PHÙNG TẤN ĐÔNG
Nhà báo, học giả Lê Dư, còn có tên Lê Đăng Dư, Lê Kính (1884 - 1967)(1), hiệu Sở Cuồng (người Cuồng nước Sở), sinh quán tại làng Nông Sơn (nay thuộc xã Điện Thọ) huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Nhà biên khảo Lê Dư - Ảnh tư liệu
Thuở nhỏ ông học chữ Hán ở quê nhà. Lê Dư lập gia đình với bà Phan Thị Giệm (1889 - 1936), sinh hạ được năm người con. Con gái lớn là nhà thơ Lê Hằng Phương - vợ nhà văn Vũ Ngọc Phan, người con gái thứ hai là Lê Hằng Phấn - vợ nhà văn, nhà nghiên cứu Hoàng Văn Chí, người con thứ ba là trai - dược sĩ Lê Hoan, người con gái thứ tư là Lê Hằng Huân - vợ tướng Nguyễn Sơn, người con gái thứ năm là Lê Hằng Trang, mất sớm. Các con gái Lê Dư đến nay đều đã mất, chỉ còn người con trai Lê Hoan.
Năm 1900, ông cùng với Phan Khôi, Nguyễn Bá Trác ra Hà Nội học tiếng Pháp và tham gia công tác tại trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Hướng ứng phong trào Duy Tân, phong trào Đông Du, năm 1906 ông sang Nhật du học. Năm 1908, phong trào Đông Du bị khủng bố do sức ép của thực dân Pháp, chính phủ Nhật trục xuất các nhà cách mạng Việt Nam và cả các du học sinh, ông sang Triều Tiên, Trung Quốc đọc sách và du lịch. Lê Dư rất thông thạo tiếng Nhật và tiếng Trung Quốc. Với “vốn học vấn uyên bác, 14 năm học tập và hoạt động cứu nước ở hải ngoại, chí lớn không thành, ông trở về nước, chuyên khảo cứu và biên khảo lịch sử, văn học mong khơi dậy truyền thống dân tộc”(2). Theo nhà nghiên cứu Trần Hải Yến - Lê Dư bị cụ Phan Bội Châu phê phán “là không trung thành với tổ chức”(3). Thời gian sang Triều Tiên, Trung Quốc chủ yếu ông tích lũy kiến thức về văn hóa - lịch sử các nước và viết nhiều sơ thảo theo dạng bút ký biên khảo. Cũng chính thời kỳ ông đến Cao Ly (Triều Tiên), “ông là người đầu tiên phát hiện ra dòng họ Lý ở đây là hậu duệ của Lý Long Tường - Hoàng tử thứ hai của Lý Anh Tông. Năm 1919, Lê Dư về nước, ông vào làm việc ở Phòng Chính trị Phủ Toàn quyền Bắc Kỳ và ở Trường Viễn Đông Bác cổ Hà Nội. Từ đó ông chuyên tâm cho sự nghiệp văn hóa”.(4)
Công trình của Lê Dư chủ yếu thuộc về nghiên cứu lịch sử và văn chương, hầu hết đăng tải trên các báo như các tờ Nam Phong, Đông Thanh, Đông Tây, Hữu Thanh, tập san Hội Trí Tri… như “Thảo trạch anh hùng” (Anh hùng nơi đầm cỏ), “Lịch sử Bằng Quận công”, “Tây Sơn ngoại sử” (Ngoại sử về Tây Sơn), “Chữ Nôm với chữ Quốc ngữ”, “Quốc âm thi văn tùng thoại” (Tập luận bàn về thơ văn quốc âm), “Nữ lưu văn học sử”, “Ca vũ và âm nhạc nước nhà”, “Việt Nam văn học sử”… Đặc biệt, Lê Dư tổ chức biên sọan tủ sách “Sở Cuồng văn khố Quốc học tùng san” với những ấn phẩm như: “Nam Quốc nữ lưu” (Nữ lưu nước Nam - 1929), “Nữ lưu văn học sử” (Lịch sử văn học của nữ giới - 1929), “Bạch Vân Am thi văn tập” (Tập thơ văn Bạch Vân Am - 1930), “Vị Xuyên thi văn tập” (Tập thơ văn Vị Xuyên Trần Tế Xương - 1931), “Phổ Chiêu Thiền sư thi văn tập” (Tập thơ văn của Phổ Chiêu Thiền sư - Phạm Thái - 1932).
