Nguyễn Tài Cẩn trên nền thi học Việt Nam

15:11 04/06/2009
ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.

GS Nguyễn Tài Cẩn

Bài này giới thiệu những đóng góp vào nền Thi Học Việt Nam của nhà ngữ học Nguyễn Tài Cẩn, qua tác phẩm mới xuất bản: Một số Chứng Tích về Ngôn Ngữ Văn Tự và Văn Hoá (1), viết tắt là Một số Chứng Tích. Chúng tôi cũng sẽ nhắc qua 7 tác phẩm trước đây của anh, và nhấn mạnh vào những trước tác xuất bản gần đây nhất.

Một số Chứng Tích, 430 trang, gồm 34 bài báo đã đăng rải rác trong và ngoài nước, dưới nhiều đề tài ngữ học và văn bản học, phản ánh những quan tâm của anh về văn hoá từ 40 năm nay. Nhất là về ngôn ngữ Thơ.

Thành phần thiết yếu trong Thơ là cách gieo vần, đã được Nguyễn Tài Cẩn đặc biệt chú tâm: "cách đọc Hán Việt (thế kỷ VIII và IX) (...) cho phép các nhà thơ Việt đi ngược lại thi pháp Hán tạo ra một lối gieo vần riêng biệt cho Việt Nam" (tr. 422) dựa theo những nguyên âm thuận tai, như ở ca dao tục ngữ, chứ không theo khuôn mẫu Quảng Vận của Trung Quốc; lối gieo vần này không phải lúc nào cũng thành công, "thơ chữ Hán nhưng đọc lên nghe có âm hưởng thuần Việt (...) ngay những trường hợp không thật hài hoà cũng được chấp nhận. Và chính những trường hợp này đã ảnh hưởng đến cả cách gieo vần trong thơ thuần Việt, và đôi khi ảnh hưởng (ngược lại) đến cả cách đọc Hán Việt (tr. 421). Nói khác đi, ngữ học soi sáng cho thi học, nhưng có lúc, thơ ca minh hoạ cho ngữ học. Tác giả đã dựa vào thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, như anh đã trình bày rõ trong một tác phẩm khác về Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), có thể xem như là công trình nghiên cứu cặn kẽ nhất về bước đầu của ngành Thi Học Việt Nam(2). Trong sách này, anh có nhắc lại bài thơ Việt Nam áp dụng sớm nhất lối cách tân này là bài Cảm Hoài của Vương Hải Thiềm (1046-1100) kết hợp vần ca, qua với ma, giai, ngoài khuôn khổ Quảng Vận phương Bắc.

Ngoài đề tài gieo vần, công trình của Nguyễn Tài Cẩn về ngữ âm lịch sử(3), nguồn gốc cách đọc Hán Việt(4) giúp các nhà nghiên cứu thơ cổ điển Việt Nam lý luận, bình giải xác thực hơn. Ví dụ chúng ta biết rõ tiếng Hán có 4 thanh (bình, thượng, khứ, nhập) chuyển sang tiếng Hán Việt thành 8 thanh (ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc khứ, sắc nhập, nặng khứ, nặng nhập)(4). Nền ngữ âm học hiện đại xác nhận điều này(5). Nhờ đó chúng ta có cơ sở cụ thể nhìn rõ đặc tính, nhạc tính, của thơ Việt so với nền thơ gần với chúng ta nhất là thơ Trung Quốc. Chưa kể là Nguyễn Tài Cẩn vạch cho chúng ta thấy nguồn gốc và quá trình của từng phụ âm, từng nguyên âm, là những thành tố cơ bản của Thơ.

Trong Một số Chứng Tích, Nguyễn Tài Cẩn còn lưu tâm về Câu Thơ. Như câu thơ sáu chữ xen giữa thể thất ngôn của Nguyễn Trung Ngạn, trong một cấu trúc không thấy ở thơ Trung Quốc (tr.308). Kỹ thuật này mở đường cho thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm về sau, tạo nên nét đặc thù của nền thơ Việt Nam so với thơ Đường, thơ Tống.

