Nguyễn Đăng Khoa và những suy tưởng nghịch chiều

10:01 08/04/2025
Trình làng một tập thơ vào thời điểm đương đại luôn tiềm chứa nhiều nguy cơ, và người viết hẳn nhiên phải luôn là một kẻ dấn thân dũng cảm. Nhiều năm qua, phải thú thực là tôi đọc không nhiều thơ, dù bản thân có làm thơ và nhiều người vẫn gọi tôi như một nhà thơ đích thực.

Thơ trong đời sống văn học nước nhà có thể nói đang là một “di sản bị mất giá”, hay một món đồ bị lạm phát liên tục, khiến những chân giá trị bị mai một, bên cạnh sự bùng nổ của số lượng nhà thơ thiếu cá tính, ít tài năng song lại thừa điều kiện để tìm kiếm sự lăng xê hay kể cả những “phe nhóm” phê bình “khen ảo”, phần lớn ta sẽ gặp đâu đó trên mạng xã hội. Trong một bối cảnh rối ren, hỗn loạn như thế của đời sống thi ca nói riêng và đời sống văn học nói chung, Nguyễn Đăng Khoa với tôi vẫn như một thanh âm lạ, một đốm sáng le lói hiếm hoi giữa đêm tối như dấu vết của một con đom đóm nhỏ lặng thầm giữa màn đêm. Nguyễn Đăng Khoa sớm khẳng định được tài năng qua một vài giải thưởng thơ ca cũng như nhiều tác phẩm được phổ biến trên các báo giấy, báo mạng. Thơ của Nguyễn Đăng Khoa biết cách tạo riêng cho mình một dấu ấn, một cá tính, một chiều sâu về nhận thức thực tại lẫn tâm hồn. Ví dụ: “Tĩnh lặng đo đạc độ sai của hạnh phúc - Tạm niêm yết giá cơn vui này” (Tĩnh lặng). Tôi hiếm khi đọc thơ, lại càng ít khi nào khen ngợi thơ ai, song có thể nói một cách khiêm tốn rằng, tôi thích thơ Nguyễn Đăng Khoa, từ cách anh xây dựng triết lý lẫn hình thành cấu tứ và kiến tạo nên hình tượng thơ. Dù không bao giờ làm dáng, cố làm ra mình khác lạ, song thơ Nguyễn Đăng Khoa luôn làm tôi ngạc nhiên, sửng sốt, và cuối cùng là sự đồng cảm lẫn vỡ vạc ra một thức nhận mới mẻ nào đó về con người và cuộc đời:

“Sống là để đào thoát khỏi cái bóng
Một cách phiên dịch khác đời mình (…)
Có khi anh thay lễ phục long trọng
Nghiêm trang chờ tiếp đón nỗi buồn (…)
Có khi nào người bưu tá lạ
Chuyển đến em ký ức chúng ta (…)”
                                   
(Bưu phẩm)

Những đoạn thơ đầy ẩn dụ, liên tưởng, hoán dụ mới lạ, đầy chất triết lý, suy tư về thời gian, tình yêu và tồn tại như vậy bạn đọc dễ dàng tìm thấy ở mọi thi phẩm của Nguyễn Đăng Khoa. Tập thơ anh mới trình làng Tặng vật từ tĩnh lặng [Nxb. Văn học, năm 2025] cũng không là ngoại lệ.