![]() |
| Một số nhân viên trong ban sáng lập Hội Bắc Kỳ Phật Giáo, chụp tại chùa Quán Sứ cũ năm 1936 - Ảnh tư liệu |
Lê Dư - người nghiên cứu đầu tiên về mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản
Các nhà nghiên cứu Đoàn Lê Giang, Lê Quang Trường - khoa Văn học và Ngôn ngữ Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh có đề cập đến một tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế về Đô thị cổ Hội An năm 1990(5). Đó là bài tham luận/ bài viết của Giáo sư Kawamoto Kuniye “Nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn ở Quảng Nam căn cứ theo Gaiban tsusho (Ngoại phiên thông thư)” - đây là bài viết bằng tiếng Việt giới thiệu về các bức thư trao đổi giữa Mạc phủ Tokugawa (Nhật Bản) và chúa Trịnh, chúa Nguyễn (Việt Nam). Đoàn Lê Giang, Lê Quang Trường cũng đề cập đến công trình giới thiệu về nhà thơ Nhật Bản Abe no Nakamaro (thế kỷ XIII), bạn thơ của Lý Bạch lưu lạc đến Việt Nam (bài “Một người bạn của Lý Bạch lưu lạc ở Việt Nam” đăng trên “Kiến thức ngày nay” số xuân 1995).
Trong kỷ yếu hội thảo 1990 - tác giả bài viết, GS K. Kuniye nói về “An Nam quốc thư” trong “Ngoại phiên thông thư” gồm những văn thư từ Việt Nam gởi đến cho nhà Mạc Phủ Đức Xuyên và ngược lại, “hoặc văn thư của chính quyền chúa Nguyễn và chúa Trịnh và người đại thần dưới chính quyền chúa Trịnh trao cho các thương gia tàu châu Ấn Nhật. Các văn thư trên có liên quan đến lịch sử của Hội An vào đầu thế kỷ 17, và thực tình là tài liệu quan trọng đối với các học giả Nhật Bản, từ sau thời Minh Trị, muốn nghiên cứu về lịch sử giao dịch thương nghiệp Nhật Bản vào thời kỳ đầu của chính quyền Đức Xuyên. Nhưng với sự hiểu biết của tôi - K. Kuniye - các tư liệu này chưa được các học giả Việt Nam sử dụng”.(6)
Cho đến khi tìm hiểu phần Hán văn trên tạp chí Nam Phong, các nhà nghiên cứu trên ‘mới phát hiện ra là từ gần 100 năm trước, Lê Dư đã nghiên cứu về những chuyện nói trên khá kỹ, chỉ tiếc là ông viết bằng Hán văn, nên ít người chú ý đến”.(7)
Thực tế, năm 1920 Lê Dư cộng tác với Nam Phong tạp chí. Từ số 41 (tháng 11/1920, phần Hán văn) và số 42 (tháng 12/1920, phần Hán văn) tạp chí Nam Phong, ông giới thiệu về các lĩnh vực của Nhật Bản (địa lý, nhân chủng, tính quốc dân, lịch sử, ngôn ngữ, văn tự, văn hóa…). Nam phong tạp chí số 43 (tháng 1/1921, phần Hán văn) ông viết “Ghi chép phong vật các nước, phần 3: Lịch sử ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản thời cổ”. Nam phong tạp chí số 45 (tháng 3/1921, phần Hán văn) ông viết “Ghi chép phong vật các nước, phần 4: Giáo dục Nhật Bản).
