Nguyễn Việt Chiến và loại hình thơ giao cảm

14:44 23/06/2023

NGUYỄN THANH TÂM

Đến thời điểm hiện tại (3/2023), Nguyễn Việt Chiến đã xuất bản 8 tập thơ, 2 tập tiểu luận - phê bình và 1 tiểu thuyết.

Ảnh: tư liệu

Qua hơn 30 năm cầm bút, vừa là nhà thơ, nhà báo, lượng tác phẩm như vậy, theo tôi không nhiều. Thế nhưng, Nguyễn Việt Chiến lại là cái tên không thể không nhắc trong đời sống thơ ca Việt Nam đương đại. Điểm không thể không nhắc ấy (ngoài việc anh phổ biến mình quá rộng rãi) nằm ở tính chất đa dạng của thơ Nguyễn Việt Chiến. Bắt đầu từ Mưa lúc không giờ (1992), qua những Ngọn sóng thời gian (1998), Cỏ trên đất (2000), Những con ngựa đêm (2003), Trăng và thơ đọc chậm (2012), Hoa hồng không vỡ (2015), Tổ quốc nhìn từ biển (2015), Trường ca Biển (2015) đến Thơ và Trường ca (tuyển, 2023), người đọc có thể nhận ra, trong thế giới trữ tình của Nguyễn Việt Chiến, có sự đồng hiện của nhiều ngôi - vai trữ tình gắn với cái tôi đa diện: cái tôi luyến ái, cái tôi công dân, cái tôi trí thức - nghệ sĩ. Điểm này, xét rộng ra cũng chẳng phải là điều riêng khác của Nguyễn Việt Chiến. Cái khác là ở cấp độ - mức độ. Nguyễn Việt Chiến thể hiện những trạng thái tinh thần - mĩ cảm ấy khá mạnh mẽ, có hệ thống, tạo thành những dòng mạch rõ rệt. Dù trong tư cách nào, những cái tôi ấy đều tỏ bày một cách say sưa, dào dạt, tâm huyết, ẩn chứa nhiệt hứng của thi sĩ. Chính cấp độ và mức độ cùng khả năng vẫy gọi - giao cảm, hô ứng ấy đã đưa Nguyễn Việt Chiến vào vị trí là một trong những tên tuổi nổi bật của loại hình thơ giao cảm.

1. Thế nào là loại hình thơ giao cảm?

Giao cảm vốn là đặc tính trong hành trình của nghệ thuật. Tuy nhiên, khi nhấn mạnh vào khía cạnh loại hình (typology), tôi chú trọng đến những điểm tương đồng mang tính quy luật, xuất hiện ở nhiều tác giả, tác phẩm, thậm chí là ở những giai đoạn thơ. Đó là loại hình thơ hướng đến việc phô bày cảm xúc, vẫy gọi sự đồng cảm từ phía người đọc như là ý hướng đầu tiên, chủ đạo (cảm trước -nghĩ sau). Nói đến loại hình thơ giao cảm cũng là nói đến sự phân loại tương đối (NTT nhấn mạnh) giữa nó với loại hình thơ khác như thơ triết luận (nghĩ trước -cảm sau). Sự chồng lấn của hai loại hình này là điều không tránh khỏi, nằm trong bản chất của việc tiếp nhận. Mặc dù vậy, ngay khi tiếp cận văn bản thơ, loại hình thơ giao cảm kích hoạt mạnh mẽ cảm xúc (trái tim) còn loại hình thơ triết luận lại đánh thức suy tư (trí não) người đọc. Như vậy, có thể cùng một điểm đến, nhưng hành trình của hai loại hình này là khác nhau. Chẳng hạn, khi Tố Hữu viết: Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi/ Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt/ Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát/ Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca (Ta đi tới), đó là những dòng thơ thể hiện niềm say mê với vẻ đẹp của quê hương đất nước, làm người đọc thêm yêu Tổ quốc mình. Khi Hoàng Nhuận Cầm viết: Em đã yêu anh, anh đã xa rồi/ Cây bàng hẹn hò chìa tay vẫy mãi/ Anh nhớ quá mà chỉ lo ngoảnh lại/ Không thấy trên sân trường chiếc lá buổi đầu tiên (Chiếc lá đầu tiên) người đọc chưa cần nghĩ nhiều mà chỉ thấy dâng lên trong lòng mình cảm xúc chia xa, tiếc nuối về những năm tháng thương yêu, tươi trẻ. Trong khi đó, đứng trước những dòng thơ của Thanh Thảo, suy tưởng chợt kéo đến, chất vấn chúng ta về thái độ, trách nhiệm làm người của mình: máu đỏ thật không ồn ào/ máu lặng lẽ ướt đầm ngực áo/ hạnh phúc nào cho tôi/ hạnh phúc nào cho anh/ hạnh phúc nào cho chúng ta/ hạnh phúc nào cho đất nước (Thử nói về hạnh phúc). Với thơ Trương Đăng Dung, phần trí não của người đọc sẽ phải làm việc cật lực để thông hiểu sau đó cảm xúc mới được định hình một cách rõ rệt: Một người nói: Hôm nay là thứ Bảy/ Đám đông nói: Ngày cuối năm/ Thời gian nói: Tôi luôn là hiện tại (Đối thoại). Nếu chẳng có ý niệm gì về triết học hiện sinh (phương Tây) và cảm quan “sống đời” (minh triết phương Đông, dân gian) e chừng sự đọc đã để rụng rơi nhiều ý nghĩa trong những dòng thơ ấy.

