Cuối ngõ, một ngôi nhà nhỏ nằm quạnh vắng, chẳng mấy khi có bước chân qua. Bố tôi ngồi trên ghế trước hiên nhà bất động nhìn ra khoảng vườn thưa. Cả đời ông là những chuỗi năm tháng qua đi lặng im như vậy. Thế giới bên ngoài, mọi thứ của hiện tại đã thay đổi ra sao, chẳng thể nào chạm được đến người đàn ông lặng lẽ ấy.
Gần đến ngày giỗ của bà nội, mẹ tôi đã tất bật đi chợ chuẩn bị trong nhiều hôm liền. Mẹ nói giờ có tuổi rồi cũng hay quên. Vừa đi chợ về lại sực nhớ ra thứ nọ, thứ kia, nên ngày giỗ của bà, mẹ luôn chuẩn bị từ nhiều hôm trước. Hai cô tôi trên thành phố về, đặt lên bàn thờ chiếc phong bì, xong bữa cơm lại vội vã lên xe. Mẹ tôi chạy theo cầm chiếc phong bì dúi lại vào túi của hai cô, mắt rơm rớm nước. “Thi thoảng về với anh”. Hai cô quay lại nhìn căn nhà cũ, nhìn vào gian phòng đóng kín của bố tôi, vội bước ra đầu ngõ. Như thể chỉ cần bước thật nhanh là có thể để lại phía sau bầu không khí u uất, có thể rũ bỏ những canh cánh trong lòng. Các cô ít về cũng bởi chẳng thể nào thay đổi được điều gì. Về chỉ để nặng lòng thêm. Chiếc ô tô đậu ngoài ngõ nổ máy, phả lại làn hơi mỏng không màu, hoa bưởi trắng rụng đầy dưới cổng.
Khi trong nhà đã vãn người, bố tôi trong chiếc áo bộ đội cũ đứng trước bàn thờ. Trên đó là ảnh đen trắng của ông nội tôi mặc áo the đã nhòa mờ. Ảnh bà tôi, áo dài gấm màu gụ, đeo sợi dây ngọc trai, nụ cười hiền. Bên cạnh nữa, đặt thấp hơn là ảnh chú tôi, vẫn trẻ trung ở độ tuổi đôi mươi. Bố lặng nhìn những tấm ảnh, chẳng nói một lời, thắp thêm nén nhang rồi ra ngồi chiếc ghế ngoài hiên. Chỉ còn mẹ tôi cặm cụi lau dọn. Bóng chiều lan đến từ khóm vầu, trúc góc vườn. Mẹ tôi cũng dần quen với sự yên ắng ấy. Giống như thể nhà có ba người mà như là chỉ có hai.
*
Bố tôi ngày trở về từ chiến trường đã trở nên im lặng như vậy. Khi tôi còn rất nhỏ, một hôm thấy mẹ vui vẻ cầm chiếc lược màu trắng chải lên mái tóc hãy còn xanh. Mẹ cúi hôn má tôi cười: “Bố gửi về cho mẹ đấy”. Sau lần đó, còn những lần khác là vài món quà nho nhỏ như sợi dây chuyền tôi chẳng rõ làm từ chất liệu gì, chỉ thấy nó lóng lánh và có mặt đá đẹp mắt. Mẹ nâng niu chúng như báu vật. Quà bố gửi về cho bà nội là những miếng cau khô màu trắng nhạt hơi ngả vàng, hột khô cong lại nâu đỏ được gói cẩn thận trong một mảnh vải. Tất cả hình ảnh nhỏ nhoi đó là dáng dấp của bố trong ký ức tuổi thơ tôi. Bởi từ khi sinh tôi ra, bố đã đi bộ đội, tôi cũng không thường xuyên được gặp, nên chẳng nhớ được thời trẻ bố trông như thế nào. Mọi thứ trôi qua dần cùng tuổi xuân của mẹ tôi.