Trong hai số Nam phong tạp chí số 54 (tháng 12/1921, Hán văn) và 56 (tháng 2/1922), Lê Dư lần lượt giới thiệu 35 bức thư trao đổi giữa chúa Trịnh, chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa in trong tập Ngoại phiên thông thư - An Nam quốc thư: Bài 1: Cổ đại Nam Nhật giao thông khảo 古代南日交通攷, phụ đề: Bản triều tiên đại dữ Nhật Bản giao thông chi văn thư 本 朝先代與日本交通之文書, 25 bức; Bài 2: Cổ đại ngã quốc dữ Nhật Bản chi giao thông (tục) 古代我國 與日本之交通 (續), 10 bức.
Trong bài nghiên cứu “Lịch sử giao lưu giữa Nhật Bản và nước ta (Việt Nam) thời xưa” Lê Dư từng đề cập đến việc giao thương giữa các thuyền buôn Nhật Bản với nước ta qua thương cảng Hội An, Lê Dư thuật như sau (trích): “… Năm 1593 (năm Văn Lộc thứ 2 của Nhật), 3 chiếc thuyền từ Kinh đô/ Kyoto 京都, 1 thuyền từ Sakai 堺 (địa danh ở Nhật), 5 chiếc thuyền từ Trường Kỳ/ Nagasaki 長崎 của Nhật tổng cộng là 9 thuyền đi đến các xứ Đông Kinh 東京, Giao Chỉ 交趾, Campuchia để buôn bán làm ăn. Có các thuyền chủ rất nổi tiếng như Giác Thương Dữ Nhất/ Suminokura Yoichi 角倉與一 (của Kinh đô, Trà Ốc Tứ Lang/ Chaya Shirōjirō 茶屋四郎 次郎 (của vùng Sakai 堺, Hoang Mộc Tôn Thái Lang/ Araki Sotaro 荒木尊太郎, Thuyền Bản Di Thất Lang/ Yashichiro 船本弥七郎, Di Tả Vệ Môn/ Yasaemon 彌左衛門 của Trường Kỳ/ Nagasaki… nhiều người đã cư ngụ ở Hội An của Quảng Nam.
Xét thấy ở Hội An có một loại nhà được gọi là nhà của người Nhật Bản, lại có một chiếc cầu gọi là Chùa Cầu. Hiếu Minh hoàng đế triều Nguyễn ta từng ngự đề ba chữ “Lai Viễn Kiều 來 遠橋” treo ở sảnh của cầu đó, đến nay vẫn còn. Chiếc cầu ấy trông rất u nhã, kiến trúc giống với những chiếc cầu cổ xưa của Nhật, đó là thứ mà người Nhật xây dựng khi cư ngụ ở Hội An, đồng thời họ cũng từng xây dựng nhà cửa để ở. Cuối thời Minh, trưng sĩ Chu Thuấn Thủy tiên sinh có làm quyển Cung dịch An Nam ký sự 供 役安南紀事 có ghi rằng: đem cầm bán những thứ trong nhà trả cho Di Tả Vệ Môn/ Yasaemon 彌左 衛門 40 lạng bạc 8 tiền, trả tiền thuê phòng cho chủ nhà trọ Quyền Binh Vệ/ Gonnobyoe 權兵衛 30 lạng. Họ Chu bấy giờ cũng là khách cư ngụ ở Hội An, có thể biết người Nhật ở Hội An từng có nhà cho người ta thuê ở.
Khoảng năm 1600 (thời đại Đức Xuyên của Nhật), nước ta giao thương với nước Nhật rất thịnh, Đà Nẵng và Trường Kỳ/ Nagasaki có đường biển qua lại theo định kỳ. Công văn qua lại rất nhiều. Hiện nước Nhật lưu giữ văn thư của nước ta có đến 36 văn kiện. Năm 1915 (năm Đại Chính thứ 4 của Nhật) số văn kiện này từng được triển lãm tại nhà bảo tàng công viên Thượng Dã/ Ueno ở Đông Kinh, bấy giờ tôi có tham dự nhưng lại không lưu ý sao chép giữ gìn để đến nỗi bây giờ phải hối tiếc.
