Gió rít lên từng cơn. Tiếng gió quất vào cánh cửa kính nhà sáng tác Đà Lạt, mỗi lúc mỗi rõ. Trong gian phòng không rộng, chỉ có hai chiếc giường, bàn viết và hai ghế gỗ. Gió rít và hơi lạnh bên ngoài vẫn len lỏi vào trong. Chị La Cẩm Vân, mặc một chiếc áo khoác màu sữa, choàng thêm một chiếc khăn voan, dường như cũng chưa đủ ấm. Tôi ngồi đối diện, nghe chị kể.
Giọt nước mắt trào ra, chị đưa vội chiếc khăn mùi soa lên chấm, như ngăn lại những dồn nén trong lòng. Tôi quay mặt đi, nhìn vào khoảng không, để chị kịp trấn an mình. Giọt nước mắt của người đàn bà. Lần đầu tiên tôi thấy chị khóc. Vốn là người phụ nữ kiên định, mạnh mẽ, từng chống chọi với biết bao khó khăn, thử thách sóng gió trong cuộc đời, tôi tin chị sẽ vượt qua. Chị miên man trong dòng suy tưởng.
Cha tôi là nghệ sỹ La Cháu, gọi bà La Thị Sơn, mẹ ruột của bà Hoàng Thị Cúc (Từ Cung) là cô ruột. Bà Từ Cung sinh Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại), chị em tôi gọi bà Từ Cung là bà cô. Chuyện tình của ông vua Khải Định với bà cô ruột của tôi là câu chuyện dài. Vốn biết, 5 đời họ La ở làng Hà Trung, huyện Phú Vang yêu nghề hát xướng, nên khi trở thành mẹ vua Bảo Đại, bà Từ Cung đã đưa cha tôi cùng gia đình vào trong cung, để đêm ngày được tập luyện múa hát và được tuyển chọn vào Thanh Bình Thự, nhà hát cung đình triều Nguyễn. Tôi cũng được sinh ra ở Tả Vu và lớn lên với không gian Hoàng thành Huế; nơi đó đã nuôi dưỡng tôi, giúp cho tôi am hiểu tường tận những gì mà di sản cha ông từng để lại, và tôi thật sự là người hạnh phúc khi được trực tiếp thực hiện những điệu múa, lời ca ở chốn kinh thành.
Từ một diễn viên múa cung đình, tôi vừa học chữ, học nhạc và ca múa, tập luyện võ thuật, chăm chút từng động tác múa hát hết bốn năm thì trở thành diễn viên chính thức (1965). Sau năm 1975 là đội trưởng đội diễn viên; đến năm 1984 được cử làm phó đoàn. Và 5 năm sau (1989) trở thành trưởng đoàn ca múa nhạc truyền thống cung đình Huế. Dù trong hoàn cảnh nào, tôi cũng luôn lắng nghe những lời chỉ bảo của các thầy, của cha tôi mà lớn lên, trở thành Giám đốc Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế; mang theo lời ca điệu múa của cung đình đến với thế giới.