Ngày bố trở về, tôi chẳng thể nào tưởng tượng ra, đó là người đã từng viết những bức thư đầy vẻ lạc quan, kể về nhiều trận đánh mà ông trải qua. Chẳng thể nào liên tưởng con người trước mặt với lời lẽ nhớ nhung xa cách dành cho mẹ, hay lo lắng hỏi thăm trong những lần tôi lên sởi, bị sốt do quai bị, nằm li bì, mặt sưng lệch hẳn đi một bên. Tôi cũng chẳng thể nào nghĩ rằng, đó là người đã từng gửi các món quà nho nhỏ cho mẹ. Những thứ giản dị mà khiến đôi mắt mẹ tôi ngập ánh sáng long lanh và tràn đầy suốt bao ngày sau đó. Bố tôi trở về, gầy gò, ủ ê trong bộ quần áo bộ đội cũ bạc, chìm ngập trong sự im lặng. Vẻ lạnh lẽo chẳng lan ra từ ánh mắt hay lời nói, mà từ chuỗi ngày ông ngồi im lìm ngoài ghế trước hiên nhà. Ông ít nói, với ngay cả mẹ.
Tôi chỉ biết bố bị thương ở chiến trường. Ông đã nằm ở bệnh xá vài tháng trước khi được xuất ngũ trở về. Bà nội nói bố bị ảnh hưởng bởi thương tật. Chỉ là lời giải thích đơn giản như vậy, rồi bà quay đi, kéo từ trong túi áo chiếc khăn mùi xoa thoang thoảng mùi dầu gió, khẽ chấm lên mắt. Tôi ngơ ngác trước sự trở về của bố, tập quen với hình ảnh có thêm bố và chiếc ghế tựa kê trước hiên nhà. Làm quen với việc khi bóng tối bắt đầu tràn xuống từ ngọn tre, tôi sẽ theo lời mẹ ra mời bố vào ăn cơm. Bố chẳng nhìn, chỉ ậm ừ, rồi rời khỏi chiếc ghế chậm rãi, từ tốn. Tôi nghĩ, nếu chẳng gọi, có lẽ bố tôi vẫn sẽ cứ ngồi lặng im như vậy, hòa vào tĩnh lặng, tạc vào ráng chiều dần qua đi và bóng tối lan đến như một khối đá đen thẫm cạnh khung cửa gỗ.
Có lần, như sực tỉnh một cách lạ lùng, bố bảo: “Hoa cầm cặp sách ra cho bố xem”. Tôi chạy vào buồng, lôi chiếc cặp hồng, ngồi cạnh chân ghế của ông, mở những trang vở một cách vồn vã, hào hứng của một đứa trẻ lần đầu được bố kèm học. Tôi luyên thuyên về những bài được điểm cao, được thi vở sạch chữ đẹp. Bố chỉ cho tôi vài bài toán, chẳng nhớ lúc đó mình có hiểu không, tôi chỉ thấy bố rất giỏi. Sau đó, tôi có lén đi hỏi bà nội, khi còn đi học bố con có học giỏi không. Bà cười, bố học giỏi chứ, tuy chưa bằng chú Kha. Nhắc đến chú, bà quay đi nhìn ráng chiều trước mặt. Chẳng hiểu sao thời khắc chiều tối tràn từ trên đê xuống, len lỏi vào con ngõ, vào mảnh vườn nhà tôi lại mênh mang vắng và chênh chao đến vậy. Tôi biết bà lại sắp khóc nên lủi ra phía ngoài cổng. Tôi chưa hiểu nổi những giọt nước mắt và cả sự im lặng của mọi người trong nhà.
Sau lần sực tỉnh hỏi chuyện học hành của tôi khi ấy, bố lại chìm vào yên lặng, một thế giới của riêng ông mà chẳng một ai bước chân vào được. Tôi đứng sau ghế nhìn bóng lưng bố, thấy bờ vai rộng như hóa đá. Bố ngồi đó mà vẫn xa vắng như thể chẳng ở đây. Tôi đã quen với sự lạ thường ấy, nên cũng chẳng bao giờ hy vọng sẽ có một buổi chiều nào khác nữa, ông lại gọi và hỏi về bài vở của mình.