Anh đã dành một chương dài cho câu thơ lục bát, phân tích cấu trúc nội tại của nó, từ vần điệu, thanh điệu đến nhịp điệu, đi đến những "bước" hai tiếng, trong đó xen kẽ những tiếng chính và phụ theo từng vị trí. Và một cặp lục bát, theo anh, có thể biến hoá thành 256 trường hợp khác nhau (tr. 331).

Thông thường, trong thơ các nước và theo lý thuyết, Vần là cách bắt nhịp và phân định ranh giới. Nhưng trong thi luật Việt Nam, vần lưng không đủ cơ sở làm đường ranh giới cắt đôi đơn vị chứa đựng chúng (tr. 320). Âu cũng là nét khu biệt của Thơ Việt Nam trong khoa Thi Học đối chiếu. Trong tinh thần đối chiếu, Nguyễn Tài Cẩn đã lưu tâm đến thể Ca Trù, một thể loại dân gian Việt Nam, được Nguyễn Khuyến sử dụng để làm thơ chữ Hán, uốn nắn câu thơ Đào Tiềm, Lý Bạch, thành thơ Việt, qua hai bài Bùi Viên cựu trạch và Bùi Viên đối ẩm. Sau đó, Nguyễn Khuyến tự dịch ra quốc âm, cũng trong thể ca trù. Nguyễn Tài Cẩn tỏ ra thích thú khi viết về thể hát nói, làm người đọc tiếc rằng anh không đi xa hơn: thế hệ nghiên cứu sau này sẽ không còn những rung cảm như anh khi viết về một thể loại đã mai một; và trong địa hạt thẩm mỹ Hán Việt đối chiếu, sẽ khó có người vừa uyên bác vừa mẫn cảm như anh, dù rằng thao tác này là trách nhiệm của người làm văn học, đúng hơn là của người làm ngữ học.

Anh đã để tâm đến Câu Đối, qua câu đối quốc ngữ hiện đại: Tết tới túng tiền tiêu, tính toán toan tìm tay tử tế, mà anh phân tích và tìm câu đối lại. Đây là bài viết mua vui, nhưng cũng là một gợi ý về Thi Học: câu đối là cách khai thác triệt để hình thức của ngôn từ. Ra câu đối, mục đích chính không phải là đối thoại, mà là để bắt bí người khác, để cho đối phương không thể, hoặc khó có thể trả lời. Ra câu đối, là áp đảo đối phương bằng bạo lực của ngôn từ, dựa trên bạo lực của quyền thế: người trên, kẻ mạnh, thách thức người dưới, kẻ yếu - ít khi có đối thoại bình đẳng và dân chủ. Sử dụng quyền thế, người ra câu đối (thường là ông quan) đã đẩy chức năng thẩm mỹ của ngôn từ đến tận cùng của tình huống.

Do đó, hơn cả Thi Ca, Câu Đối minh hoạ rõ nét chức năng thi pháp của ngôn từ, theo lý thuyết Jakobson. Câu Đối xuất sắc vì tính cách hóc hiểm, kết hợp ngôn từ với tình huống, chứ không phải xuất sắc vì tư tưởng cao siêu: Da trắng vỗ bì bạch là một điển hình.

Nguyễn Tài Cẩn đã đối lại: Rừng sâu mưa lâm thâm, rất chỉnh; tuy không sát với tình huống, câu đáp có giá trị văn học, là một câu thơ hay, man mác u hoài trong vũ trụ mông mênh.

Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu cũng vậy thôi, nó nói lên thân phận nhỏ nhoi của con người trong lịch sử đa đoan, không nhất thiết phải quan hệ với chuyện Ngô Thời Nhậm - Đặng Trần Thường mà tình huống, thật sự, cũng chưa chắc đã có thực. Những câu đối được truyền tụng, xuất sắc vì văn bản; còn tình huống, đôi khi người đời sau bịa đặt, ngụy tạo một hoạt cảnh, trở thành "giai thoại". Các giai thoại văn học về câu đối, thường tái lập ưu thế cho kẻ yếu, tạo cho họ nét thông minh, nhạy bén, dũng cảm, nhưng đây là chuyện xã hội hơn là ngôn ngữ.

