TRIỆU BÔN
Có khá nhiều giai thoại về ông già Nhậm ở xóm Giếng. Một trong những giai thoại được truyền tụng lâu nhất là chuyện ông rèn thanh gươm báu, từ hồi Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Minh họa: Phạm Đại
Chuyện kể rằng dạo ấy để chuẩn bị cướp chính quyền từ tay thực dân Pháp, nhà nhà, người người đều đua nhau tạo cho mình một thứ vũ khí. Ở nông thôn, thứ vũ khí thông dụng nhất là đinh ba, giáo, gươm. Trong lúc khắp làng rậm rịch tiếng người tập võ, tiếng xoèn xoẹt những lưỡi thép mài trên đá, nhà ông Nhậm vẫn im re. Có người hỏi ông Nhậm ơi, nay mai ông định dùng cùi chõ mà đi cướp huyện, cướp tỉnh à. Ông Nhậm chỉ mỉm cười một cách cao ngạo:
- Các người cứ lo cho phận các người. Nhậm đây tuy hèn mọn, nhưng chỉ thổi một cái cũng đủ bay mấy thằng Tây, cần gì phải giáo với mác.
Gớm chưa! Để rồi xem cái lão khoác lác ấy làm thế nào.
Bỗng dưng ông Nhậm như biến khỏi làng. Ban ngày chẳng ai thấy ông ló mặt ra khỏi nhà. Còn ban đêm, ông cài chặt cửa, nện búa choang choang trong buồng. Sau bảy, tám đêm như thế, một hôm cả làng đổ về đám sân đất nhà ông Nhậm để chứng kiến một sự lạ. Ông Nhậm mặc áo thụng xanh, ngang lưng thắt khăn nhiễu điều, đầu chít khăn mỏ rìu bằng vải vàng. Ông lập một bàn thờ ở giữa sân, khói hương nghi ngút, rồi đặt ngang thanh gươm sáng quắc lên đó mà sì sụp khấn vái. Ở giữa sân, ông chôn một cây cột gỗ xoan to như bắp đùi. Bên cạnh cây cột gỗ là một khúc xà beng sắt to như cây mía, cũng được chôn rất chắc chắn.
Khấn vái xong, ông Nhậm nâng thanh gươm trên hai tay, cúi chào bà con họ mạc đang đứng xúm đen xúm đỏ ngoài bờ sân, đoạn hét một tiếng vang như sấm, thanh gươm vung loang loáng mấy vòng. Và... phập. Cây cột gỗ lim đứt đôi, nửa trên bay ra tận vườn cà. Bà con ai nấy trông mà chết khiếp. Nhưng chưa hết. Ông Nhậm đi mấy đường gươm nữa, rồi lại phập một tiếng, lửa tóe lên chói mắt, cây xà beng sắt đứt phăng làm hai khúc. Còn lưỡi gươm trong tay ông Nhậm thì vẫn nguyên si. Dân làng chạy vào xem tịnh không thấy nó bị sứt mẻ chút nào hết...
Người ta vẫn bảo thuở xưa có những thanh bảo kiếm chém sắt như chém bùn. Quả không ngoa. Nhưng thanh gươm quí ấy đâu rồi? Thanh gươm ông Nhậm rèn được ấy?
Nghe đâu ông đã trao cho một người trai xóm Giếng, khi người này đi Vệ Quốc Đoàn và lên đường Nam tiến đánh Tây.
Ông Nhậm không có con trai. Ấy đó mới là nỗi buồn nặng nề nhất trong suốt cả cuộc đời ông.
Rèn xong thanh gươm báu, đủ làm xôn xao thiên hạ một dạo, rồi ông Nhậm lại trở lại cuộc sống ngày ngày buộc dúm lá chuối khô lên đầu cây sào dài làm cờ đi chăn vịt ngoài đồng. Hết mùa nuôi vịt, ông đi câu cá chuối. Cái cần câu dài như cả cây tre, một đầu bị ông kẹp giữa hai đùi, đầu kia nhún nhảy cho con nhái mắc đầu lưỡi câu nhảy tí tóp trên mặt nước ao bèo. Tối về ông om cá chuối với mẻ, với vài quả chuối xanh bẻ sau nhà, ngâm nga nhắm rượu một mình tới khuya.