Nói đến loại hình thơ nghĩa là phải có các tiêu chí đặc trưng để cố kết nó trong một cấu trúc nhất định. Xếp chồng những tác phẩm thuộc loại hình thơ giao cảm, có thể thấy, cái lõi của nó là kiểu tư duy biểu cảm, phương thức nổi bật là sự lôi cuốn của vần - nhịp điệu và nhạc tính, phương tiện chủ đạo là ngôn từ, hình ảnh gợi cảm - trực quan.

Trở lên, cơ sở của việc định dạng một loại hình thơ chính là thực tiễn sáng tác, tiếp nhận của các tác giả - tác phẩm. Với loại hình thơ giao cảm, Nguyễn Việt Chiến là một trường hợp rất tiêu biểu (tiêu biểu cho đặc tính giao cảm sâu dày trong thơ trữ tình Việt Nam, từ truyền thống đến hiện tại). Tiểu luận này tập trung vào ba trọng điểm: kiểu tư duy thơ - phương thức nổi bật - phương tiện chủ đạo trong thơ Nguyễn Việt Chiến, nhằm hình dung rõ hơn về các giả thuyết nêu trên.

2. Kiểu tư duy biểu cảm trong thơ Nguyễn Việt Chiến

Thế giới nghệ thuật là kết quả của tư duy nghệ thuật. Như vậy, tư duy nghệ thuật là lĩnh vực động, có tính quá trình, được vận hành thông qua các thao tác tưởng tượng, liên tưởng, suy tưởng… cả trong ý thức và vô thức. Xem xét thơ Nguyễn Việt Chiến có thể nhận ra cảm xúc là yếu tố đầu tiên khơi mở ý tình, dẫn dắt tư duy, tạo lập thế giới nghệ thuật. Nói cách khác, những yêu - thương - nhớ - quên - vui - buồn - hờn - giận - oán - sầu - khinh - ghét - căm thù - phẫn nộ… là động cơ chính trên hành trình tư duy thơ. Tám tập thơ đã xuất bản của Nguyễn Việt Chiến, nếu có thể khoanh vùng một cách tương đối, đã định hình theo những mạch cảm xúc như thế, hình thành mảng thơ tình yêu, thơ trữ tình chính trị - công dân, thơ trí thức - nghệ sĩ… Trong thơ tình, cái tôi dâng đầy xúc cảm đã dựng nên không gian - thời gian của tình yêu, cùng tình nhân và các sắc thái của luyến ái: Ta xa miền thơ ấu/ Ta xa mùa yêu thương/ Ta qua miền tưởng tượng/ Ngỡ còn em… đâu còn (Mùa này sông cạn nước). Thơ ấu, yêu thương, em là những hội tụ làm nên “vùng nhiễu động” tâm tư của anh. Em của ngày xưa, em của hôm nay, anh của quá khứ, anh trong hiện tại, vùng trăng yên bình và vùng trời nhiễu động, cái dở dang đã phong nguyên trong hoài niệm, cái còn đắp đổi, lở bồi,… là những đối cực trong dòng mơ tưởng của Nguyễn Việt Chiến: Cô đơn xuống một đò đầy/ Tôi chờ em phía bên này mùa đông/ Cát còn bay trắng bến sông/ Người còn đi trắng mùa mong ước này/ Tôi cầm hạt cát trên tay/ Đêm không còn ấm như ngày có em (Cát đợi); ở bên kia thành phố có sương mù/ ai hát đấy: ta buồn như cỏ dại/ dậy thôi em, mùa thu không trở lại/ giấc mơ nào trên cỏ hãy còn xanh… (Mùa thu không