Năm 1627 (năm Khoan Vĩnh thứ 4 của Nhật), nước ta đưa thư sang Nhật xin thông thương.”(8)
Như vậy Lê Dư là người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu về quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản. Từ năm 1919 ông hoàn thành hàng chục công trình biên khảo bằng Hán văn như “Liệt quốc thái phong ký” (ghi chép chọn lọc về phong tục, lịch sử, địa lý các nước quanh ta như Nhật, Thái Lan, Cao Miên…), “Việt Đông phong thổ ký” (phong tục thổ nghi Quảng Đông) và nhiều bài viết bằng quốc văn về văn học sử và lịch sử Việt Nam…
![]() |
Về những đóng góp của nhà báo, học giả Lê Dư cho văn hóa
Trong hành trạng của mình - việc cụ Phan Bội Châu đánh giá về ông trong tác phẩm “Tự Phán” đã được lớp hậu sinh “chiêu thuyết”. Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân cho rằng “Như Phan Bội Châu viết “Tự Phán” thì hoạt động của Lê Dư ở Nhật Bản và Trung Quốc khá phức tạp, có lẽ nhà cách mạng Việt Nam giai đoạn này không hiểu rõ chủ trương công việc của Lê Dư nên gán cho ông nhiều thông tin bất lợi. Chúng tôi qua khảo sát các công trình nghiên cứu bằng Hán văn của ông, thấy rằng ông hầu như đã dành hết thời giờ vào việc đọc các tân thư, cổ thư Nhật Bản và Trung Quốc để trích thải các tài liệu liên quan đến lịch sử nước nhà, có phải vì thế mà ông đã lơ là công tác chính trị theo chủ trương chung của tổ chức?”(9) Lê Dư viết du ký rất hay, miêu thuật rất tỉ mỉ luôn thiên về truyền bá tri thức, kiến thức hơn là kiến giải, luân lý học thuật kiểu nghiên cứu chuyên sâu. Ngày nay đọc những bài viết của ông như trong sách “Dấu tích Thăng Long”(10) gồm “Hà Thành kim tích khảo” và “Di Cổ Loa thành ký”. “Hà Thành kim tích khảo” là thiên khảo cứu về thành phố Hà Nội xưa và nay. Ông đã ghi chép tổng quan về di tích, thắng cảnh và sự thay đổi thành quách, cung thất, phố phường Thăng Long - Hà Nội qua các đời với gần một trăm danh thắng, 3 bức địa đồ mà ông tự vẽ với hệ thống địa danh chữ Hán. Thiên khảo cứu này có thể cho ta một cái nhìn toàn cảnh về Hà Nội vào thời điểm đầu thế kỷ XX, đồng thời cũng giúp bổ sung nhiều chi tiết cho việc nghiên cứu về lịch sử, địa dư thủ đô Hà Nội hiện nay, (nguyên văn chữ Hán đăng trên Nam Phong tạp chí số 80 và 81). “Di Cổ Loa thành ký” là bài du ký ghi lại cuộc du ngoạn của ông cùng hai người bạn là Mã Dã Phong Tam Lang (Nhật Bản) và Cao Kiều Đôn (Trung Hoa) - những người bạn cùng làm việc ở Viện Viễn Đông Bác cổ Hà Nội. Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân có nhận định về mảng bút ký của ông như sau: “Là người đi nhiều, đọc nhiều và viết khỏe, riêng về mảng bút ký, hầu như mỗi nơi ông đặt chân đến đều có thu hoạch đáng kể, bút ký biên khảo của Lê Dư đầy ắp sử liệu lại đậm đà chất văn, tản mác trong các thiên là sự ẩn chứa nỗi niềm hoài cổ, thời oai hùng của dân tộc, hoặc ghi chép cái hay ở xứ người mà luôn chạnh nỗi yếu dở của nước nhà, xót cho dân khí hèn, dân trí thấp…”(11). Về các tác phẩm biên khảo trong tủ sách Quốc văn của ông - nhà nghiên cứu Trần Trọng Dương đánh giá trong lời cám ơn khi khảo, cứu hiệu chú cuốn sách “Phạm Thái toàn