Múa cung đình Việt Nam có từ đời Tiền Lê. Qua đời Lý, hình thức múa có bước phát triển qua sự kiện Lý Thánh Tông, trong cuộc Nam chinh, đưa hơn một trăm cung nữ Chiêm Thành giỏi múa hát khúc Tây Thiên đem về Thăng Long (1044). Đến đời Trần, hình thức múa hát tập thể đã khá phổ biến ở cung đình. Đời Lê, qua các điệu múa Bình Ngô phá trận và Chư hầu lai triều được biểu diễn vào năm 1456 nhân khi vua Lê Nhân Tông đến Lam Kinh bái yết lăng miếu, thì múa hát đã phát triển đến hình thức Tổ khúc. Giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, họ Nguyễn vào trấn đất Thuận Hóa, lập một giang sơn riêng biệt. Đời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, Đào Duy Từ vì xuất thân từ con nhà xướng hát không được đi thi, phẫn chí vào Nam giúp chúa Nguyễn. Chính Đào Duy Từ là người đầu tiên xây dựng cho múa cung đình Huế (Thuận Hóa) những cơ sở đào tạo nghệ thuật múa đầu tiên. Lộc Khê hầu Đào Duy Từ lập ra Hòa Thanh Thự luyện tập một ban vũ và nhạc để múa hát vào những ngày khánh lễ. Hòa Thanh Thự gồm ba đội, mỗi đội có 120 người đều thuộc quyền viên phó quản điều khiển. Vũ sinh tuyển cả con trai và con gái. Đội nhất và đội ba trông coi về nhạc, đội nhì trông coi về ca và vũ. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), đoàn múa hát cung đình gọi là Tiểu Hầu, có thêm khúc Thái liên (hái hoa sen). Đến đời nhà Nguyễn chỉ còn lại 14 khúc. Diễn viên vừa múa vừa hát, các bài hát toàn bằng chữ Hán Việt, chỉ trừ múa Tứ Linh là không hát nhưng có nhạc phụ họa. Mười một vũ khúc đó là: Bát dật, Lục cúng, Song quang, Tam tinh chúc thọ, Bát tiên hiến thọ, Trình tường tập khánh, Vũ phiến (múa quạt), Nữ tướng xuất quân, Tam quốc - Tây du, Lục triệt hoa mã đăng và Tứ linh. Đào Duy Từ có công sửa lại các lối hát và các điệu múa cổ, đặt ra điệu múa Song quang, Nữ tướng xuất quân và Tam quốc - Tây du, dùng khi quốc gia đại lễ. Trong khi biểu diễn các vũ điệu cung đình, ban nhạc Thiều được sử dụng. Nhạc khí có: trống lớn (trống cái), trống con, trống tiểu bồng, trống yên cổ, đàn tỳ bà, đàn tam, đàn nguyệt, hồ, nhị, sáo, kèn, sênh tiền, tam âm, chuông, khánh, đàn sến, đàn cầm, đàn tranh, mõ, song lang… Ban nhạc có y trang dành cho đại lễ và ngày thường.
Sang đời vua Gia Long (1802 - 1820) đoàn có tên là Tiểu Hầu trong Việt Tường Đội. Đến đời Minh Mạng, đoàn ở trong biên chế của Thanh Bình Thự với tổng số 381 người (Thanh Bình Thự được xây vào thời Minh Mạng và gần đây đã được tu sửa lại). Năm Thành Thái nguyên niên (1889), đoàn ở trong Võ Can Thự. Qua đời Khải Định, đoàn có tên là Ba Vũ. Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến năm 1954, đoàn vẫn được duy trì dưới sự giúp đỡ thường xuyên của bà Từ Cung và hưởng quỹ lương của Hội đồng Nguyễn Phước Tộc. Từ năm 1970 đến năm 1975, đoàn lại thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa. Các điệu múa còn lưu truyền có thể chia làm ba nhóm: múa nghi lễ, múa chúc tụng và múa theo tích, sử, truyện. Sau này, đến đời Tự Đức, có bà Từ Dũ sùng bái đạo Phật, đã tuyển các vũ sinh nam, nữ khoảng 12 đến 14 tuổi hóa trang đẹp gọi là “tiên đồng, ngọc nữ” để tập múa và cúng dâng Phật lễ vật. Múa cung đình Huế chú trọng đến lễ thức và chúc tụng, không có hình thức vũ hội như ở Âu Châu, chủ yếu là do vũ sinh biểu diễn. Dưới thời Lý, Trần, vua và các quan đều cùng tham gia múa hát. Song triều Nguyễn, vua quan chỉ là người thưởng ngoạn. Tính chất dân tộc vẫn được coi trọng và bảo trì (Ấn Độ), tuy vay mượn đề tài, nội dung, nhưng đã được tái tạo thành những hiện tượng múa độc đáo Việt Nam là những chứng minh cụ thể. Động tác múa cung đình Huế có quan hệ hỗ tương với động tác múa tuồng. Mười tám khúc hát múa trong Tam quốc - Tây du đã cách điệu hóa động tác sinh hoạt, võ thuật Việt Nam, làm phong phú thêm về mặt tạo hình và luật động...