Mấy năm sau, khi tôi đang học đại học thì bà nội mất. Mẹ khóc nhiều. Các cô cũng khóc nhiều. Bố vẫn lặng im, khăn tang trắng chống gậy, đi chân đất đưa bà xuyên qua cánh đồng về nằm cạnh ông. Cạnh hai nấm mộ một cũ một mới, còn một khoảng đất trống nữa. Mẹ bảo, chỗ đó dành cho chú Kha, nhưng giờ bia và tên chú được đặt ở nghĩa trang liệt sĩ. Mà ở đó cũng chỉ là ngôi mộ trống thôi.
Sau đám tang bà nội, các cô quay về thành phố. Mẹ tôi cũng im lìm những ngày sau đó. Ngôi nhà trở nên thưa vắng và luẩn quẩn hơn với mẹ. Còn bố lại càng trở nên câm lặng. Sau này, tôi mới biết rằng, con người ta, có người khóc bằng nước mắt, nhưng có người khóc bằng suy tư. Nước mắt chảy ra có thể tự an ủi, làm dịu nỗi đau. Nhưng còn những dòng suy nghĩ dài dặc kia có thể xoa dịu không, hay chỉ khắc sâu, dằn thêm nỗi đau đớn xuống. Tôi đã nghĩ đến bố, bóng hình im bằn bặt như tảng đá nhòa vào bóng tối trước hiên nhà.
Cũng có khi, bố tôi rời khỏi nhà. Bố đi từ rất sớm. Việc bố ra khỏi nhà là một sự kiện rất lạ với tôi và cả xung quanh hàng xóm. Bố chẳng nói chẳng rằng, quần áo tươm tất ra khỏi ngõ, xuyên qua con đường nhỏ cạnh đầm sen nhanh nhẹn như ngày nào ông cũng đi như vậy, chẳng vấp váp, chẳng lúng túng. Bố tôi đi khoảng 3 ngày. Chỉ có mẹ là bình thản như đã biết trước được tất cả. Nghe mẹ nói bố vào Huế. Chú Kha của tôi đã hy sinh trong mặt trận Trị Thiên - Huế những năm 1975 ấy. Mẹ bảo, vào đúng ngày này của tháng ba, nếu không đi được, bố sẽ thắp hương trên bàn thờ, và mẹ sẽ bày giúp bố một chiếc bàn nhỏ cùng mấy món lễ chay, lọ hoa và vài ngọn nến ở góc vườn. Đó là ngày “giỗ trận”. Ngày những người lính của Trung đoàn đã hy sinh, cả chú Kha. Chỉ còn vài người có thể trở về, trong đó có bố tôi. Tôi đứng phía sau, nhìn bố già nua hơn trong làn khói nhang hiu hắt bay lên. Những cây nến lay động. Lọ hoa thược dược đủ màu. Có cả đĩa hoa bưởi trắng ngát thơm vừa hái ngoài vườn. Tất cả như một bức hình rõ ràng từng chi tiết dán chặt vào tâm trí tôi mỗi độ tháng ba về.
Những tháng ba sau này, không còn bố nữa, tôi và mẹ lại hái hoa bưởi, bày lễ ngoài vườn như vậy. Những ngọn nến được thắp lên, lung linh, huyền ảo giữa bầu trời tối thẫm. Ánh nến nhòa đi, khiến tôi nhớ về chuyến đi cuối cùng, duy nhất với bố.
Năm ấy, tôi đã tốt nghiệp đi làm, chuẩn bị lấy chồng. Ngày gia đình bạn trai sang gặp bố mẹ có lời dạm ngõ, mẹ tôi chần chừ nhìn tôi. Chẳng biết mẹ mừng hay lo. Bố sau một hồi im ắng thì tỏ ra quả quyết. Gia đình hai bên đã thuận, thì nhờ ông bà chọn ngày cho các cháu. Tôi chẳng rõ sao bố vội vàng như vậy. Tôi đã giận bố, mãi đến khi có chuyến đi sau này.
Một ngày của tháng ba, mưa phùn lây rây đủ để ra vườn thôi cũng ẩm ướt áo, bố bảo tôi chuẩn bị mấy hôm nữa đi vào thăm chú Kha. Tôi sững người ngạc nhiên vì lần đầu được bố rủ đi đâu đó. Mà lại là đi thăm mộ chú Kha, điều bố rất ít khi nhắc tới. Ai nhắc đến chú, bố im lặng, chỉ có ánh mắt như nặng trĩu thêm.