Khi luận về Câu Đối, anh Cẩn cao hứng, nhưng vì cả tâm tình và tư duy anh bị điều kiện hoá trong thi pháp, nên anh vẫn tiếp tục đóng góp vào lập thuyết mà không ngờ là mình lập thuyết.

Từ Vựng học, cách sử dụng ngữ vựng, tham dự vào việc phân biệt thơ và văn xuôi: một từ có thể mang giá trị khác nhau trong thơ hay văn xuôi. Trong địa hạt này, Nguyễn Tài Cẩn đã đem lại những kiến thức lịch đại quan trọng, như trong công trình nghiên cứu thơ chữ Hán và chữ Nôm Nguyễn Trãi, hay khi anh phân biệt thơ Nguyễn Trãi với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, trên 27 bài tồn nghi, không rõ của người nọ hay người kia. Anh đã mang lại hai thành tựu: phương pháp khảo sát và phẩm chất những khám phá.

Về phương pháp khảo sát từ vựng, anh đưa ra thống kê: trong 250 bài thơ quốc âm, Nguyễn Trãi dùng 11067 lượt từ, trong đó có 2235 từ khác nhau (tr.197), và những từ lặp lại nhiều lần: Nguyệt (62), Xuân (55), Thu (39), Thế (đời) (42). Nguyễn Trãi chỉ dùng từ rau một lần trong sáu lần nói đến rau, những lần khác dùng từ chính xác: muống, niềng niệng, mồng tơi,... Tỷ lệ từ đơn âm rất cao: 71,2 %, số từ đa âm còn lại, phần lớn là từ thuần Việt: phơ phơ, thơn thớt,... Tóm lại, rất ít từ Hán Việt. Để phân biệt thơ Nguyễn Trãi với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, anh đề nghị dựa trên cách dùng từ và kết hợp từ trong câu, tức cái ngôn ngữ riêng biệt của mỗi tác giả, những chi tiết góp phần làm nên cái gọi là idiolecte (tr. 221) (anh dùng tiếng Pháp trong văn bản). Ví dụ: ở Nguyễn Trãi ao là nơi trồng rau nuôi cá, ở Nguyễn Bỉnh Khiêm là nơi tắm mát.

Phương pháp này tỉ mỉ, khoa học và khách quan. Nó gạt ra hai lối biện luận văn học mà ngày nay ta vẫn còn thấy rơi rớt đâu đó: một là lối tán tụng theo ấn tượng và gây ấn tượng, dựa trên khả năng thêu hoa dệt gấm của người biên khảo; hai là lối phản ảnh: dùng gia thế, sự nghiệp, giai cấp, lập trường, đường lối,... để giải thích, đồng thời "đánh giá" (tr. 220). Phương pháp của Nguyễn Tài Cẩn đáp ứng lại sự "thèm thuồng" của một Nguyễn Tuân: "Tôi vẫn thèm đọc những bài phê bình bàn bạc thêm về văn chương, về phong cách văn tự, về thủ pháp văn học, về nhãn quan mỹ học của tác giả, sau khi mình đã nhận định xong cái phần chất lượng tư tưởng của họ"(6). Câu này Nguyễn Tuân viết năm 1960, lúc đó chưa đọc
Nguyễn Tài Cẩn.

Phương pháp Nguyễn Tài Cẩn đề xuất, tự nó, đã mang phẩm chất về mặt khoa học và thẩm mỹ, nó có tầm quan trọng đặc biệt mà giới làm văn học ngày nay chưa chắc đã lãnh hội và đánh giá đúng mức. Còn những đóng góp cụ thể của anh thì vô cùng vô tận, chỉ người làm công tác học thuật khi đọc, mới thấu triệt được công ơn của anh trong việc tìm hiểu thi ca.