Phải nói rằng, là một người dõi theo khá sát những động hướng sáng tạo của Nguyễn Đăng Khoa trong vài năm gần đây, từ tập thơ đầu tay của anh với tựa đề Con đường tự trôi (Nxb. Văn học, Hà Nội, năm 2015) vinh dự đạt giải Nhì (không có giải Nhất) Cuộc thi thơ “Tác phẩm đầu tay” của Du Tử Lê Foundation tổ chức năm 2014, có thể khẳng định rằng Nguyễn Đăng Khoa có sở trường trong thơ lục bát. Ở lục bát, những suy nghiệm, triết lý lẫn hệ thống hình tượng thơ của Nguyễn Đăng Khoa được biểu đạt trọn vẹn, sâu sắc nhất. Thể thơ rất truyền thống, song tư duy thơ ca của Nguyễn Đăng Khoa lại rất mới mẻ, hoàn toàn mang dấu ấn của tư duy nghệ thuật hậu hiện đại. Nhìn nhận như vậy để thấy, tập thơ mới xuất bản Tặng vật từ tĩnh lặng là một nỗ lực làm mới mình, di chuyển ra những vùng không an toàn, thử thách bản thân trong những thể thơ mới mẻ hơn lục bát. Bạn đọc khi tiếp nhận thi phẩm Tặng vật từ tĩnh lặng sẽ vẫn bắt gặp một chân dung thơ, phong cách thơ Nguyễn Đăng Khoa quen thuộc trong một vài thi phẩm lục bát rất hay, ví dụ:

“Có lần tôi với thời gian
Cãi nhau về việc tôi đang phải già
Hôm đó, dưới mặt trời nhòa
Tôi không có khóc, chỉ tà dương thôi (…)
Có lần tôi với sông sâu
Cùng cạn ở cuối dòng châu mắt buồn”
                                               
(Có lần)

Hay một ví dụ khác:

“Thuê một xạ thủ cao cường
Ám sát lập tức nỗi buồn trong anh
Đặc điểm: nỗi buồn da xanh
Tham lam, nóng nảy, tinh ranh, rất già (…)
Tin về một buổi đông xanh
Xạ thủ ám sát bất thành
- Tại sao
- Nỗi buồn đẹp
- Đẹp thế nào
- Đến mức không biết làm sao bóp cò”

                                    (Chat với xạ thủ)

Những thi phẩm thú vị này tôi rất thích, thậm chí thuộc lòng, song xét trên phương diện tư duy và tiến trình phát triển của thi ca Nguyễn Đăng Khoa, thì quả nhiên nó không hề có gì mới mẻ. Ngay trong tập thơ đầu tay Con đường tự trôi, tác giả Nguyễn Đăng Khoa đã sớm xác lập cho mình một phong cách thơ lục bát đầy mới mẻ, thú vị và bông đùa cay đắng như vậy. Thơ lục bát Nguyễn Đăng Khoa đầy hơi thở đương đại, anh luôn nỗ lực soi chiếu hiện thực từ một góc nhìn của cái khác. Nguyễn Đăng Khoa có một năng lực đặc biệt trong thơ (lục bát), đó là khả năng liên tưởng, ẩn dụ, hoán dụ mạnh mẽ những phạm trù tưởng chừng như tách biệt, không có mối liên hệ nào với nhau. Anh là nhà thơ có khả năng cắt nghĩa những vấn đề muôn thuở của tồn sinh kiếp người như ý niệm thời gian, truy tầm bản thể, bản chất tình yêu, hoài nhớ quá khứ… dưới hệ thống hình tượng mới mẻ, bất tương xứng, bất tương hợp như: ngôn ngữ mạng, hệ thống thuật ngữ điện ảnh, kinh tế, mạng internet, thể thao, hình sự, trinh thám… “Giống như cầm lưỡi của dao - Bốc thăm xem giọt máu nào sẽ rơi… - Những dòng sông chảy vì nhau - Cứ cho rằng chúng không đau và buồn” [Những phỏng đoán nhỏ trong một thành phố]. Tuy nhiên, điểm tôi muốn nhấn mạnh với bạn đọc đó là, tập thơ mới ấn hành Tặng vật từ tĩnh lặng không còn thuần túy là tập thơ lục bát như Con đường tự trôi. Thậm chí, bạn đọc đam mê với thơ lục bát Nguyễn Đăng Khoa sẽ sớm thất vọng, bởi mặc dù điểm xuyết đôi bài lục bát theo phong cách truyền thống, thì có thể nói Tặng vật từ tĩnh lặng là một tập thơ tự do đúng nghĩa.