*
Tôi và bố lên chuyến tàu hỏa mấy ngày sau. Tàu chậm rãi qua những vùng đất hoang vắng, cánh đồng, thi thoảng ngang qua vài con phố sáng rực đèn và tấp nập. Tôi ngồi im nhìn khung cảnh trôi lướt qua tấm lưới chắn, chẳng làm phiền đến bố. Suốt chuyến đi, bố ngủ rất nhiều. Tôi kéo tấm chăn mỏng mang theo đắp qua vai ông, nghĩ bố mệt vì đường xa. Dạo này má bố hóp hơn, làn da cũng tái. Càng có tuổi, người ta càng già đi nhanh hơn, như thể mỗi ngày qua mỗi khác, như con tàu sẽ tới một sân ga, càng gần càng như thấy nhanh hơn vậy. Tôi lại chẳng đủ dự cảm để khắc sâu hơn khuôn mặt bố đang ngủ. Khuôn mặt tôi chẳng được biết đến nhiều suốt năm tháng đi chiến trường của ông.
Tàu đến ga Huế bố lảo đảo bước xuống. Từ đây đến Phong Điền chẳng còn xa. Lại một chuyến taxi nữa, lắc lư trên đoạn đường đất, đưa hai bố con tới khu nghĩa trang liệt sĩ. Huế những ngày này có mưa bay bay, không khí vẫn còn se lạnh. Hàng phi lao xa xa lay động trong sự yên tĩnh trang nghiêm. Đến cổng, bố xuống xe, đứng nghiêm ngắn hướng về phía cổng chào điều lệnh. Tôi thấy mắt bố tôi loang loáng trong một khoảnh khắc rất lạ. Hai bố con lầm lũi, im lặng đi bộ vào trong.
Bố ngồi bên ngôi mộ của chú Kha. Tấm bia rất đẹp, đầy đủ họ tên, năm sinh năm mất, nhưng dưới ngôi mộ ấy, chẳng có một phần nào của chú. Chỉ có một bộ quân phục cũ để vào. Bố ngồi một lúc rồi bắt đầu nói như thể thời gian qua, ông chẳng bao giờ im lặng. Bố kể những ngày tháng đóng quân xa xôi ấy. Chẳng rõ bố đang nói với tôi, với chính mình hay đang chuyện trò với bao đồng đội nằm xung quanh. Tôi phóng tầm mắt nhìn, những ngôi mộ nằm san sát, vài dòng tên tuổi ngắn gọn, quê quán... Ở đó, có rất nhiều ngôi mộ trống giống như mộ chú Kha. Tôi không rõ cảm xúc của mình lúc đó như thế nào, là sự rợn ngợp trước những điều vĩ đại, thiêng liêng và cao đẹp của bao con người nằm đó. Chợt thấy mình nhỏ bé quá. Làn gió nhẹ như ru, lời bố cũng nhẹ như gió thoảng.