Sau năm 1975, Đoàn Ba Vũ đổi tên là Đoàn múa hát truyền thống với hai nhiệm vụ múa và diễn Tuồng; nhiều lần tưởng đã giải thể đoàn, bởi không ít người lúc đó cho rằng, bộ môn này chỉ để phục vụ cho “giai cấp phong kiến”. Đất nước đổi mới, văn hóa dân tộc được chăm sóc, phục hồi, bảo tồn. Từ năm 1990 về sau, được sự quan tâm chỉ đạo và tài trợ của lãnh đạo tỉnh, nhất là UBND tỉnh, Bộ Văn hóa - Thông tin, Sở Văn hóa… tôi được giao trách nhiệm phục hồi bộ môn nghệ thuật truyền thống Huế mà nhiều người quen gọi là nghệ thuật cung đình…
![]() |
| Cố NSND La Cẩm Vân với cha - cố NSƯT La Cháu. Ảnh tư liệu Trần Ngọc Trác. |
Bỗng nghệ sĩ La Cẩm Vân ngừng kể, chị đăm chiêu nhìn về chốn xa xôi trong khoảng không gian tĩnh lặng giữa núi rừng Tây Nguyên huyền ảo. Ngoài kia, gió vẫn lay từng cành thông xào xạc, hạt sương vẫn chảy dài trên tấm kính của cửa sổ. Chị hoài niệm về một thời, và trong giọng nói của chị không còn mạnh mẽ nữa. Tôi cảm giác, dường như chị đang khóc, tiếng khóc đã lận vào bên trong. Chị không còn xưng “tôi”, mà chuyển sang xưng tên, tâm tình như một người bạn, người cùng thấu hiểu với mình.
Cuộc đời Vân cũng thăng trầm cùng với nghệ thuật này. Sau 1975, đất nước khó khăn, không mấy ai quan tâm nghĩ đến văn hóa nghệ thuật cổ truyền. Đoàn của Vân không trụ nổi ở thành phố, phải lưu diễn nơi xa; có khi ra tận Quảng Bình, thành phố Vinh tháng này sang tháng khác. Ban ngày thì lo tuyên truyền quảng cáo, đêm đến nhiều khi các nghệ sĩ chỉ ăn một cái kẹo Cu Đơ trước giờ biểu diễn; có khi ra bờ biển diễn cho bà con ngư dân xem. Do di chuyển đến nhiều nơi, việc chăm lo cho cả đoàn ngày càng vất vả, Vân đã để mất một người con vì không có sữa cho con.
Nói đến đây, chị im lặng. Tôi biết chị đau đớn lắm. Nước mắt trong tôi cũng bỗng ứa ra lăn xuống làm nhòe mắt kính. Nhưng chị cũng kịp nhận ra, vội thanh minh: - Mong anh thông cảm, tôi không muốn nói điều này. Rồi, chị tiếp tục:
Rất may, tình hình khó khăn cũng dần qua, Vân được giao làm trưởng đoàn và trực tiếp chỉ đạo nghệ thuật. Người nước ngoài, đặc biệt là một số nhà nghiên cứu Pháp rất coi trọng nghệ thuật biểu diễn cung đình của Việt Nam, bởi vì nó rất Huế, rất Việt Nam nên cần phải giữ lấy cái chất “tinh ròng” đó. Nhờ vậy mà Vân và anh chị em nghệ sĩ trong đoàn tiếp tục khai thác, phục hồi và phát huy nghệ thuật ca múa nhạc cung đình (bao gồm bộ môn ca múa cung đình Huế, tuồng Huế và nhạc lễ cung đình Huế), thể hiện tính nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam về tình yêu Tổ quốc, gia đình và tính cộng đồng nhân loại, xây dựng thành một phong cách đặc trưng của một đoàn nghệ thuật truyền thống mang màu sắc văn hóa Huế. Đoàn khôi phục vốn