trở lại). Người đọc chưa cần huy động trí lực, cứ để dòng cảm xúc lan thấm vào tâm can; đồng cảm với nỗi buồn, sự cô đơn, lạnh lẽo của cái tôi trữ tình trong thơ. Ở đây, ta cũng không gặp những “nút thắt”, những “vấp ngã” của tình huống ngôn ngữ buộc trí não phải làm việc. Sẽ không có sự chất vấn, truy tìm, hoài nghi, lưỡng lự cân nhắc đúng sai phải trái trong những ví dụ thơ như vậy. Chỉ có cảm xúc, vẫy gọi ngôn từ, hình ảnh, cố gắng chuyển tải tới người đọc trạng trái tình cảm của chủ thể một cách trọn vẹn nhất. Tư duy biểu cảm lấn át tư duy nghị luận - triết luận, dâng lên và bao phủ thành khí quyển của thơ Nguyễn Việt Chiến. Điều này sẽ thể hiện rõ hơn ở mảng thơ thế sự - “trữ tình công dân - trữ tình chính trị”: Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát/ Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời/ Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất/ Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi (Tổ quốc nhìn từ biển); Có nơi nào như Đất nước chúng ta/ viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ/ khi giặc đến vạn người con quyết tử/ cho một lần Tổ quốc được sinh ra (Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra)… Mạch nguồn cảm hứng sử thi vốn đã sôi trào mạnh mẽ trong truyền thống thơ cách mạng Việt Nam tiếp tục được Nguyễn Việt Chiến khai thác. Không thể nói là chúng ta không nghĩ, nhưng cái nghĩ ấy được thôi thúc từ trái tim đang rung lên trước lịch sử - vận mệnh -dáng hình đất nước. Người đọc có thể nghĩ gì/ nghĩ gì khác nữa, trong những bài thơ này của Nguyễn Việt Chiến? Sự đồng thuận là điều dễ nhận ra bởi cảm xúc tác động trực tiếp, mạnh mẽ vào tâm hồn ta. Tình yêu đất nước, lòng tự hào dân tộc cùng những lo âu trước bao hiểm họa đến từ nhiều phía đã hòa dòng máu của chúng ta làm một, cuộn sôi trong huyết quản, cuốn phăng đi những toan tính nghĩ suy, những đắn đo hơn thiệt, những thu vén riêng tư. Điều đó là kết quả của kiểu tư duy biểu cảm dựa trên mạch sử thi mà Nguyễn Việt Chiến đã luôn gìn giữ trong trái tim mình.

3. Vần - nhịp điệu và nhạc tính: chất men của cảm xúc

Kiểu tư duy biểu cảm sẽ chi phối toàn bộ quá trình tạo lập thế giới nghệ thuật. Ở phương thức biểu đạt chúng ta nhận ra sự ưu trội của vần - điệu và nhạc tính, như là chất men của cảm xúc. Trong cơ chế tâm lý thông thường, cảm xúc cần nhiều hơn sự liên minh từ vần - điệu và nhạc tính, bởi sự du dương, dào dạt, nhịp nhàng mà nó tạo nên. Nguyễn Việt Chiến không tránh khỏi cơ chế này, và thực tế, sẽ cần trưng dụng cơ chế này để tối ưu hóa hiệu quả biểu đạt.