Quảng Trị cuối năm 1972, chiến sự căng thẳng và ác liệt. Trên dòng sông Thạch Hãn, bộ đội đóng quân đón những túi hàng thả nổi trên sông. Trong đó là lương thực, mì, gạo, của đồng bào đầu nguồn thả xuống tiếp tế cho bộ đội. Chẳng có nồi niêu xoong chảo, chẳng nấu nướng, bố và đồng đội trộn mì, gạo sống với nước sông vào túi ni lon. Mì, gạo sống trương lên thì có thể ăn được. Đêm hầm tràn đầy nước, chẳng thể ngủ nằm. Cơn mệt mỏi và thiếu ngủ kéo đến khiến những người chiến sĩ có thể đứng mà vẫn ngủ ngon lành. Ngủ để lại sức tiếp tục cuộc chiến hãy còn đầy hiểm nguy rình rập. Ngủ lịm đi, người nọ tựa vào người kia, sự mệt mỏi đan cuốn vào nhau. Một đồng đội người Hà Nam, khi tựa vào bố chuẩn bị chìm vào giấc ngủ, thì thào trong mệt mỏi: “Nếu khi ngủ mà chết, có khi lại là sung sướng nhất đời, cứ vậy chẳng dậy nữa.” Rồi anh thở dài: “Nhưng vẫn phải thức dậy đúng không cậu, cuộc chiến còn dài mà, chết dễ dàng thế sao được”. Trong khoảnh khắc nhắc đến sự sống và cái chết, những lúc thoát khỏi cửa tử trong gang tấc, bố nghĩ đến ngày trở về. Liệu có ngày về không. Khi có thời gian, bố lại viết thư về nhà. Những lá thư tràn ngập niềm tin để người ở hậu phương có thể yên lòng. Ngày hôm sau, bố và người đồng đội ấy cùng bơi qua sông. Gùi ba lô vũ khí, mấy khẩu B40, B41 trên lưng. Pháo sáng của địch xé toạc màn đêm mù mịt. Gần bơi sang được bờ bên kia thì người đồng đội ấy trúng đạn chìm xuống phía sau. Bố quay lại, thấy máu đỏ loang ra, hòa lẫn vào cột nước màu trắng đục. Người đồng đội đã mãi mãi ngủ lại dưới lòng dòng sông Thạch Hãn. Bố nghèn nghẹn ngừng lại trong phút chốc.
Vẫn bên dòng Thạch Hãn ấy, một lần, bố đã gặp được chú Kha khi đơn vị chú được tăng cường vào. Cuộc gặp ngắn ngủi, mừng tủi chỉ biết xiết chặt vai nhau.
Bố hơn chú Kha 10 tuổi. Ngày còn nhỏ, nhà thiếu ăn, phải độn ngô sắn. Bố mẹ đi làm đồng, chỉ có bố ở nhà trông các em. Chú Kha ốm yếu, khẳng khiu, sáu bảy tuổi nhưng trông như đứa trẻ lên bốn, rất ngoan lúc nào cũng bám theo anh, chẳng khi nào quậy phá hay mè nheo. Khi bố đi bắt ốc, bắt tép ngoài sông, chú cầm rổ đứng trên bờ đợi. Có lần lâu không thấy anh lên, chú đứng trên bờ khóc tức tưởi. Bố ngoi lên thấy em trai cởi truồng, tấm áo rách tơi ôm rổ gọi anh, nước mắt nước mũi hòa làm một, bất giác thấy xót xa trong lòng. Bữa cơm độn chia đều, chú Kha ngồi cạnh, xúc từ bát mình sang cho anh. Chú bảo còn nhỏ, chẳng cần ăn nhiều. Anh còn phải làm việc nặng, cần no bụng hơn. Bố xoa đầu chú, một đứa bé hiểu chuyện ngay từ khi còn nhỏ. Cuộc sống khốn khó cứ thế mà vực nhau lên. Ông nội bệnh mất sớm. Mấy anh em thương mẹ càng ngoan ngoãn học giỏi. Bố nói chú Kha học rất khá, ước mơ làm bác sĩ của chú còn dở dang thì cả hai anh em gác giấy bút vào chiến trường miền Nam.