cổ, dàn dựng mới 45 vở múa cung đình, 16 tiết mục múa dân gian dân tộc, 10 tiết mục lễ nhạc cung đình. Nhất là có các vở múa như: Nữ tướng luyện quân ra trận, Lân mẫu xuất lân nhi, Tam tinh chúc thọ, Phụng vũ, Phiến vũ, Trình tường tập khánh, Tam quốc, Tây du, Bát tiên hiến thọ, Lục triệt hoa mã đăng, Lục cúng hoa đăng, Song phụng… được khôi phục hoàn toàn đúng theo nguyên bản cổ. Bên cạnh đó, đoàn còn phục hồi được 30 tiết mục ca Huế và lý Huế, 8 vở tuồng dài và 18 trích đoạn tuồng (tuồng đồ, tuồng sử tuồng pho, tuồng ngự). Đoàn liên tục đi biểu diễn phục vụ nhân dân trong và ngoài tỉnh; tham gia các kỳ liên hoan hội diễn sân khấu chuyên nghiệp của khu vực và toàn quốc và có nhiều tiết mục đoạt giải cao. Ngoài ra, đoàn còn tham dự các giải quốc tế và biểu diễn giao lưu văn hóa ở một số nước như: Liên Xô, Nhật Bản, Lào, v.v. Nhờ sự quan tâm nhiều hơn của ngành, lãnh đạo tỉnh và thành phố Huế, hoạt động của đoàn ngày càng có hiệu quả cao hơn. Trước đây, một năm chỉ tiêu của đoàn chỉ dựng một vở tuồng và đi biểu diễn theo mùa. Khác với những năm trước, đoàn cũng phải lưu diễn nhiều nơi, vất vả tốn kém mà tiền thu không đủ trang trải các khoản chi, nên đoàn chỉ tập trung biểu diễn tại Huế và một số xã vùng ven thành phố, ven biển, đầm phá, thế mà số lượng buổi biểu diễn tăng hẳn lên - khoảng 150 buổi, trong đó có 87 buổi diễn theo hợp đồng. Nhất là sau Festival Văn hóa Việt - Pháp, nhiều đoàn khách nước ngoài đã tự tìm đến với đoàn, có khi phải đăng ký trước 3 ngày hoặc một tuần khách mới được đáp ứng nhu cầu. Hình thức biểu diễn của đoàn bây giờ cũng đã thoáng hơn, phù hợp hơn với từng đối tượng, đôi khi chia thành tốp nhỏ, khách ít cũng được đáp ứng yêu cầu. Nhờ thế, tổng thu của đoàn tăng hẳn, đời sống diễn viên được cải thiện, có thu nhập ngoài lương.
Nghệ sĩ La Cẩm Vân miên man trong dòng suy tưởng của mình. Những năm tháng gắn bó với Đoàn, nghệ sĩ La Cẩm Vân đã dành tâm huyết cả cuộc đời mình để phục hồi lại nguyên bản - tuy vất vả nhưng đó là điều rất cần thiết phải làm - như phục trang, đạo cụ, ký âm lại phần nhạc, thu băng những điệu hát và thu hình lại các động tác múa, các điệu múa… trước khi những nhân chứng lịch sử là các nghệ nhân, các vị trong Hoàng tộc còn sót lại qua đời. Những gì còn lại hôm nay về múa hát cung đình Huế còn lưu lại trong các kỳ Festival Huế là có sự đóng góp không nhỏ của nghệ sĩ nhân dân La Cẩm Vân - một con người, một cuộc đời thầm lặng đã tận hiến cho nghệ thuật cung đình Huế. Chị như cánh chim bằng băng qua bão tố, chen đua với không gian, với thời gian để khôi phục, lưu giữ, phát triển những gì cha ông đã để lại một di sản to lớn về nghệ thuật Tuồng Huế, múa hát cung đình Huế.