Vần, xét trong cơ chế là sự lặp lại của một từ hay bộ phận, thành tố của từ theo một quy luật nhất định hướng tới việc tạo nên những cấu trúc cộng hưởng và vang vọng - vốn là dấu hiệu hình thức đặc trưng của thơ truyền thống. Nhờ có vần mà cảm xúc được dẫn dắt và lan tỏa: Tháng giêng mưa ngoài phố/ Mưa như là sương thôi/ Những bóng cây dáng khói/ Như mộng du bên trời (Mưa tháng giêng); Ta lặn xuống chiếc bình đêm day dứt/ Những thân hoa còn tươi vết cắt này/ Môi ta chạm vào ngực hoa đau nhức/ Một mùi hương dĩ vãng chẳng lưu đày (Ta nặn lại chiếc bình đêm tan vỡ); Đất quặn đỏ ngàn năm trận mạc/ Bao lớp người như sóng trùm lên/ Trên dải đất ba ngàn cây số biển/ Mong tháng ngày đất nước được bình yên (Tổ quốc bên bờ biển cả)… Nguyễn Việt Chiến tỏ ra là người làm chủ một cách rất linh hoạt yếu tố vần trong thơ mình. Đọc những bài thơ có vần của anh, ta thấy lưu loát, tự nhiên, với khí lực dày dặn. Khí lực ấy là kết quả của cảm xúc luôn dâng đầy trong thơ Nguyễn Việt Chiến. Đó chẳng phải là cơ sở để thi sĩ giao cảm cùng tha nhân hay sao?

Vần (và không chỉ vần) tạo nên nhịp điệu. Nhịp điệu là cấu trúc lớn hơn, hình thành bởi tất cả thành tố hữu hình và vô hình trong không gian thơ. Cái hữu hình (hiểu như là cái có thể quan sát bằng thị giác) là ngôn ngữ, hình thức văn bản. Cái vô hình là chất thơ, là điệu tâm hồn, hơi thở và sức sống tiềm tàng của chữ - nghĩa, hình tượng, cấu trúc… Trong loại hình thơ giao cảm, những yếu tố này vận hoạt theo biểu đồ cảm xúc của chủ thể trữ tình.

Xem xét thơ Nguyễn Việt Chiến, ta thấy nhịp điệu khi miên man, khi dào dạt, khi cuộn trào, nhưng tính liên tục vẫn được duy trì bởi mạch cảm xúc: Chiều cuối năm sông vắng/ Gặp sông bỗng nhớ về/ Mùa cỏ may năm ấy/ Em xa rồi như quê (Làng bên kia Trung Hà); Chúng đừng mong thôn tính/ một dải biên cương này/ máu thiêng bao người lính/ vẫn sục sôi đâu đây/ Vị Xuyên ngày giỗ trận/ bao lớp người lên đây/ màu áo xanh lính trận/ điệp trùng dưới ngàn mây (Ngày giỗ trận). Trong cơ chế sáng tạo, việc giữ được tính liên tục của cảm xúc rất quan trọng, nó làm nên chỉnh thể thống nhất của ý tình trong thơ (có một thực tế, ở nhiều người khác, mạch cảm xúc bị ngắt quãng, hụt hơi, tán lạc, dẫn đến không duy trì được tính chỉnh thể vẹn nguyên. Nỗ lực khơi đào trở lại mạch cảm xúc này chỉ làm cho bài thơ hiện ra vẻ chắp vá đáng thương của nó). Có thể nói, với Nguyễn Việt Chiến, anh làm khá tốt điều này, cảm xúc trở thành “vốn tượng trưng” (Pierre Bourdieu) để thi sĩ giao cảm với người đọc. Phải mạnh mẽ, miên man, dào dạt và liên tục mới có thể lay động tâm hồn kẻ khác, đó là điều mà loại hình thơ giao cảm này hướng đến. Mạnh ở bình diện này, thế nên, ở những sáng tác giai đoạn sau, Nguyễn Việt Chiến chủ động thêm dấu chấm vào các câu - dòng thơ, điều chỉnh nhịp điệu, tạo thành thứ thơ “đọc chậm” như là một phương thức tiết chế tính liên tục của cảm xúc. Bản thân tôi chưa ghi nhận hiệu quả thẩm mĩ thực sự của lối thơ “đọc chậm” này.