Cuộc gặp hôm ấy, bố và chú ngồi bên dòng Thạch Hãn um tùm cỏ gianh và những bụi mần trầu, nhìn dòng nước lặng lờ trôi. Chú bảo bố, trong hai anh em nhất định phải có một người trở về. Mắt chú lóng lánh niềm tin. Có lẽ lúc ấy, chú nhớ đến bà nội ở quê nhà. Cùng động viên nhau, dù rằng chẳng ai biết trước được ngày mai. Bố và chú chia tay nhau trong vội vã, tiếng bom đạn vẫn rền phía xa cùng những cột khói đen bốc lên ngùn ngụt góc trời mờ đục. Trước khi rời đi, chú Kha cố nhét vào ba lô bố phong lương khô, giống như ngày chú sẻ bát cơm độn của mình cho anh trai. Đi một đoạn, chú ngoảnh lại cười rất tươi, vẫy tay chào. Đó là khoảnh khắc cuối cùng bố nhìn thấy chú. Chú Kha hy sinh trong chiến dịch giải phóng Huế. Đơn vị của bố chiến đấu ở cao điểm 560 xuôi xuống Phú Bài, Mang Cá, nhưng chẳng có cơ may gặp lại chú. Chú Kha hy sinh khi đang chốt giữ bến đò Chợ Dinh. Đồng đội chẳng thể tìm thấy xác. Trận chiến ấy, chú đã chiến đấu kiên cường đến phút cuối, làm gián đoạn lưu thông của địch để đồng đội tiến sâu, làm chủ các cao điểm. Sau ngày Huế giải phóng, bố đã lặn lội dọc bến đò. Tan hoang, mờ mịt, bờ sông bị cày xới. Bố vừa lội nước vừa gọi “Kha ơi, Kha ơi...”. Chẳng có một lời đáp lại. Phía trước là khoảng tối mênh mông. Chỉ còn chờn vờn trong trí nhớ của bố, hình ảnh thằng bé gầy gò, tấm áo rách đứng trên bờ khản cổ gọi tên anh. Sóng nước mênh mang, bố đơn độc quay trở về, trong lòng chỉ toàn là bóng tối của khúc sông.
Những năm sau đó, đất nước giải phóng. Bà nội mất nhiều năm để nguôi đi nỗi đau, nhưng vẫn canh cánh trong lòng nỗi mong mỏi tìm thấy chú. Bố không từ bỏ, đã tìm cách liên lạc với đồng đội của chú năm ấy, mong tìm được một manh mối. Bố nhiều lần quay lại chiến trường Trị Thiên - Huế. Mỗi lần trở về, vai bố chùng xuống thêm một chút. Năm 1979, bố tái ngũ và bị thương ở chiến trường Campuchia. Sau ngày ấy, bố không nhắc về chú Kha nữa. Bà nội tôi cũng vậy. Bà tôi khóc cạn nước mắt. Còn bố tôi cạn những dòng suy nghĩ và sự im lặng dài dằng dặc.
Sau những lời tâm sự ấy, bố tôi ngồi lặng đi, trống rỗng. Bố đặt tay lên dòng tên chú trên bia mộ, chậm rãi đứng dậy. “Đi về thôi”. Tôi đã nghĩ bố nói với tôi, nhưng sau này khi nhớ lại, tôi nhận ra bố đã nói với chú Kha. Trước khi rời nghĩa trang, bố quay lại lần nữa, nhìn khoảng mây mờ đục phía trên, nhìn rất lâu rồi quay bước đi một mạch.
*
Ngày vui của tôi được tổ chức sau đó vài tháng. Tôi trong chiếc váy trắng, vui vẻ tiếp khách khứa, bạn bè. Con ngõ nhỏ chẳng khi nào nhộn nhịp đến thế. Ráng chiều chỉ ngấp nghé phía chân đê. Trong tấm ảnh cưới chụp cả gia đình, bố đứng cạnh mẹ và vợ chồng tôi. Mỗi khi nhìn lại tấm ảnh treo ở phòng khách, tôi đau đớn biết rằng bố đã cố cầm cự đến ngày tôi đi lấy chồng. Trong khuôn ảnh ấy, bố gầy đi trông thấy, ánh mắt lơ đãng, xa xăm như ông vẫn thường thế. Nửa tháng sau ngày tôi về nhà chồng, bố tôi mất. Bố đi cũng đột ngột với tôi như ngày ông trở về. Đó là một ngày hẫng hụt, chênh chao. Tôi trở về con ngõ, chiếc ghế ngoài hiên bỏ không, gian phòng bố rủ rèm kín. Tôi vội vào trong và sững lại, bố nằm như đang ngủ, hai tay xếp nghiêm ngắn trên ngực. Tôi vẫn như đứa trẻ, mở tròn to đôi mắt đứng ngoài thế giới lặng im của bố. Chẳng dám gọi lên một tiếng “Bố ơi” chỉ để bố quay đầu nhìn lại. Suốt những tháng qua bố tôi bị bệnh nhưng giấu mọi người trong nhà. Cho đến tối của ngày hôm trước, ông vẫn ra ngồi chiếc ghế ngoài hiên như thường lệ. Sáng hôm sau, bố tôi không dậy nữa. Người lính ấy đã ra đi lặng lẽ, mang theo tất cả những hoài niệm đi về một thế giới xa xôi. Nơi ấy, ngập tràn ký ức chiến trường, những khoảnh khắc chiến đấu oanh liệt cùng đồng đội trong nhiều bức thư gửi về của bố. Nơi ấy, có cả chú Kha.