Đêm đã dần khuya, vẫn trong căn phòng của nhà sáng tác trên cao nguyên, chị La Cẩm Vân chậm rãi kể cho tôi nghe về những kỷ niệm, những ngày tháng thăng trầm cùng với anh chị em trong nhà hát phục dựng những vở Tuồng cung đình, những lời ca điệu múa cung đình Huế; nhớ những lúc một thân một mình với chiếc xe đạp cọc cạch lặn lội từ trong Đại Nội ngược lên Kim Long, Linh Mụ, Văn Thánh để tham gia giảng dạy múa hát cung đình và nghệ thuật tuồng Huế cho các bạn trẻ ở trường Văn hóa Nghệ thuật Huế khi mưa gió bão bùng; những chuyến đi lưu diễn phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn trong tỉnh mà không lấy làm buồn. Dẫu có trải qua bao đoạn trường, cánh chim bằng ấy vẫn bay qua muôn trùng sóng bão để về với nhân dân, về với mảnh đất yêu thương mà chị được sinh ra, lớn lên và tận hiến.
T.N.T
(TCSH57SDB/06-2025)
Tải mã QRCode
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO (Đọc tập thơ ''Độc thoại trước mặt trời'' của Trần Lan Vinh- NXB Văn học Hà Nội- 2003)Trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại, sự thiếu vắng những cây bút nữ đã trở thành một vấn đề cần được chú trọng. Hầu như mỗi khi phụ nữ cầm bút, điều họ quan tâm nhất đó là sự giải bày tâm sự với ngàn ngàn nỗi niềm trắc ẩn. Nếu viết là một cách để sẻ chia tâm sự thì Trần Lan Vinh là một trường hợp như thế.
NGUYỄN THANH TÚMùa đông năm ngoái, anh Đoàn Tuấn từ Hà Nội vào Huế giảng dạy lớp đạo diễn điện ảnh. Dù công việc khá bận rộn nhưng anh vẫn dành cho tôi không ít thời gian tâm sự, bởi ngoài tình cảm thân thiết anh còn là cấp trên của tôi ở toà soạn tạp chí Thế Giới Điện Ảnh. Trong những lần trò chuyện ấy, tôi thật sự bất ngờ khi nghe anh kể chuyện về cuốn sách anh sắp in ở Nhà xuất bản Trẻ mà nội dung của nó là câu hỏi hơn 20 năm nay vẫn luôn canh cánh trong tôi. Vốn dĩ Đoàn Tuấn là nhà biên kịch điện ảnh tên tuổi, anh đã có nhiều kịch bản phim nổi tiếng như: Chiếc chìa khoá vàng (1998), Ngõ đàn bà (1992), Đường thư (2003)...
MAI VĂN HOANNguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một phong cách riêng. Qua các tập Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007) ta bắt gặp những suy ngẫm của anh đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm của anh về đời sống xã hội, nhân tình thế thái. Những chiêm nghiệm và suy ngẫm đó được thể hiện bằng một giọng thơ trầm tĩnh, bình dị, sâu lắng và khá hiện đại.
NGUYỄN QUANG HÀ (Đọc Nỗi niềm để ngỏ của Lê Lâm Ứng - Nhà xuất bản Văn học 2002)Đọc thơ Lê Lâm Ứng để tìm những câu mượt mà thì hơi khó. Thảng hoặc lắm mới bắt gặp ở anh tâm trạng thư thái này: Biết rằng trong cõi nhớ thương Lạc nhau âu cũng lẽ thường vậy thôi
MAI VĂN HOANNguyễn Đắc Xuân không chỉ có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam mà anh còn là hội viên Hội Lịch sử Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam... Nhưng dù ở cương vị nào thì điều mà anh tâm huyết nhất vẫn là lịch sử và văn hóa Huế.
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG (Nhân đọc sách "Gió về Tùng Môn Trang" của Nguyễn Xuân Dũng)Tác giả cuốn sách này là một võ sư đệ bát đẳng huyền đai thuộc phái không thủ đạo, vừa là một nhà hoạt động thương trường nổi tiếng ở Mỹ. Nhưng cuốn sách này không hề bàn đến chuyện đấm đá hơn kém hoặc là chuyện mua bán lời lỗ mà bàn về cái TÂM. Tác giả tỏ ra hết sức chú trọng vũ đạo; nhất cử nhất động đều phải xuất phát từ cái TÂM, cái TÂM viết hoa.