Vần, nhịp điệu tạo nên nhạc tính. Nhạc tính là kết quả của việc tổ chức âm thanh, vần, nhịp điệu trong thời gian (Âm nhạc là loại hình nghệ thuật thời gian). Sự cộng hưởng của các thành tố trong một văn bản thơ mang lại tiết tấu - nhạc tính, biểu đạt điệu thức của tâm hồn thi sĩ. Cầm giữ và tổ chức nhạc tính trong thơ Nguyễn Việt Chiến vẫn là cảm xúc khi nó chủ động vẫy gọi các ký hiệu giàu tính nhạc. Đây là thế mạnh của loại hình thơ giao cảm (điều ta ít khi nhận ra một cách rõ rệt trong thơ triết luận): Phố trong mưa khuấy động màu sơn/ Giai điệu trắng cầm ca giữ nhịp/ Đây bè trầm giọng ngói xô nghiêng/ Cùng tiếng gió bè cao xoáy tít (a phố vào tranh); Em có nghe trên cát/ Tiếng chim hồn nhiên bay/ Em có nghe dưới cát/ Buồn sông không lấp đầy// Mùa tương tư ủ chín/ Nhạc tương tư ngất ngây/ Màu tương tư phơ phất/ Men tương tư nồng say (Mùa này sông cạn nước); Suốt ngàn năm không cúi đầu nô lệ/ Chim Lạc bay trên khát vọng trống đồng/ Mẹ vẫn ngóng nơi đầu non cuối bể/ Tan giặc rồi con mẹ có về không? (Tổ quốc bên bờ biển cả). Nhạc tính cuốn người đọc vào cảm xúc, làm đầy thêm cảm xúc để đồng vọng cùng thi sĩ. Chất men ấy làm say lòng người và hiệu quả biểu đạt đã được thực hiện. Ta cảm nhận được vũ khúc của mưa, hân hoan mê đắm theo gót chân thiếu nữ qua phố. Ta cảm nhận được điệu tương tư da diết trên nhịp lở bồi của dòng sông, của thời gian. Ta cảm nhận được âm hưởng trầm hùng bi tráng trong lời thơ cất lên bên bờ biển cả. Cảm xúc đưa ta đi chạm vào miền mơ tưởng của thi sĩ, để nhân lên nguồn mạch của yêu thương và gắn bó.

4. Ngôn từ, hình ảnh gợi cảm - trực quan, rút ngắn khoảng cách đồng cảm

Cảm xúc vốn là thứ vô hình, nhờ có ngôn từ, hình ảnh (ký hiệu) mà hiện hữu. Giao tiếp nghệ thuật bắt đầu bằng/ từ hình thức. Chính vì thế, đối với loại hình thơ giao cảm, để tăng hiệu quả biểu đạt, tối ưu hóa việc đồng điệu giữa thơ và người đọc, lớp ngôn từ và hình ảnh gợi cảm được sử dụng triệt để. Nguyễn Việt Chiến tỏ ra nắm rất vững cơ chế này: Tiếng gì trên cỏ vừa rơi/ Hình như phía ấy có người bỏ đi/ Đạp lên cả ánh trăng khuya/ Tiếng trăng như lá vỡ nghe thật buồn (Tiếng trăng); đèn vàng lầy lội ngõ khuya/ mưa trên phố cổ còn nghe ngậm ngùi (Phố); Ta về chín cõi yêu thương/ gặp chia ly ở mười phương hẹn hò/ Trưa nay ta bỗng sững sờ/ gặp mùi lúa chín như vừa chiêm bao/ Em đi tự cõi sống nào/ về trần gian cũ gặp bao đóa người (Chiêm bao); Nếu quê mẹ thân yêu xa vắng biển/ Mây Trường Sơn u uất sẽ thôi bay/ Sóng sông Hồng cuộn sôi mùa lũ đỏ/ Đồng Cửu Long bóng lúa mãi hao gầy (Tổ quốc bên bờ biển cả)… Trong các dẫn chứng này (và cả ở trên), tôi đều có ý bao quát các quãng thời gian khác nhau trong hơn 30 năm cầm bút của Nguyễn Việt Chiến (từ cuối những năm 80 - thế kỷ XX đến nay) cả ở mảng thơ tình và thơ thế sự, nhằm thấy được sự phổ quát của đặc tính loại hình thơ giao cảm. Ở khía cạnh ngôn từ, Nguyễn Việt Chiến sử dụng nhiều các từ có chức năng biểu cảm: buồn, ngậm ngùi, yêu thương, sững sờ, thân yêu, u uất, cuộn sôi, hao gầy… Đây là cơ chế lựa chọn tất yếu bởi trường văn hóa, trường thẩm mĩ của người đọc và tác giả vốn có những điểm gặp gỡ khi cùng sở hữu một thứ ngôn ngữ. Có lẽ, nếu làm một thống kê chi tiết, chúng ta sẽ nhặt ra được khá nhiều các từ ngữ biểu đạt trực tiếp cảm xúc của người viết, của chủ thể trữ tình trong thơ Nguyễn Việt Chiến. Ở bình diện thi ảnh, người đọc sẽ bắt gặp lớp hình ảnh gợi cảm - trực quan. Nghĩa là, gợi cảm và có thể nhận biết ngay được. Khi yêu thương nhung nhớ, thi sĩ gọi về làn hương, mái tóc, vạt áo, bàn tay, dòng sông, bờ đê, bãi mía, con đò… Khi tủi buồn trong thân phận, thi sĩ chạnh nghĩ về cỏ, về cát, về bùn, về rong rêu, lá rụng. Khi phẫn uất, căm giận hay nghẹn ngào trước các vấn đề thế sự, thời cuộc, dân tộc, đất nước, Nguyễn Việt Chiến triệu hồi các hình ảnh đậm màu sắc sử thi như Bạch Đằng Giang, Sông Hồng, Cửu Long, Trường Sơn, Trường Sa, Hoàng Sa, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Tiên Rồng, Trống Đồng, ngàn năm, sử đỏ, máu huyết, sóng, đá, biên thùy… Có thể nói, hình ảnh trong thơ Nguyễn Việt Chiến luôn đựng đầy cảm xúc, dội vào lòng người đọc ở “cự li” ngắn, thế nên những rung ngân tức khắc được cộng hưởng. Suy tưởng nhường phần cho tưởng tượng, liên tưởng, kết nối cảm xúc của thi sĩ với người đọc, tạo nên hiệu ứng thấm thía và lan tỏa.