Trong thơ, mỗi một từ có giá trị riêng, và âm vang riêng, tuỳ thuộc vào cái vỏ âm thanh và nội dung đa nghĩa, gọi là nội hàm của nó. Bên cạnh đó, nó còn chịu ảnh hưởng giao thoa về ngữ âm và ngữ nghĩa của những chữ chung quanh. Ví dụ như chữ mùa giàu âm vang và có nhiều nghĩa: Mùa ổi, mùa Gió Chướng, Ba Mùa, Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng, Mùa xưa, Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà... Từ mùa do chữ “vụ” tiếng Hán, là một từ cổ Hán Việt, có trước thời kỳ Hán Việt thế kỷ VIII - IX. Thời xa xưa đó, hai chữ là một, theo Nguyễn Tài Cẩn: “viết vụ đọc mùa”(7). Như vậy mùa có nghĩa mùa màng:

Rồi mùa toóc rã rơm khô
Bạn về quê bạn, biết nơi mô mà tìm

Về sau, mới thêm nghĩa bốn mùa, thời tiết, thời gian, không gian và đèo thêm nội dung tình cảm, u hoài hay hy vọng. Tiếng Anh, Pháp season, saison, cùng một âm vang thi cảm, có lẽ cũng theo quy trình như vậy. Nguyễn Tài Cẩn tỏ ra tâm đắc với chuyện vụ/mùa này nên thường nhắc đi nhắc lại nguồn gốc trong nhiều tác phẩm. Và chúng ta thêm được một kiến thức, hiểu sâu sắc hơn âm vang của chữ mùa trong thi ca dân gian hay hiện đại, hay trong những bài hát của Văn Cao: Từng hẹn mùa xưa..., ngày mùa vui thôn trang..., khi gió mùa thơm ngát....

Trong Một số Chứng Tích có hai bài ước lược và bổ sung cuốn sách(8) Nguyễn Tài Cẩn đã viết về bài thơ chữ Hán của vua Thiệu Trị, bài thất ngôn bát cú tên Vũ Trung Sơn Thuỷ, đọc được 64 cách khác nhau, và anh cho rằng có thể khai triển thành 256 bài. Để người đọc tiện theo dõi anh đã dịch ra tiếng Việt, trong thể tám câu bảy chữ, mà lại đọc được ngần ấy cách, thành ngần ấy bài khác nhau. Âu cũng là một tuyệt chiêu.

Đây là thể thơ “hồi văn” đọc quanh co đi lại đều thành câu, thành bài; đã hồi văn thì phải liên hoàn: lấy câu, hay chữ, cuối bài trước làm câu, hay chữ đầu bài tiếp theo, v.v....

Bài thơ là một "kỹ xảo" của Thiệu Trị, nhưng trong lý thuyết Thi Học có giá trị đặc trưng: thơ là ngôn ngữ dẫm chân tại chỗ, không theo tuyến tính (linéaire). Khi đọc lên thành tiếng thì dĩ
nhiên phải theo thời gian như mọi lời nói. Nhưng nếu chỉ đọc bằng mắt, thì từ ngữ có thể hoán chuyển ngược xuôi. Valéry đã nói đâu đó, đại khái: văn xuôi là đi tới, thơ là khiêu vũ (la poésie est à la prose, ce que la danse est à la marche ), nghĩa là khua đôi chân mà không tiến tới đâu. Văn xuôi là mũi tên phóng về phía trước, thơ là đường kiếm biến hoá không cùng, nhưng vẫn tiến thoái trong vòng tròn của tầm tay.

Văn xuôi thẳng tới: “ta đi tới trên đường ta bước tiếp” theo Tố Hữu; thơ thì lại “lui đôi vai tiến đôi chân, riết đôi vai ngã đôi thân" theo kiểu Vũ Hoàng Chương. Thơ là lối “hồi văn” đi vòng để trở về khởi điểm. Kỹ xảo của Thiệu Trị, vô hình trung, minh hoạ điều này. Càng lý thú hơn nữa khi nghe Nguyễn Tài Cẩn lập luận:

“Bản thân Thiệu Trị chưa hình dung hết tổng số các bài có thể có, các khả năng hồi văn liên hoàn có thể có. Đây là điều không có gì đáng lấy làm lạ, vì cái chuyện ngay tác giả mà cũng không tưởng tượng hết được tất cả các hệ quả của sản phẩm do mình sáng tạo, là một chuyện rất dễ xảy ra, trong cuộc đời, trong khoa học cũng như trong nghệ thuật"(tr. 353).