tập” (Sở Cuồng Lê Dư phiên chú): “Đặc biệt cám ơn học giả Sở Cuồng Lê Dư - người đầu tiên giới thiệu Phạm Thái và các tác phẩm của ông đến với độc giả trong chương trình xây dựng tủ sách quốc văn nhằm hướng đến một nền quốc học. Nhờ có Lê Dư mà Phạm Thái trở thành tác gia nổi tiếng, ông được Khái Hưng viết cuốn “Tiêu Sơn tráng sĩ”, được Phan Khắc Khoan viết kịch thơ “Phạm Thái”. Đến nửa sau thế kỷ XX, các tác phẩm của ông (Phạm Thái) được đưa vào Từ điển văn học, và một số giáo trình môn học ở cấp đại học và phổ thông. Cũng nhờ có công phiên âm quốc ngữ của Lê Dư mà chúng tôi mới có thể biên soạn cuốn sách này”.(12)
Cả một đời làm báo, biên khảo sách lịch sử, sách văn học Lê Dư thực sự đã làm hết sức mình cho mục đích” bàn giao cái vốn liếng tinh thần của tiền nhân để lại cho lớp sau đang thiếu Hán ngữ”. (13) Tinh thần yêu nước của nhà chí sĩ Lê Dư được biểu hiện trong nhiều việc làm. Trong bài diễn văn tại Hội Trí Tri Hà Nội ngày 25/11/1933, ông đã nói “Nước ta thu nạp ba nguồn văn học ở nước ngoài đến là Hán học, Phật học và Tây học, làm cho dân trí của ta ngày được mở mang, thật là một sự rất may. Nhưng vì ba cái học đó đều là ta học mượn của người cho nên gây ra một cái học phong sai lầm, chúng ta là người Việt Nam mà đi học những chuyện đâu đâu, hỏi đến chuyện nước Nam thì như ở trong vòng sương mù đến mấy dặm; học mà không biết đến nước là một cái học không có căn bản; thua kém các nước là tại chỗ đó. Vậy nên tuy đã có tiến hóa mà vẫn không phải có cái nguồn gốc thật”(14). Lê Dư dường đã làm xong nhiệm vụ của một trí thức cựu học và cả nhiệm vụ của một trí thức có trải nghiệm tân học trong buổi giao thời - “thời Nho học suy tàn, Tây học mới nảy”(15). Công việc của ông là “truyền bá Đông Tây học thuật” mà việc cốt lõi là cần phải trau dồi Việt ngữ. Ông đã góp phần vào việc cải biến câu văn Quốc ngữ thoát khỏi lối văn biền ngẫu, “thứ chữ Quốc ngữ nặng từ Hán Việt” kiểu Phạm Quỳnh và một số nhà báo cộng tác với Nam phong.
P.T.Đ
(SHSDB42/09-2021)
----------------------------
(1) Về năm sinh và năm mất của học giả Lê Dư trước đây còn nhiều vấn đề tồn nghi. Về năm sinh, nhiều công trình nghiên cứu để khuyết - nhất là những công trình có tính học thuật như “Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam” (Nguyễn Q Thắng, Nguyến Bá Thế - Nxb. Tổng hợp TP HCM (Bộ mới) 2006, tr. 445) ghi “Lê Dư - Sở Cuồng - (Ất Dậu 1885? - Đinh Dậu 1967); Từ điển văn học bộ mới – Nxb. Thế giới 2004 tr. 818 ghi “Lê Dư - (?-31-VIII 1967); Phạm Hoàng Quân trong bài “Bút ký biên khảo đậm chất văn của học giả Lê Dư” ghi “Học giả Lê Dư (1885? - 1957); Đoàn Lê Giang - Lê Quang Trường trong bài “Sở Cuồng Lê Dư - học giả tiên phong trong việc nghiên cứu Việt Nam - Nhật Bản” ghi “Sở Cuồng Lê Dư (? - 1967); tác giả Trần Trọng Dương trong “Phạm Thái toàn tập” cũng ghi “Lê Dư (? - 1967)…
Chúng tôi chọn ghi theo tác phẩm “Chuyện Hà Nội (Vũ Ngọc Phan), khảo cứu Hà Thành xưa và nay” (Lê Dư)” Nxb. Văn học, H. 2019, phần tiểu sử của Lê Dư do cháu ngoại ông - GS-TS Vũ Tuyên Hoàng biên soạn (người ghi chép lại) ngày 29/3/1998.