5. Tạm kết

Những khu biệt loại hình luôn gợi lên vẻ gì đó khó chịu khi “lăm le” dán nhãn cho các thực tại. Đó là điều tôi đã luôn ý thức khi viết về Nguyễn Việt Chiến và loại hình thơ giao cảm. Sự thật, còn những bình diện, những mảng miếng khác nằm ngoài loại hình mà tôi nhận ra, thể hiện sự đa dạng trong sáng tạo của Nguyễn Việt Chiến. Chẳng hạn, phần thơ tự do với những nỗ lực cách tân cả về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Dẫu vậy, như một căn nhà lớn, chúng ta chỉ có thể quan sát từng phần, bài viết này tập trung vào mặt tiền của thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Việt Chiến. Mặt tiền này phô bày phần lớn tâm ý, cảm xúc, thái độ của chủ thể nhằm hiện diện trong bản đồ thi ca đương đại Việt Nam. Những góc khuất hay những ẩn giấu sẽ còn mời gọi chúng ta trên hành trình giao cảm và ngẫm ngợi về thi ca.

N.T.T
(TCSH411/05-2023)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN THIỆN KHANH Inrasara nhập cuộc văn chương từ rất sớm. Ngòi bút của Inrasara chạm được vào những vấn đề cốt tử của nghệ thuật. Inrasara đã sống thực sự với đời sống văn chương đương thời.

  • HUYỀN SÂM - NGỌC ANH 1. Umberto Eco - nhà ký hiệu học nổi tiếng.Umberto Eco chiếm một vị trí rất đặc biệt trong nền lý luận đương đại của Châu Âu. Ông là một triết - mỹ gia hàn lâm, một nhà ký hiệu học uyên bác, một tiểu thuyết gia nổi tiếng và là giáo sư danh dự của trường Đại học Bologne ở Italia. Tư tưởng học thuật của ông đã tác động mạnh mẽ, tích cực đến đời sống trí tuệ của sinh viên và giới nghiên cứu trong suốt nửa thế kỷ qua. Ông có mặt trong danh sách của hai mươi nhà tư tưởng đương đại lớn nhất thế giới, và cũng là ứng cử viên thường trực của Viện Hàn lâm Thụy điển về việc bình chọn giải Nobel văn học.

  • ĐỖ NGUYỄN VIỆT TƯ         (Nhân đọc thơ Hoàng Vũ Thuật)Trong con người cũng như trong vũ trụ luôn luôn hiện diện một mâu thuẫn bất biến, nhờ cái khối mâu thuẫn này mà nó tồn tại, phát triển và trở nên thống nhất. Con người luôn đi tìm chính mình trong một cuộc phiêu lưu vô định, không bao giờ bằng lòng với những cái đã có, bản ngã lúc nào cũng thôi thúc sáng tạo để tìm ra cái mới. Nhà thơ luôn đồng hành với cuộc phiêu lưu của những con chữ để đi đến những miền đất lạ, những vùng cảm xúc.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LANSau mấy tháng mưa tầm tã và lạnh thấu xương, qua đầu tháng chạp âm lịch, toàn khu Hạ Lào bắt đầu tạnh. Mặt trời lại hiện ra đem ánh sáng sưởi ấm những khu rừng bạt ngàn từ Trường Sơn lượn xuống. Ở các suối nước không còn chảy như thác đổ, ở Xê Công dòng nước cũng đã trở lại hiền hòa. Các con đường lớn, đường nhỏ bắt đầu khô ráo.