Đây là lời Nguyễn Tài Cẩn nói về Thiệu Trị. Nay tôi “cóp” nguyên si câu văn để nói về anh, e rằng anh cũng không biết cãi vào đâu. Dành trọn một đời người cho ngữ học, anh chỉ lao tác trong những chuyên đề giới hạn trong nghề nghiệp. Nay nói rằng anh là người nghệ sĩ đặt những nền móng đầu tiên và thiết yếu cho ngành Thi Học lịch đại, nới rộng thành nền Thi Pháp Việt Nam hiện đại, có thể làm anh ngạc nhiên. Nhưng trên thế giới đã có nhiều tiền lệ, như Propp, Jakobson, Kristeva, và bao nhiêu bậc thầy tài danh khác.

Theo lý thuyết ngữ học, ta có thể xem từng mảng đóng góp của Nguyễn Tài Cẩn như những đoản ngữ (syntagme), và toàn bộ trước tác của anh như một từ hệ (paradigme) mà Thi Học là một thành phần thiết yếu. Trong các tác phẩm ngữ học đầu tay, anh là chuyên gia về đoản ngữ(9); trong trước tác về sau, anh ngao du giữa những từ hệ làm nên nền văn học và văn hoá dân tộc, trong tương quan hữu cơ với các nguồn văn hoá của các sắc tộc anh em, của lân bang và thế giới. Từng tác phẩm là Lời Nói (parole), toàn bộ trước tác của anh làm nên Tiếng Nói (langue).

Trên hành trình ngữ học, Nguyễn Tài Cẩn đã nhiều lần ghé lại Bến Thơ. Càng cao tuổi, anh dừng lại càng lâu hơn; cuối cùng, những đoản đình trường đình lại làm nên duyên phận. Ngữ Học của Thơ, với Nguyễn Tài Cẩn, đã hoá thân thành Thơ của Ngữ Học.
Nghĩ cho cùng, con người là toàn diện và duy nhất, làm nghề gì, và sinh sống ở đâu, trong hoàn cảnh nào cũng vậy thôi.

Đ.T
(243/05-09)


-----------------
(1) Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, 2001, Hà Nội
(2) Ảnh hưởng Hán Văn Lý Trần qua Thơ và Ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn, 300 trang, Nxb Giáo dục, 1998, Hà Nội
(3) Lịch sử Ngữ âm Tiếng Việt, 350 trang, Nxb Giáo dục, 1995, Hà Nội
(4)
Nguồn gốc và Quá trình hình thành Cách đọc Tiếng Việt, 360 trang, nxb Đại học Quốc Gia, 2000, Hà Nội.
(5) Đoàn Thiện Thuật, Ngữ Âm Tiếng Việt, tr.143, Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, 1980, Hà Nội.
(6) Nguyễn Tuân, Chuyện Nghề, tr.72, Nxb Tác Phẩm Mới, 1986, Hà Nội
(7) Một số vấn đề về chữ Nôm, tr.25, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 300 trang, 1985, Hà Nội
(8) Tìm hiểu Kỹ xảo trong bài Vũ Trung Sơn Thủy của Thiệu Trị, 450 trang, Nxb Thuận Hoá, 1998, Huế.
(9) Từ loại Danh Từ trong tiếng Việt hiện đại (1960) 300 trang, Nxb Khoa học Xã hội, 1975, Hà Nội.
Ngữ Pháp Tiếng Việt, tiếng, từ ghép, đoản ngữ, 400 trang, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1975, Nxb Đại học Quốc gia tái bản, 1996, Hà Nội.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN THANH HÀTrong giới học thuật, Trương Đăng Dung được biết đến như một người làm lý luận thuần tuý. Bằng lao động âm thầm, cần mẫn Trương Đăng Dung đã đóng góp cho nền lý luận văn học hiện đại Việt đổi mới và bắt kịp nền lý luận văn học trên thế giới.