Mẹ tôi không chịu rời xa ngôi nhà cũ, vẫn ở đó hương khói cho ông bà, bố và chú Kha tôi. Mẹ cũng nhất quyết giữ nguyên chiếc ghế tựa của bố tôi hay ngồi trước hiên nhà, đặt ở vị trí đó. Mẹ bảo, bố vẫn ngồi đó thôi. Ông luôn im lặng như thế, mặc mẹ tôi dậy đun nước, quét dọn, ra vườn, rồi lại quay vào thổi cơm. Chỉ đến khi bóng tối tràn về, mẹ đứng phía sau ghế, chẳng còn thấy bóng bố chậm rãi đứng dậy vào nhà ăn cơm như thường lệ. Bà bảo, dù thế nào, chỉ cần ở trong ngôi nhà này, bà vẫn mãi như còn nhìn thấy bố.
Tháng ba đến, mưa bụi lây phây, tôi lại về con ngõ nhỏ hái những bông hoa bưởi trắng. Mẹ bày bàn gỗ ra góc vườn. Nến thắp lên, ánh sáng chập chờn lay động. Bóng bố tôi như vẫn ngồi trên ghế dưới mái hiên, lặng im, ánh mắt ngập những suy nghĩ đang nhìn ra khoảng vườn thưa.
K.M.L
(TCSH437/07-2025)
Tải mã QRCode
QUỐC THÀNH - Xin người hoàn lại xiêm y cho ta - một thiếu nữ ngâm mình trong làn nước thơm khẩn khoản. - Mộng ba năm, bây giờ mới có, ta chỉ muốn nàng hứa một lời là được - chàng trai trẻ quay lưng về phía mặt hồ vòi vĩnh.
NGUYỄN THẾ TƯỜNG Sáng nay, ông Tổng biên tập gọi tôi tới bảo đi ngay dự lễ khánh thành một chiếc cầu. Tôi loáng quáng xách máy chạy ra xe, không kịp cả dặn vợ cắt cơm trưa.
L.T.S: Trần Duy Phiên, người thôn Thanh Thủy Chánh, huyện Hương Điền, Bình Trị Thiên, là một trong những cây bút truyện ngắn chủ chốt của chóm “Việt” - nhóm sáng tác trẻ trong phong trào đấu tranh chống Mỹ - ngụy xuất phát ở Huế trước đây.
DƯƠNG PHƯỚC THUNgôi nhà lợp phi-brô xi-măng rộng chừng ba chục thước vuông, nằm sát cổng ra vào xí nghiệp dệt, biệt lập ngoài khu sản xuất, núp dưới tán lá cây bàng, được xây từ ngày xí nghiệp xảy ra các vụ mất cắp vật tư.
LÊ CÔNG DOANHChuyến đò dừng lại ở bến cuối cùng khi mặt trời vừa khuất sau rặng tre bên kia sông. Hiếu nhảy lên bờ và bước đi trong cảm giác chòng chành bởi gần trọn một ngày phải ngồi bó chân trong khoang đò chật.
L.T.S: Tác giả Hoàng Nguyệt Xứ tên thật là Hoàng Trọng Định, từng in truyện và thơ trên Sông Hương và nhiều tạp chí văn nghệ khác. Tác phẩm của anh để lại dấu ấn trong dòng chảy văn học của Huế với những truyện ngắn đậm tính triết lý, văn phong ám gợi sâu xa.Truyện dưới đây được Sông Hương dàn trang lúc anh còn sống... trân trọng gửi tới bạn đọc; cũng là nén tâm nhang xin chia buồn cùng người thân của anh.
TRẦN THÙY MAINếu cuộc đời được hình dung như một con đường thỉnh thoảng lại băng qua ngã tư, ngã ba hay rẽ ngoặt thì trong đời tôi có hai khúc quanh lớn nhất.
