Theo ông Bernard Dorival, Giám đốc Bảo tàng Nghệ thuật quốc gia Pháp, Điềm Phùng Thị là một trong những nhà tạc tượng tài hoa nhất của thời đại ông đang sống.
Bà Điềm Phùng Thị đang sáng tác
Người con đất Việt luôn hướng về Tổ quốc
Ngày trẻ, Phùng Thị Cúc đẹp nổi tiếng, là hoa khôi của Trường Đồng Khánh (Huế). Bà đẹp đến mức thi sĩ Lưu Trọng Lư phải ra ngẩn vào ngơ, và hàng đêm viết thơ tặng. Những câu nổi tiếng của ông “Ai bảo em là giai nhân/Cho đời anh đau khổ/Ai bảo em ngồi bên cửa sổ/Cho vương víu nợ thi nhân”, chính là để tặng bà.
Năm 1946, bà tốt nghiệp khóa nha khoa đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Trường ĐH Y Hà Nội. Bà cùng hôn phu là ông Hoàng Xuân Hà, em ruột GS Hoàng Xuân Hãn, tham gia kháng chiến. Ông Hoàng Xuân Hà hy sinh còn bà thì lâm bệnh nặng và được đưa sang Pháp chữa trị. Sau khi hồi phục sức khỏe, bà tiếp tục học và tốt nghiệp tiến sĩ nha khoa của Pháp.
Năm 1953, bà kết hôn với ông Bửu Điềm, người bạn thuở ấu thơ, cũng là nha sĩ và định cư tại Paris. Cái tên Điềm Phùng Thị bắt nguồn từ đấy.
Chiến tranh và hoa cúc
Đầu những năm 1960, chiến tranh ở Việt Nam vô cùng khốc liệt. Bà ngày ngày xem truyền hình, theo dõi tình hình tin tức ở Việt Nam và quyết định không thể suốt đời “chỉ sống trong 36 cái răng trong miệng”. Khao khát muốn làm điều gì đó để cất lên tiếng nói phản đối chiến tranh Việt Nam, bà chuyển sang lĩnh vực nghệ thuật.
Trong mười năm kể từ đó, chiến tranh là một đề tài lớn trong các tác phẩm của bà. Nổi bật nhất có thể kể đến như tác phẩm Người không trở về (1960) làm bằng thạch cao quyện sợi xơ trên nền gỗ, thể hiện trên hai chiều hình ảnh của một thân xác bị phân hủy, hao mòn, tượng trưng cho những gì bi thảm đang diễn ra ở Việt Nam. Những tác phẩm lấy đề tài chiến tranh đáng chú ý khác như: Một cuộc đời, Người lính giải phóng, Nhà tôi trong chiến tranh, Bom bi và Người mẹ... đều thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của một người con đất Việt luôn hướng về Tổ quốc.
Suốt thời gian diễn ra Hội nghị Paris về Việt Nam, gia đình bà Điềm Phùng Thị cũng giúp đỡ đoàn đại biểu nước ta về chỗ ăn, chỗ ở cũng như phiên dịch hộ. Ông Phan Đình Hối, người trợ lý riêng của bà, vẫn còn giữ lá thư cảm ơn của ông Xuân Thủy, khi đó là Trưởng đoàn đàm phán của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gửi gia đình bà Điềm Phùng Thị vì những đóng góp của gia đình trong sự thành công của Hội nghị Paris.
Sau này, Điềm Phùng Thị cũng là một trong những nghệ sĩ đầu tiên trở về Tổ quốc góp phần xây dựng đất nước. Theo nhà văn Tô Nhuận Vỹ, sự trở về của bà, cũng như của các nghệ sĩ như Lê Bá Đảng, có sức mạnh gấp 10 lần việc tuyên truyền bằng lời nói.
7 nốt nhạc trong điêu khắc
Ông cụ thân sinh ra bà Điềm Phùng Thị quê gốc ở Hà Tĩnh. Bà từng có thời gian sống tại Tây nguyên, Hà Nội sau đó lại định cư hơn 50 năm ở Pháp, nhưng trong sâu thẳm bà vẫn là một người con xứ Huế. Năm 1981, ông Amadou Mahtar M'Bow, Tổng giám đốc UNESCO, đã ra lời kêu gọi bảo tồn và tôn tạo Huế. Chính bà là người đã thiết kế huy hiệu UNESCO để vận động cho TP.Huế trở thành di sản thế giới.