Tôi đánh giá cao ý thức làm mới mình của Nguyễn Đăng Khoa trên hành trình sáng tạo. Anh hoàn toàn có thể ngủ quên trong những thành tựu cũ, bằng cách tiếp tục xuất bản thêm một tập thơ lục bát nữa, song nếu vậy, Nguyễn Đăng Khoa sẽ chỉ biết đi vòng tròn trong hành trình sáng tạo thi ca. Nói như vậy để thấy, với tập thơ mới mẻ Tặng vật từ tĩnh lặng, Nguyễn Đăng Khoa đã chấp nhận thể nghiệm, chấp nhận thử sai với một thể thơ mới mẻ, song hiện đại hơn nhiều so với thơ lục bát: thể thơ tự do. Tôi vẫn cho rằng, đó là một dấn thân đúng đắn và xứng đáng, dù có thể anh không đạt ngay những thành công hay tiếng vang mà thể thơ cũ (lục bát) đã đạt được. Bởi dẫu có nỗ lực cách tân ra sao, thì lục bát vẫn quá quen thuộc, dù dễ đi vào lòng người, dễ dàng tiếp nhận bởi sự quen thuộc, nhưng lục bát bị đóng đinh trong một khuôn khổ câu 6 và câu 8 không thể nào phá bỏ.

Thơ tự do thì gian nan hơn trong sáng tạo, buộc Nguyễn Đăng Khoa phải mạnh dạn vất bỏ tuyệt chiêu vần vè quen thuộc, anh không còn nhạc tính để nương vào trong sáng tạo thi ca như ngày trước. Thơ tự do buộc người làm thơ lý tính hơn, thi sĩ phải thực sự nhấn mạnh vào tính triết lý, tứ thơ và tư tưởng. Thơ tự do cũng rõ ràng khó đọc, khó thuộc, khó nhớ hơn rất nhiều nếu như so với thơ lục bát. Song dẫu thế nào đi chăng nữa, tôi vẫn đánh giá Nguyễn Đăng Khoa đã có một lựa chọn đúng đắn khi dấn thân vào thể thơ tự do trong thi phẩm Tặng vật từ tĩnh lặng. Bởi tôi tin rằng, Nguyễn Đăng Khoa là nhà thơ có tư tưởng, có khả năng tìm ra chiều sâu triết lý từ những tồn tại nhỏ nhặt nhất trong đời sống thường nhật của những cá nhân bé mọn. Hành trình tất yếu trong con đường sáng tạo của mỗi thi sĩ tôi tin rằng luôn là hành trình từ chỗ tập gieo vần cho đến chỗ phá bỏ và bất chấp vần điệu. Từ kinh nghiệm sáng tạo cá nhân, đó có thể xem là quá trình từ chỗ triết lý trong vần điệu đi đến chỗ triết lý ngoài vần điệu. Ở những bài thơ tự do, thậm chí nhiều chỗ là thơ văn xuôi không có vần điệu, thi phẩm Tặng vật từ tĩnh lặng của Nguyễn Đăng Khoa vẫn trình hiện cho chúng ta những câu thơ hay, những so sánh, liên tưởng, ẩn dụ bất ngờ, những triết lý bề sâu đáng trăn trở và chú ý:

“Anh có thời gian thêu lên tóc mỗi ngày
Anh có những chấn thương làm con tin
Một mùi hương cam đoan quay trở lại
Anh có nắng tương lai treo lên mây
Anh giữ chìa khóa của một ngày quên lãng”
                                               
(Gia sản)

“Giá mà tiệm bánh xưa còn mở cơ thể
Để anh được nếm ngọt ngào của chúng ta
Một lần nữa
Giá mà bàn tay anh chưa từng vuốt giọt nước mắt em
Lạnh như là tương lai
Giá mà hoàng hôn ngày ấy
Chưa từng vỡ tan một lần nào”
                       
