết bài tiểu luận này để trao đổi lại.
LGT: Bản dịch của chúng tôi lấy từ lời giới thiệu của Cheryll Glotfelty trong “Tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học” do Cheryll Glotfelty và Harold Fromm chủ biên.