  • PHẠM XUÂN PHỤNG Chu Dịch có 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào. Riêng hai quẻ Bát Thuần Càn và Bát Thuần Khôn, mỗi quẻ có thêm một hào.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNPhan Đăng Dư, thân phụ nhà cách mạng Phan Đăng Lưu là người họ Mạc, gốc Hải Dương. Đời Mạc Mậu Giang, con vua Mạc Phúc Nguyên lánh nạn vào Tràng Thành (nay là Hoa Thành, Yên Thành, Nghệ An) sinh cơ lập nghiệp ở đó, Phan Đăng Dư là hậu duệ đời thứ 14.

  • HỒ THẾ HÀLTS: Văn học Việt về đề tài chiến tranh là chủ đề của cuộc Toạ đàm văn học do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức ngày 20 tháng 12 năm 2005. Tuy tự giới hạn ở tính chất và phạm vi hẹp, nhưng Toạ đàm đã thu hút đông đảo giới văn nghệ sĩ, nhà giáo, trí thức ở Huế tham gia, đặc biệt là những nhà văn từng mặc áo lính ở chiến trường. Gần 20 tham luận gửi đến và hơn 10 ý kiến thảo luận, phát biểu trực tiếp ở Toạ đàm đã làm cho không khí học thuật và những vấn đề thực tiễn của sáng tạo văn học về đề tài chiến tranh trở nên cấp thiết và có ý nghĩa. Sông Hương trân trọng giới thiệu bài Tổng lược và 02 bài Tham luận đã trình bày ở cuộc Toạ đàm.

  • TRẦN HUYỀN SÂM1. Tại diễn đàn Nobel năm 2005, Harold Pinter đã dành gần trọn bài viết của mình cho vấn đề chiến tranh. Ông cho rằng, nghĩa vụ hàng đầu của một nghệ sĩ chân chính là góp phần làm rõ sự thật về chiến tranh: “Cái nghĩa vụ công dân cốt yếu nhất mà tất cả chúng ta đều phải thi hành là... quyết tâm dũng mãnh để xác định cho được sự thật thực tại...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG"HỘI CHỨNG VIỆT NAM"Trong lịch sử chiến tranh Mỹ, thì chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh mà người Mỹ bị sa lầy lâu nhất (1954-1975), và đã để lại những hậu quả nặng nề cho nước Mỹ. Hậu quả đó không chỉ là sự thất bại trong cuộc chiến, mà còn ở những di chứng kéo dài làm ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống Mỹ, mà người Mỹ gọi đó là "Hội chứng Việt Nam".

  • BÍCH THUNăm 2005, GS. Phong Lê vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học với cụm công trình: Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu (Nxb ĐHQG, H, 2001, 540 trang); Một số gương mặt văn chương - học thuật Việt hiện đại (Nxb GD, H, 2001, 450 trang); Văn học Việt hiện đại - lịch sử và lý luận (Nxb KHXH. H, 2003, 780 trang). Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học say mê, tâm huyết và cũng đầy khổ công, vất vả của một người sống tận tụy với nghề.

  • THÁI DOÃN HIỂU Trong hôn nhân, đàn bà lấy chồng là để vào đời, còn đàn ông cưới vợ là để thoát ra khỏi cuộc đời. Hôn nhân tốt đẹp tạo nên hạnh phúc thiên đường, còn hôn nhân trắc trở, đổ vỡ, gia đình thành bãi chiến trường. Tình yêu chân chính thanh hóa những tâm hồn hư hỏng và tình yêu xấu làm hư hỏng những linh hồn trinh trắng.

  • NGUYỄN THỊ MỸ LỘCLà người biết yêu và có chút văn hóa không ai không biết Romeo and Juliet của Shakespeare, vở kịch được sáng tác cách ngày nay vừa tròn 410 năm (1595 - 2005). Ngót bốn thế kỷ nay Romeo and Juliet được coi là biểu tượng của tình yêu. Ý nghĩa xã hội của tác phẩm đã được thừa nhận, giá trị thẩm mĩ đã được khám phá, hiệu ứng bi kịch đã được nghiền ngẫm... Liệu còn có gì để khám phá?