TRẦN THUỲ MAI (Đọc Uẩn khúc, tiểu thuyết của Hoàng Văn Bàng, NXB Thuận Hoá 2002)Câu chuyện xảy ra ở một vùng quê không xa lắm, với một tầm mức tai hại không lớn, gây một ảnh hưởng mới xem qua tưởng chừng không đáng kể. Một ông trưởng phòng ở huyện tham ô vài chục triệu thì đã thấm gì so với những câu chuyện động trời hàng ngày trên các báo, mà thủ phạm mang những chức tước lớn lao hơn, với những số tiền khổng lồ tới hàng nghìn tỉ!
MAI VĂN HOAN (Giới thiệu các tác giả thuộc chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế)Ngô Minh là một trong những nhà văn Việt Nam ở Huế được Đài truyền hình Cáp Việt Nam chọn giới thiệu tới 45 phút trong chương trình “Người của công chúng”. Tôi cũng được mời nói đôi lời về anh. Với tôi, Ngô Minh là người làm việc “tới số” và chơi cũng... “tới số”!
PHẠM XUÂN NGUYÊNCùng một kiếp bên trời lận đận (Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa cho ra mắt tác phẩm Rừng xưa xanh lá (Mười chân dung văn nghệ sĩ) tại Nhà xuất bản Hải Phòng (1/2003).
TÔ VĨNH HÀNhững trang viết sau cùng của một con người luôn luôn là điều thiêng liêng và không bao giờ hết bí ẩn. Vì sao lại dùng từ ấy chứ không phải là chữ kia; đề cập đến cái này chứ không phải là cái khác..? Rất nhiều câu hỏi sẽ đến với người đọc khi trước mắt ta là những ý tưởng hiện hữu sau cùng của một đời người - đặc biệt ở con người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là cái tên mà mỗi người Việt lúc đọc hay nói, không chỉ diễn đạt một quan niệm gần như vô hạn của nhận thức, mà hơn nhiều thế nữa - là âm sắc tuyệt vời của sự kết tụ những tinh hoa quý giá nhất của trái tim mình.
NGUYỄN TỐNGQuê hương đất nước và con người luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau trong suốt chiều dày của lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó tự nhiên chan hoà đến mức như cá bơi quẫy giữa đại dương, chim tung cánh vô tư giữa bầu trời bát ngát. Đến lúc nào đó, khi con người rơi vào cảnh cá chậu chim lồng, tình cảm, ý thức về đất nước thiêng liêng mới trở nên ám ảnh day dứt.
NGUYỄN KHẮC PHÊ (Đọc “Thân Trọng Một – con người huyền thoại” của Nguyễn Quang Hà)Đã từ lâu, tên tuổi anh hùng Thân Trọng Một trở nên thân quen với mọi người, nhất là với quân dân Thừa Thiên Huế; những “sự tích” về ông đã thành truyện “truyền kỳ” trong dân chúng và đã được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, với “THÂN TRỌNG MỘT – CON NGƯỜI HUYỀN THOẠI”, lần đầu tiên, chân dung và những chiến công của ông đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động nhất.
Nhà văn Nguyễn Quang Hà tâm sự với tôi rằng anh có hai món nợ rất lớn mà chắc đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng không thể nào trả xong. Hai món nợ mà anh đang gánh trên đôi vai của mình là món nợ đối với nhân dân và món nợ đối với đồng đội. Gần bốn mươi năm cầm bút, anh đã viết 9 tập tiểu thuyết; 7 tập truyện ngắn, ký, truyện ký; 2 tập thơ cùng với hàng trăm bài báo cũng chỉ mong sao trả được hai món nợ ấy.
XUÂN CANGNhờ cuốn hồi ký nhỏ Ngày ấy Trường Sơn (Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 2000) của Nguyễn Khoa Như Ý- tên khai sinh của Hà Khánh Linh, bạn đọc được biết đây là một nhà văn nữ có khí chất không bình thường. Một người con gái mảnh dẻ, nhưng có chí, mơ mộng, ham hành động, vì nghĩa lớn mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.
Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.
HUỲNH HẠ NGUYÊN (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...
LÊ MỸ Ý (L.M.Y): Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.
Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.
NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.
NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".