  • TRẦN ĐƯƠNGTôi được làm quen và có quan hệ cởi mở với nhà thơ Tố Hữu từ mùa thu năm 1973, sau khi ông dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng ta đi dự Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đức (DKP) họp tại thành phố cảng Hăm-bugr). Từ  miền Tây, ông sang Béc-lin, Cộng hòa Dân chủ Đức, theo lời mời của Bộ chính trị Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức (SED) với mục đích thăm, nghiên cứu và trao đổi về công tác tư tưởng giữa hai Đảng.

  • TRẦN THÁI HỌCĐến nay, vấn đề giá trị nghệ thuật không còn là vấn đề thời sự được nhiều người trong giới phê bình quan tâm bàn cãi. Sự lắng lại trong không khí phê bình về vấn đề này, vốn đã trải qua một thời kì tranh luận sôi nổi kéo dài hàng chục năm trên văn đàn gắn liền với những quan điểm triết học và mỹ học khác nhau, thậm chí đối lập nhau.

  • HÀ VĂN THỊNH Trên trái đất này, có lẽ chỉ có các nhà thơ mới quan niệm cuộc đời là một trò chơi. Ngay cả Thánh Kinh, khi bàn về lẽ khởi - tận của kiếp người cũng phải than: thân cát bụi trở về cát bụi. Lời nguyền đó là tiếng kêu bi thương từ sâu thẳm của hàng triệu năm đau đớn để sống và, để chết. Từ ngày đầu tiên sinh ra loài người, Adams  đã phải dắt díu Éva trốn chạy khỏi Thiên Đường trong nước mắt và uất hận; đau đớn và tuyệt vọng; cô đơn và sỉ nhục... Đó là những điều ngăn cản việc biến cuộc đời thành một trò chơi.

  • NGUYỄN THAM THIỆN KẾ... Đức Phật, nàng Savitri và tôi sẽ là cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất của Hồ Anh Thái, đồng thời nó sẽ giữ ngôi vị lâu dài là tiểu thuyết duy nhất trong văn học Việt lấy cuộc đời giáo chủ Phật giáo làm nguồn cảm hứng. Và sẽ còn lâu lắm văn chương Việt mới có một nhà văn đủ tự tin cũng như tài năng để động vào bàn phím viết về đề tài này. Nó cũng sẽ là thời gian cộng trừ 20 năm, nếu như nhà văn nào đó bây giờ mới bắt đầu tìm hiểu văn hóa Ấn...

  • HOÀNG NGỌC HIẾNNhan đề của tập thơ khiến ta nghĩ Trần Tuấn đặc biệt quan tâm đến những ngón tu từ, mỹ từ của thi ca, thực ra cảm hứng và suy tưởng của tác giả tập trung vào những vấn đề tư tưởng của sự sáng tạo tinh thần: đường đi của những người làm nghệ thuật, cách đi của họ và cả những “dấu chân” họ để lại trên đường.

  • TRẦN ĐÌNH SỬTrong sáng tác văn học của nhà văn Lỗ Tấn, Cỏ dại  là tập thơ văn xuôi giàu tính hiện đại nhất xét về tư duy, tư tưởng và hình ảnh. Tuy nhiên trong một thời gian dài, phẩm chất nghệ thuật này đã không được nhìn nhận đúng mức.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN(Trích đăng Lời giới thiệu “Tuyển tập Minh triết phương Đông - Triết học phương Tây” của Hoàng Ngọc Hiến)

  • NGUYỄN GIA NÙNGCả cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của Cao Bá Quát là một chuỗi dài những bi kịch của cuộc tìm kiếm không ngừng, không nghỉ về lẽ sống ở đời, về vai trò của văn thơ nói riêng, về kẻ sĩ nói chung. "Mình là ai?" "Mình có thể làm được gì? Làm thế nào để có thể tự khẳng định mình và có thể giúp ích được cho đời?" Có thể nói những câu hỏi ấy luôn trăn trở, dằn vặt trong con người Cao Bá Quát từ khi tự ý thức được tài năng của mình cho đến lúc từ giã cõi đời mà vẫn chưa tìm được lời giải đáp trong một chế độ đầy rẫy bất công, phi lý mà mọi con đường để thoát ra, với ông, đều mờ mịt và chính ông, dù đã cố công tìm, bế tắc vẫn hoàn toàn bế tắc.