  • NGUYỄN VĂN HẠNH1. Từ nhiều năm nay, và bây giờ cũng vậy, chúng ta chủ trương xây dựng một nền văn nghệ mới ngang tầm thời đại, xứng đáng với tài năng của dân tộc, của đất nước.

  • HỒ THẾ HÀ(Tham luận đọc tại Hội thảo Tạp chí văn nghệ 6 tỉnh Bắc miền Trung)

  • LÊ GIA NINHNgày 10 tháng 10 năm 1955, Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bừng lên niềm vui, ngập trong cờ, hoa và nắng thu. Những chàng trai ngày “ra đi đầu không ngoảnh lại”, trải qua cuộc trường chinh ba ngàn ngày trở về trong niềm vui hân hoan và những dòng “nước mắt dành khi gặp mặt” (Nam Hà).

  • THANH TÙNGChống tham nhũng, đục khoét dân lành không chỉ là công việc của nhà chức trách mà còn ở tất cả mọi người dù ở chế độ xã hội nào. Các thi sĩ không chỉ làm thơ ca ngợi cuộc sống tình yêu, đất nước con người mà còn dùng ngọn bút thông qua nước thi phẩm của mình để lên án, vạch mặt bọn quan tham này.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNTrong lịch sử các nhà khoa bảng ở Việt , ít có gia đình nào cả ba ông cháu, cha con đều đỗ Trạng nguyên. Đó là gia đình Trạng nguyên Hồ Tông Thốc ở Kẻ Cuồi, Tam Công, Thọ Thành, Yên Thành, Nghệ An.

  • PHẠM XUÂN NGUYÊN1. Trước hết ta phải bàn với nhau về chữ hay, tức thế nào là một tác phẩm hay. Bởi cái hay không bất biến trong không gian và thời gian, nó vận động và biến đổi tùy theo hoàn cảnh, với những tiêu chí cụ thể khác nhau.

  • TRẦN HUYỀN SÂMRuồng bỏ - Disgrace (1) là một cuốn tiểu thuyết mang phong cách giản dị. Nhưng đó là sự giản dị của một bậc thầy về thể loại roman. Giới lý luận văn học và các chính trị gia phương Tây (2) đã đặt ra những câu hỏi có tính hoài nghi. Điều gì ở cuốn sách có độ trang khiêm tốn này đã mang lại giải Nobel cho Coetzee: Vấn đề kỹ thuật tiểu thuyết, nỗi điếm nhục về nhân cách con người, hay là bi kịch lịch sử hậu Apartheid?

  • NGUYỄN THÀNHLịch sử phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX đánh dấu bởi nhiều khuynh hướng phê bình hiện đại: phê bình ấn tượng, phê bình phân tâm học, phê bình xã hội học, phê bình mác xít, phê bình thi pháp học...

  • TRẦN LỘC HÙNG“NỒI HƠI NGUYÊN TỬ” NGĂN NGỪA THẾ CHIẾN THỨ BAChuyện kể rằng sau cuộc thử nghiệm thành công của trái bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1949, cha đẻ của nó - Igor Vaxilevich Kurchatov - đã khóc nức nở.

  • HÀ VĂN THỊNHSố 7 là một con số huyền thoại. Nếu như tính xuất xứ xa nhất, công đầu về việc “tìm ra” số 7, thuộc về người Ai Cập, cách nay ít nhất 5.000 năm. Khi hiểu được rõ ràng việc con sông Nil chia làm 7 nhánh trước lúc đổ ra Địa Trung Hải, người Ai Cập vận “lý” để tin là nó nhất định phải hàm chứa nghĩa bí ẩn nào đó phản ánh cái “tư tưởng” triết lý của Đấng Tạo hóa.

  • TRẦN VIẾT THIỆNNăm 1987, người ta từ ngạc nhiên, ngỡ ngàng đến sững sờ trước sự trình làng của một cây bút đã vào độ tứ tuần. Tuổi bốn mươi lại là thời kỳ son sắt nhất của cây bút này, nói theo quan niệm của ông: “Đời viết văn cũng giống như đời người đàn bà”.