(Ngày ấy là một cơn mưa)

Có thể là cảm nhận chủ quan (dẫu mọi cảm nhận thi ca đều mang tính chủ quan), song tôi vẫn cho rằng, thơ Nguyễn Đăng Khoa trong Tặng vật từ tĩnh lặng chín chắn hơn, tính triết lý sâu, bởi nỗi đau được chưng cất cẩn thận hơn như một mẻ rượu ngon qua thời gian ủ chượp. Anh không còn sự tuôn trào xối chảy của cảm xúc như trong thơ lục bát, mà đã có một sự gián cách về thời gian khiến nỗi đau êm dịu đi, song cũng là vì thế, mà trở nên khắc khoải, bất khả giải:

“Rất nhiều lần trong thế kỷ này
Người ta đã bắt nhốt những mùi thơ của ký ức
Người ta đã sa thải những tàn tro của nụ cười thuần khiết
Người ta đã chào bán những quán cà phê

Những quán cà phê hung ác từ kỷ niệm”
                                                (Mênh mông)

Nếu như trong tập thơ đầu tay Nguyễn Đăng Khoa gần như chỉ quanh quẩn trong phạm vi của nỗi đau (hoặc hạnh phúc, kỷ niệm) về tình yêu, thì bạn đọc có thể thấy rõ ràng trong thi phẩm mới xuất bản Tặng vật từ tĩnh lặng, tác giả đã mở rộng trường quan tâm, phản ánh ra những vấn đề của xã hội, của thời sự thế giới. Dưới góc nhìn đời tư thế sự, thơ Nguyễn Đăng Khoa dần gắn bó với những vấn đề quan thiết của con người đương đại, hơn là những nỗi buồn và kỷ niệm tình yêu cá nhân. Những suy tư về hiện tồn, về bản thể, về thời gian, về ký ức… có thể nói đã nâng tầm thơ Nguyễn Đăng Khoa lên một trình độ mới.

“Ngày xưa ở nhà ngày mai
Mặt trăng ở với một, hai mặt trời
Gần gũi ở ghép xa xôi
Tôi ở lại chỗ không tôi làm gì
Một nỗi buồn bé tí ti
Không còn hộ khẩu đang đi giữa trời”
                                               
(Tạm trú)

“Cuối năm người về không người đón
Sân ga con tàu đi, vẫn đi
Có khi vô cảm là hạnh phúc
Như một người không hiểu chia ly”
                       
(Tiêu khúc cho ngày cuối năm)

Nỗi buồn tình yêu cá nhân/đôi lứa vẫn bàng bạc trong mọi tác phẩm thi ca của thi sĩ Đăng Khoa, song nó không còn là trung tâm của mọi cội nguồn sáng tạo ở tập thơ Tặng vật từ tĩnh lặng. Nguyễn Đăng Khoa cho thấy, viết là một sự trưởng thành, nhằm vượt qua chính mình lẫn vượt thoát vết thương tình ái. Thi ca trong tình huống này, là một sự chữa lành hiệu nghiệm. Nhưng khốn thay, từ chỗ đau tình, thi sĩ đa mang lại chuyển qua những nỗi đau đời, đau thế sự: “Muốn thử xuống trần gian chơi - Coi triệu vở kịch không lời không vui - Muốn coi tuồng cải lương mùi - Theo câu vọng cổ ngùi ngùi bay lên” (Một chuyến xe mưa); “Anh dắt ước mơ - Đi mua bảo hiểm - Anh bán thanh lý - Kiếm và súng trường - Anh xây thành quách - Cho mội mùi hương - Hủy hẹn cơn stress - Hủy hẹn mùa đông - Order kẻ ác - Một suất lòng lành” (Ngày nghỉ). Chỉ với hai ví dụ trên, có lẽ bạn đọc cũng phần nào nhận ra những vấn đề đương đại rất thời sự hiện nay. Nguyễn Đăng Khoa luôn phát huy được năng lực liên hệ, liên tưởng bất tương xứng đầy bất ngờ giữa những trạng huống tinh thần, cung bậc cảm xúc cá nhân với hệ thống hình tượng thiên nhiên, chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế, tôn giáo… Chính điều này làm nên phong cách và giá trị nghệ thuật của thơ Nguyễn Đăng Khoa. Có thể nói, năng lực liên tưởng, liên hệ ấy chính là “con mắt thơ” của thi sĩ Nguyễn Đăng Khoa. Anh không cao đàm khoát luận trong thơ, cũng không hướng sáng tạo thơ ca của mình theo những lối vô tăm tích, kén người đọc. Xin đơn cử một số ví dụ tiêu biểu trong thi phẩm Tặng vật từ tĩnh lặng có lối tư duy đặc thù/ biệt này:

“Đóng gói những giọt mưa
Thành container lớn
Gửi đi đâu cũng được
Để địa cầu thôi khóc”
           
(Không có em ở đó)

“Mãi mà không ai đến chuộc
Mùa thu đăng báo bán mối tình xưa
Giá giảm một nửa, lá hết tiền mua
Tội nghiệp mối tình đang bị mùa thu giam giữ
Tôi đi rút sổ tiết kiệm
Tiền lãi là mưa rơi”
           
(Tôi nằm mơ trong một mùa thu)

Chuyện đưa hình tượng mùa thu hay mưa gió vào trong thơ tình yêu không mới, thậm chí là rất cũ kỹ. Từ thời phong trào Thơ mới, hay thậm chí từ thời thơ Đường, đây đã là hệ thống hình tượng (thiên nhiên) mang tính cổ điển biểu đạt tâm trạng con người, đặc biệt phản ánh nỗi buồn trong tình yêu. Song gắn đóng gói mưa vào những container lớn thì chỉ có thể nghĩ ra trong một thế giới hậu hiện đại, nơi toàn cầu hóa và ngành Logistics phát triển vượt bậc. Mùa thu cũng quá ư cũ kỹ trong thơ, song gắn mùa thu với hệ thống ngôn ngữ/hình tượng mang đậm chất kinh tế, hình sự, trinh thám và tội phạm như: chuộc, giam giữ, sổ tiết kiệm, bán, tiền lãi… thì lại tỏ ra rất mới mẻ, rất nhiều âm hưởng đương đại. Sự thú vị và mới mẻ của thơ Nguyễn Đăng Khoa có thể nói được kiến tạo nên từ những cặp đối lập thú vị, đầy bất ngờ giữa cũ và mới, cổ điển và hiện đại, cảm xúc cá nhân với trạng huống xã hội… Thơ Nguyễn Đăng Khoa chính vì thế, luôn lạ mà quen, cũ mà mới, cảm xúc mà triết lý: “Mối tình đẹp giống hoàng hôn - Chiều chiều ánh sáng đi chôn mối tình” (Triết về tình xưa).

Tuy có nhiều nét nổi bật đáng ghi nhận, song thú thực rằng tôi vẫn trông chờ ở Nguyễn Đăng Khoa nhiều hơn trong thi phẩm mới Tặng vật từ tĩnh lặng. Bên cạnh những bài thơ tự do mới mẻ, có tính đời tư thế sự, có thể thấy anh vẫn còn vương vấn, ám ảnh với hệ thống hào quang cũ - thơ lục bát tình yêu. Sự đổi mới thi ca đối với Nguyễn Đăng Khoa do đó, chưa triệt để và dứt khoát. Một số bài thơ vẫn nặng về cảm xúc mà yếu đi về mặt tư tưởng và triết lý. Song dẫu sao, thơ ca là một hành trình sống trải, nên tôi vẫn tin anh sẽ có những bước tiến mới trong những thi phẩm mới trong tương lai.