Ông Phan Đình Hối nhớ lại, lần đầu tiên gặp bà vào năm 1992, ông đã ngỡ ngàng thế nào khi sau bao nhiêu năm xa Tổ quốc, bà vẫn nói một thứ tiếng Huế rất chuẩn, thứ tiếng của phụ nữ quý tộc Huế thời xưa. Bà đã chọn Huế là nơi dừng chân cuối cùng của cuộc đời mình và trao tặng Huế món quà vô giá là 386 tác phẩm nghệ thuật điêu khắc.
Những tác phẩm của bà rất đặc biệt. Nó được ghép từ những modul mà bà dùng lặp đi lặp lại. Người ta vẫn gọi đó là 7 mẫu tự của bà Điềm Phùng Thị. Theo nhà nghiên cứu Lê Thị Mỹ Ý, những modul đó vừa giản lược vừa mang dáng dấp kỷ hà, song cũng có tính biểu tượng. Nhờ đó, nó chuyển tải những khái niệm rất phù hợp với không gian kiến trúc châu Âu hiện đại. Đồng thời nó cũng mang tinh thần duy lý phương Tây. Tuy nhiên, cũng theo bà Mỹ Ý, tác phẩm của Điềm Phùng Thị vẫn không xa lạ với tư duy cảm tính phương Đông. Nhờ dạng thức hướng nội, nó thậm chí còn "Việt Nam" hơn tất thảy những gì thuần Việt.
Cũng theo bà Mỹ Ý, bà Điềm Phùng Thị cũng khai thác rất triệt để khối rỗng (khối âm) vốn là phát hiện độc đáo của nhà điêu khắc nổi tiếng H.Moore. Bà Điềm còn lồng ghép những khoảng tối sáng, thổi vào các khối rỗng đó nhiều yếu tố trừu tượng hiện đại và lối cảm nhận gián tiếp của người Việt Nam. “Từ cách sắp đặt các mẫu tự trong không gian như những đường cắt hình học với cấu trúc lô gic đậm tính vi biến, các mẫu tự alphabet của chị thực sự đã tạo dựng một trò chơi giữa không gian hài hòa hai khối âm dương, sáng tối”, bà Mỹ Ý đánh giá.
Giám đốc Viện Bảo tàng nghệ thuật quốc gia Pháp, ông Bernard Dorival, vinh danh Điềm Phùng Thị là “một trong những nhà tạc tượng tài ba nhất của thời đại chúng ta”. Nhà thơ Tố Hữu gọi bà là “một tạo hóa trong điêu khắc”. Nhà phê bình nổi tiếng người Pháp, Georges Boudaille, lý giải hiện tượng Điềm Phùng Thị như “một thành quả của sự hỗn hợp các nền văn minh và các thời đại vốn xa lạ nhau”.
Năm 1991, bà trở thành nữ nghệ sĩ gốc Á đầu tiên được ghi danh trong từ điển Larousse: Nghệ thuật thế kỷ 20. Theo nhà văn Tô Nhuận Vỹ, bà là nghệ sĩ Việt Nam duy nhất có tổ chức nước ngoài lấy tên. Đó là tổ chức “Hội bạn Điềm Phùng Thị” do những người Pháp ái mộ tài năng của bà thành lập.
Những năm cuối đời, dường như ý thức được thời gian sắp hết, bà càng say mê làm việc hơn. Mỗi khi sáng tác, bà thường đóng kín cửa phòng, ai đến thì cho trả lời là đi vắng. Nhiều đêm đã quá 12 giờ đêm bà vẫn cặm cụi trong phòng làm việc.
Người phụ nữ ấy đã vắt kiệt sức lực đến những phút giây cuối cùng để cống hiến cho đời những tác phẩm nghệ thuật giàu giá trị.
Theo Anh Trâm - Trinh Nguyễn (Thanhnien online)
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.