(2) Lê Dư (2019) - Khảo cứu Hà Thành xưa và nay - Sơ lược tiểu sử học giả Lê Dư - Nxb. Văn học, Hà Nội 2019 tr. 176.
(3) Trần Hải Yến (2004) - mục từ “Lê Dư” - Từ điển văn học bộ mới - Nxb. Thế giới H. 2004 tr. 818 - 819.
(4) Đoàn Lê Giang, Lê Quang Trường (2014) - Sở Cuồng Lê Dư - học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Nhật Bản - Tạp chí Nghiên cứu văn học - Viện Văn học, Hà Nội số 7/2014.
(5) Đoàn Lê Giang… (2014) - Tạp chí Nghiên cứu văn học đã dẫn.
(6) Kawamoto Kuniye (1991) Ủy ban Quốc gia Hội thảo Quốc tế về Đô thị cổ Hội An 1991) - Kỷ yếu Hội Thảo - Nxb. KHXH H. 1991 tr. 169-178.
(7) Đoàn Lê Giang… (2014) - Tạp chí Nghiên cứu văn học đã dẫn.
(8) Đoàn Lê Giang…(2014)-Tạp chí Nghiên cứu văn học đã dẫn.
(9) Phạm Hoàng Quân - “Bút ký biên khảo đậm chất văn của học giả Lê Dư”.
(10) Sở Cuồng Lê Dư (2014) - Dấu tích Thăng Long (Hồ Viên dịch) - Nxb. Lao Động H. 2014.
(11) Phạm Hoàng Quân - nguồn đã dẫn.
(12) Trần Trọng Dương (2019) - Phạm Thái toàn tập - Nxb. Văn học, H. 2019 tr. 9.
(13) Võ Phiến (1999) - Đố kỵ cái trừu tượng - nguồn diendantheky.net
(14) Lê Dư (2019) - Khảo cứu Hà Thành xưa và nay - sách đã dẫn… tr. 177.
(15) Võ Phiến (1999) - Bài đã dẫn.
Tải mã QRCode
NGUYỄN THỊ TỊNH THY
1. Từ thập niên 90 của thế kỉ XX, nhà văn Trần Duy Phiên đã sáng tác nhiều tác phẩm mang đậm tư tưởng sinh thái mà tiêu biểu là bộ ba truyện ngắn viết về côn trùng Kiến và người (KVN), Mối và người (MVN), Nhện và người (NVN).
TRẦN NGỌC HỒ TRƯỜNG
Khảo sát không gian Truyện Kiều, các nhà nghiên cứu đã khảo sát các không gian nhà chứa, tu hành, không gian họ Hoạn danh gia(1)... cũng như các tính chất, đặc điểm của các không gian trong tác phẩm như không gian lưu lạc, không gian giam hãm, không gian tha hương(2)... Điều này có nghĩa là các không gian được khảo sát là các không gian hiện thực, có thể quan sát được bằng giác quan.
LÊ QUANG THÁI
Suy niệm ấy được viết bằng chữ Hán, khắc lên bia đá đầu tiên đề danh tiến sĩ của nước Đại Việt và được dựng lập ở khuôn viên nhà Thái học thuộc di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám từ năm Giáp Thìn, 1484, niên hiệu Hồng Đức thứ 15. Một sự dụng tâm về mặt lịch học và pháp số lung linh như đã hiển hiện long ẩn có giá trị biểu trưng.
ĐÌNH VĂN TUẤN
Theo truyền thuyết và sử sách, thủy tổ người Việt Nam là Lạc Long Quân, có tên húy là Sùng Lãm, là con trai của Kinh Dương Vương và Long nữ (con gái của Động Đình Quân).