Y.T
(TCSH433/03-2025)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO(Đọc tập ký ''Trên dấu chim di thê'' của Văn Cầm Hải- NXB Phương - 2003)

  • NGUYỄN QUANG HÀ(Đọc Huế trong thơ Nguyệt Đình)

  • NGUYỄN VĂN HOA(Nhà xuất bản Lao Động phát hành 2004)

  • PHẠM NGỌC HIỀNChưa lúc nào trong lịch sử Việt , các nhà văn hoá ta lại sốt sắng ra sức kêu gọi bảo tồn nền văn hoá dân tộc như lúc này. Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế công nghiệp cộng với xa lộ thông tin đã mang theo những ngọn gió xa lạ thổi đến từng luỹ tre, mái rạ làm cho "Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều". Mà "Trách nhiệm của mỗi dân tộc là phải thể hiện rõ bản sắc của mình trước thế giới" (R. Tagor).

  • NGUYỄN THANH MỪNG                Miền duyên hải Nam Trung bộ gần gũi với Tây Nguyên lắm lắm, Bình Định gần gũi với Gia Lai lắm lắm, ít nhất ở phương diện địa lý và nhân văn. Ừ mà không gần gũi sao được khi có thể chiều nghe gió biển Quy Nhơn, đêm đã thấm trên tóc những giọt mưa Pleiku. Giữa tiếng gió mưa từ nguồn tới bể ấy nhất thiết bao nhiêu nỗi lòng ẩn chứa trong tiếng thơ diệu vợi có thể chia sẻ, bù đắp được cho nhau điều gì đó.

  • NGUYỄN QUANG HÀSau ba tập: Thơ viết cho em - 1998, Lối nhớ - 2000, Khoảng trời - 2002, năm 2004 này Lê Viết Xuân cho xuất bản tập thơ thứ tư: Đi tìm.

  • NGÔ MINHThật may mắn và hạnh phúc là Hoàng Phủ NgọcTường đã vượt qua được cơn tai biến hiểm nghèo của số phận, để được tiếp tục đến với đọc giả cả nước trong suốt mười một năm nay. Đối với tôi, khi bên chiếu rượu ngồi nghe anh Tường nói, hay đọc bút ký, nhàn đàm, thơ của Hoàng Phủ là những lần tôi được nghe các “cua” ngoại khóa sâu sắc về nhân văn và nghề văn.

  • VÕ THỊ XUÂN HÀVào rằm tháng Giêng năm 2003 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, Ngày Thơ Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức long trọng. Mở đầu bằng lễ kéo Lá cờ Thơ, rồi ngâm đọc bài thơ Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh. Sau đó là các chương trình giao lưu thơ với công chúng, đọc những bài thơ hay nhất của đất nước, ngâm thơ, bình thơ v.v…

  • VÔNG VANGCó thể nói cùng với chiều dài lịch sử của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân, không thể và không khi nào mà khi nói đến nơi đây người ta lại không nhắc đến Thơ. Bởi vì ngoài “nhiệm vụ” là một bức thông điệp giúp cho ta biết hơn về lịch sử, về con người, Thơ còn giúp ta hiểu hơn về chính nó, về một ký ức lãng đãng đang trôi qua từ thẳm sâu trong trí nhớ, trong cái thăng hoa luân chuyển của vũ trụ và của chính con người.

  • TRẦN THÙY MAI(Đọc “Thơ của người cô độc” tập thơ của Tường Phong, NXB Thuận Hóa xuất bản)

  • TRẦN HỮU LỤCChân dung Huế (*) - tập bút ký nhân vật, là một trong 12 đầu sách liên kết giữa Tủ sách Nhớ Huế với NXB Trẻ.

  • BÍCH PHƯỢNG thực hiệnLTS: Trong dịp vào Huế thực hiện một số phim trong chương trình “Người của công chúng” (Đài Truyền hình Việt Nam), nhà báo Bích Phượng đã có dịp tìm hiểu tác phẩm, gặp gỡ trò chuyện với nhà văn Nguyễn Khắc Phê tại ngôi nhà vuờn xinh đẹp của ông trên đường Xuân Diệu. Ông đã trả lời một cách cởi mở và thẳng thắn những vấn đề đặt ra.