  • THẠCH QUỲBài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được tuyển chọn để giảng dạy ở trường phổ thông vài chục năm nay. Đó cũng là bài thơ xuất sắc được bạn đọc cả nước yêu mến. Tuy vậy, cho đến hôm nay, cái hình ảnh “Mặt chữ điền” đầy sức quyến rũ và ám ảnh ấy vẫn chưa được nhận chân, nhận diện một cách chính xác.

  • HỒ THẾ HÀNhư một quy luật hiển nhiên, có sáng tác văn học thì sớm muộn gì cũng có phê bình văn học và lý luận văn học, càng về sau, có thêm các phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học - với tư cách là trường phái, trào lưu nối tiếp nhau nhằm tiếp cận và giải mã tác phẩm ngày một đa dạng, tối ưu, hiện đại để không ngừng làm đầy những giá trị và ý nghĩa chỉnh thể của tác phẩm văn học.

  • PHONG LÊTrong văn học Việt Nam, trước trào lưu hiện thực, hình ảnh người trí thức đã có mặt trong khuynh hướng lãng mạn của Tự lực văn đoàn. Đó là các nhân vật trong vai điền chủ, luật sư, quan lại - có vốn tri thức và có chút băn khoăn, muốn nhìn xuống nỗi khổ của những người dân quê, và mong thực hiện một ít cải cách cho đời sống họ đỡ tối tăm và đỡ khổ.

  • MÃ GIANG LÂNCách nhân bản thơ, xuất bản thơ bằng "công nghệ sạch" của loài người có từ ngày xửa ngày xưa dưới hình thức ngâm thơ và đọc thơ. Người Việt chúng ta ngâm thơ là truyền thống. Tiếng Việt nhiều thanh, giàu tính nhạc, giọng ngâm có sức vang, sức truyền cảm.

  • TRIỀU NGUYÊN1. Chương trình Văn học lớp 11, chỉnh lí năm 2000, phần tác giả Cao Bá Quát, bài Đề sau khúc Yên Đài anh ngữ của ông đô sát họ Bùi, giảng một tiết, được thay bằng bài Dương phụ hành (Bài hành về người thiếu phụ phương Tây). Cả sách học sinh và sách giáo viên đều không có chú thích gì về "hành", ngoài cách chuyển y khi dịch sang tiếng Việt như vừa ghi.

  • ĐIỀN THANHAndy Warhol nổi tiếng là người đùa rỡn với chuyện danh tiếng, nhưng niềm say mê của ông với sinh hoạt hiện đại có hàm chứa một không gian tối xám hơn nhiều. Đó là việc ông bị ám ảnh bởi cái chết, điểm này cho mỗi chúng ta biết nhiều nhất về tinh thần của thời đại ngày nay…

  • ĐINH VŨ THUỲ TRANGThời Đường là thời đại cực thịnh của dân tộc Trung Hoa về mọi mặt, trong đó có thơ ca. Câu nói này có vẻ sáo mòn nhưng không thể không nhắc đến khi nhìn vào những trang sử vàng son ấy. Chúng ta biết đến ba nhà thơ lớn đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị... Nhưng phải nói rằng, chỉ đọc thơ của họ thì chưa thấy hết được cái hay của thơ Đường. Bởi lẽ, các nhà thơ tuy cùng khuôn luật, cùng chủ đề... nhưng mỗi người đều riêng khác nhau.

  • LÝ HOÀI THUSự vận động và phát triển của một giai đoạn văn học luôn diễn ra song hành cùng sự vận động và phát triển của các loại thể văn học. Nói một cách khác: sức sống của một giai đoạn văn học được biểu hiện rõ rệt nhất qua diện mạo thể loại. Chính vì vậy, thể loại vừa là sự "phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững của văn học" (1) vừa là sự hồi sinh và đổi mới liên tục qua mỗi chặng đường phát triển.