THÙY ANHồi nhỏ, tôi có cái tật làm nớt. Hở một chút là nước mắt tuôn ra giọt ngắn giọt dài. Anh chị xúm lại chọc: “Lêu lêu, mu khóc móc kh… ruồi bu kiến đậu…”, nhưng mẹ thì không, chỉ an ủi dỗ dành.
TRẦN HỮU LỤCKhi từ biệt làng nổi trên sông, ông Ngự tưởng mình quên được chiếc bóng vật vờ trên sông nước, quên bốn mươi năm gắn bó với những vạn đò. Ông Ngự chỉ mang theo đứa con gái duy nhất và cái máy bơm nước hiệu Yama của Nhật Bản đến vùng đất mới.
NGUYỄN QUANG LẬPQuá nửa đời người anh chị mới gặp nhau. Âu đó cũng là chuyện thường tình. Sau hai mươi mốt phát đại bác vang trời báo tin ngày toàn thắng, có hàng ngàn cặp vợ chồng cách biệt hàng chục năm đã tìm lại nhau.
Câu đối vô danh
PHẠM NGỌC TÚYMột buổi chiều như bao buổi chiều khác, Kim ngồi ở bàn giấy với trang viết đang chi chít chữ. Tiếng chuông điện thoại kêu vang dòn dã vào một thời điểm không thích hợp; thầm mong người nào gọi lộn máy Kim uể oải nhấc ống nghe lên.
BẠCH LÊ QUANG(Người đàn bà gối giấc ngủ trên cánh tay của biển - Thơ LHL)
NGUYỄN XUÂN HOÀNGLão Hinh lồng lộng như một con chó già bị mắc bẫy. “Mày cút khỏi nhà tau. Nhà tau không chứa chấp đứa con gái hư hỏng như mày…”. Miệng chửi, tiện tay lão vứt túi xách của Hằng ra đường. Chiếc túi nhỏ đã sứt quai, màu bạc thếch rơi tọt xuống miệng cống.
MAI SƠNRa khỏi cổng cơ quan quân sự tỉnh, ông Năm gần như muốn la lên - niềm sung sướng vỡ òa trong lòng ông, hiện thành đường nét trên mặt mũi. Dù biết có người lính cảnh vệ đang đứng nghiêm nhìn theo, ông không ngăn được, vẫn bật lên tiếng cười “khà, khà”…
HOÀNG GIÁBên kia sông, làng Mả-Mang, có cụ già trăm tuổi quy tiên, Thầy Khâu-đà-la chèo con thuyền nhỏ vượt dòng sông Dâu sang làm lễ.
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC1.Hiu hiu gió thổi qua quán nhậu vỉa hè một xế trưa năm ba người tranh thủ chút thì giờ ngồi tán chuyện chỉ đủ phơ phất mấy tờ giấy lau đũa dùng xong được quẳng xuống nằm lớt thớt dưới đất.
NGUYÊN QUÂNQuyết thận trọng len qua khoảng vườn, đêm tối mịt mùng, không gợn chút ánh trăng sao, anh đi lần bước theo ký ức, cố gắng tránh gây tiếng động. Những cái lá khô giòn, nhành cây mục vương vãi làm anh bực mình chửi thầm “Mẹ nó, biết thế này hồi chiều chịu khó quét dọn chừ đỡ khổ”.
NGUYỄN ĐẶNG MỪNG Để tưởng nhớ nhà thơ Hoàng Cầm
PHAN THỊ THU QUỲVợ chồng Bình và Lựu đang sống ở Kim Long một làng ven sông Hương thơ mộng, nổi tiếng có quán ăn ngon, khách lui tới tấp nập. Cả hai người lòng buồn tê tái khi Bình có lệnh đổi vô Tây Nguyên. Tốt nghiệp đại học Luật xong Bình bị chính quyền cũ bắt vô lính, chạy mãi được làm lính văn phòng tại quê, nay phải đi xa thật lo lắng, buồn nản. Mai Bình phải lên đường cấp tốc. Ôi! Rủi ro, khác gì một hoạn nạn đến.