  • NGUYỄN PHÚC VĨNH BATrong cuốn “Hồ sơ văn hoá Mỹ”, nhà nghiên cứu Hữu Ngọc có giới thiệu một số nhà thơ cổ điển Mỹ như Walt Whitman, Edgar A. Poe, Henri W. Longfellow… Về Longfellow, ông Hữu Ngọc viết:“Nếu không đòi hỏi tâm lí và tư duy sâu sắc thì có thể tìm ở thơ Longfellow sự trong sáng, giản dị, cảm xúc nhẹ nhàng, bâng khuâng, hình ảnh duyên dáng và âm điệu du dương. Ông làm thơ về lịch sử và truyền thuyết, đất nước và thiên nhiên, ông ca ngợi tình thương, lòng tốt, chịu đựng cuộc đời.

  • LÊ HUỲNH LÂMTừ “Vọng sông quê” đến “Mang” của Nhà xuất bản Trẻ, rồi “Gửi thiên thần” của Nhà xuất bản CAND và bây giờ là “Đồng hồ một kim” của Nhà xuất bản Văn Học” được gửi đến bạn đọc, Phan Trung Thành đã khẳng định được gương mặt thơ của thế hệ 7.X. Ở đây, số lượng tác phẩm không định hình nên một gương mặt thơ, mà chính những câu chữ đã vẽ lên chân dung một nhà thơ.

  • TIỂU VĂNGiữa tháng 11 năm 2008, tôi được dự một buổi hội thảo nói chuyện chuyên đề về sách tại Zen Café (phố Ngọc Hà). Đây là buổi nói chuyện của tác giả - dịch giả Lê Thị Hiệu, với bút danh thường gọi là Hiệu Constant, giới thiệu về tác phẩm đầu tay của chị - tiểu thuyết Côn trùng. Buổi nói chuyện nằm trong chương trình “Tôn vinh Văn hóa Đọc” do Công ty Truyền thông Hà Thế khởi xướng và tổ  chức.

  • HÀ KHÁNH LINHHồng Nhu truyện ngắn, Hồng Nhu thơ… Lần đầu tiên nhìn thấy Hồng Nhu xuất hiện tiểu thuyết tôi thực lòng rất mừng. Tuy nhiên đọc gần hết hai chương đầu nỗi lo cứ cồm cộm lên trong tâm thức nhưng chính gần cuối chương II cái chất tiểu thuyết mới bắt đầu hé lộ ra, để rồi từ đó lôi cuốn người đọc cho đến hết truyện.

  • LÊ QUANG TƯCông trình Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX (những vấn đề lý luận và lịch sử)(1) được biên soạn bởi Trần Ngọc Vương (chủ biên), Trần Nho Thìn, Nguyễn Văn Thịnh, Trần Nghĩa, Đoàn Lê Giang, Kiều Thu Hoạch, Cao Tự Thanh..., do nhà xuất bản Giáo dục in năm 2007, dày 912 trang.

  • LÝ HOÀI XUÂN(Nhân đọc tập thơ “Mẹ!” của Văn Lợi – NXB Thuận Hoá, 2006)

  • TRẦN HUYỀN SÂMNhư con thú hoang ôm vết thương lòng đi tìm nơi trú ẩn, gương mặt người thiếu phụ mang nỗi buồn tiền kiếp - tự ngàn xưa: Người thiếu phụ có đôi mắt buồnĐi lang thang trong chiều mùa hạNỗi cô đơn lây sang cả đá...

  • MAI VĂN HOANNgười đời thì lập ngôn còn Nhụy Nguyên thì “lập thiền”. Thú thực tôi chưa hiểu hết dụng ý của Nhụy Nguyên khi đặt tên cho tập thơ đầu tay của mình là Lập thiền. Bản thân từ Hán Việt vốn ẩn chứa nhiều tầng nghĩa.