NGUYỄN THÀNH TRUNG
Tóm tắt: Nhà báo – nhà văn Dương Thị Xuân Quý sinh ngày 19 tháng 4 năm 1941, hy sinh ngày 8 tháng 3 năm 1969. Bà nguyên là phóng viên báo Phụ nữ Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1968.
PHAN NGỌC
Giàu (,) ba bữa, khó (,) hai niêu,
Yên phận (,) thì hơn hết mọi điều
Khát, uống chè mai: hơi (,) ngọt ngọt;
Sốt, kề hiên nguyệt: gió (,) hiu hiu.
Giang sơn tám bức, là tranh vẽ;
Phong cảnh tứ mùa, ấy gấm thêu
Thong thả: hôm (,) khuya nằm, sớm thức,
Muôn vàn đã đội đức trời Nghiêu.
HOÀNG NGỌC HIẾN
(Nhân đọc mấy truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp)
LGT: Cuộc thi viết cảm nhận tác phẩm văn học Hàn Quốc (lần thứ IX - năm 2014) do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Viện Dịch thuật văn học Hàn Quốc tổ chức. Cô sinh viên năm thứ tư Hồ Tiểu Ngọc được khoa Ngữ văn, trường Đại học khoa học, Đại học Huế cử tham gia, đã vinh dự nhận giải Nhì qua bài phê bình tập truyện ngắn Điều gì xảy ra, ai biết… của nhà văn Hàn Quốc Kim Young Ha, dịch giả Hiền Nguyễn.
BBT Sông Hương vui mừng giới thiệu đến bạn đọc bài viết đạt giải cao này.
(Cuộc trưng cầu ý kiến các giảng viên dạy lý luận và lịch sử văn học ở các trường ĐHTH ở Liên Xô)
Phan Thắng thực hiện
ĐỖ LAI THÚY
Ngồi buồn lại trách ông xanh
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
(Nguyễn Công Trứ)
NGUYỄN KHẮC THẠCH
Không biết ngẫu nhiên hay cố ý mà tập thơ sẽ in riêng của nhà thơ Trần Lan Vinh lại mang tên với chữ đầu là Lục (sáu) – Lục bát đồng dao? Thôi thì cứ nói theo khẩu ngữ nhà Phật là tùy duyên nhưng điều quan trọng lại không phải ở phần cứng đó mà ở phần mềm hoặc không ở chỗ thể mà ở chỗ dụng của danh xưng.
LTS: Thời gian qua, thơ Tân hình thức Việt đã bắt đầu được nhiều bạn đọc, bạn thơ quan tâm. Tuy nhiên, nhiều người vẫn băn khoăn về việc làm sao để đọc một bài thơ Tân hình thức? Làm sao để giữ nhịp điệu của thơ?... Bài viết dưới đây của Biển Bắc, nhằm giới thiệu cách đọc-diễn một bài thơ Tân hình thức Việt. Vì muốn làm sáng ý nguyện ngôn ngữ đời thường nên bài viết sử dụng ngôn ngữ rất THT Việt. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
ĐẶNG TIẾN
Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bến sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề…
(Nguyễn Bính)
DÂN TRÍ
Không học chữ Nho, nghe qua hai câu thơ Hán Việt vừa dẫn thì cũng có thể hiểu được nghĩa lý một cách mang mang hồn sử thi.
HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Khi mới học cấp 2, tôi đã thấy trong tủ sách nhà tôi có hai cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan và Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân do một người dượng mua về từ Sài Gòn.
THÁI KIM LAN
Bài viết này chỉ là một phác thảo gợi ý về sự nghiệp và ảnh hưởng của hai nhà nữ trí thức miền Nam trong những thập niên 60, 70. Phùng Thăng tạ thế cuối thập niên 70. Phùng Khánh đã là Ni sư giữa thập niên 60 và trở nên một Ni sư Trưởng lỗi lạc trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam trước và sau 1975, liễu sinh 2003.
YẾN THANH
“Vĩnh biệt mày, cái thằng không biết tưởng tượng. Mày tự mà đốt đuốc cho cuộc hành trình thăm thẳm của mày đi”