Rồi đến cuộc kháng chiến chín năm. Khi súng đạn đang ì ùm, chín năm thời loạn dài dằng dặc như hàng thế kỷ. Nhưng khi đã thắng lợi, ngoảnh nhìn lại, ai cũng ngỡ ngàng, tưởng như cụ Hồ kêu gọi toàn dân đứng lên đánh giặc mới chỉ là chuyện của ngày hôm qua. Ông Nhậm thì đã bước sang cái thời kì được nhiều người kính cẩn gọi bằng cụ. Mỗi lần gội đầu thấy những sợi tóc bạc rụng xuống thau nước ông lại bùi ngùi biết cuộc đời chẳng còn mấy nả.
Những người tài, bất kể thuộc lĩnh vực nào, nếu không được trọng dụng, khi trở về già đều ôm một tâm trạng giống như ông Nhậm: Những hiểu biết, những chiêm nghiệm được dành dụm, gom góp suốt cả cuộc đời mà chẳng biết để làm gì, và mai mốt biết truyền lại cho ai?
Rồi đến cái thời làng nước nô nức vào hợp tác xã. Tất tần tật đều được đưa lên "hợp tác" -: hợp tác cắt tóc, hợp tác chăn vịt, hợp tác đan thúng mủng dần sàng,... Ai không vào hợp tác xã tức là xếp mình đứng tách ra khỏi xã hội, giỏi mấy cũng vẫn bị coi là đồ bỏ đi. Ông Nhậm sợ nhất là nỗi cô đơn, nên cũng nộp đơn xin vào hợp tác xóm Giếng. Nhưng, nghe đâu có một gã thợ rèn trên làng Ngò, một gã bướng bỉnh, mặt trơ trán bóng, nhất định không chịu vào hợp tác. Bị bà con xóm giềng chì chiết, khinh khi, gã cũng mặc.
Riêng ông Nhậm, dù chưa hề giáp mặt cái gã thợ rèn ương ngược ấy, ông vẫn đinh ninh đó là một đứa ngu, hoặc một đứa ngông cuồng dám vác gậy chống trời, chẳng mấy nỗi sẽ lụn bại cho mà xem.
Hợp tác xã xóm Giếng xếp ông Nhậm vào đội chăn nuôi. Bên đội trồng trọt, có một sự thay đổi đáng kể. Nghe nói trồng thuốc lào hời hơn trồng lúa, người ta liền phá đi mấy mẫu đất trồng lúa để trồng thuốc Lào. Trồng thuốc thì phải thái thuốc. Thái thuốc thì cần có dao tốt. Những con dao thái thuốc mậu dịch bán, thái chỉ được mấy nhát đã cùn trơ. Bực mình, có một nhóm người ở đội trồng thuốc bàn trộm với nhau: Thử lên Ngò, đặt cái gã lò rèn cá lẻ ấy rèn cho một con dao thái thuốc xem sao. Đặt cái gã làm ăn lẻ ấy đánh dao, tức là mình cũng còn mang tư tưởng cá lẻ. Nhưng bí quá, đành muối mặt làm càn vậy...
Việc thái thuốc là của những người ở đội trồng thuốc, chẳng dính gì đến ông Nhậm. Nghe nói bên ấy không có dao thái tốt, ông đã toan mở lại lò rèn của mình, nhưng mà thôi. Ăn có mời, làm có khiến. Ban quản trị không phân công, tội gì ông lại ngửa tay hứng việc. Khổ một nỗi một cái tính tò mò thì ông Nhậm không thể dẹp được. Một hôm, nhân lúc buổi trưa vịt ăn no nằm ngủ dưới chân tre, ông Nhậm lững thững đi vào chơi trong "xưởng" thái thuốc. Trời nóng hầm hập, mà trong "xưởng" vẫn có mấy người đang làm. Một người gò lưng thái, vài người khác ngồi bên, ra vẻ chầu chực chuyện gì.
- Làm thế này thì để đâu cho hết công điểm? - Ông Nhậm hỏi đùa.
Một người đang cầm cái nón mê quạt, ngẩng lên đáp:
- Chào cụ. Cả đội có một con dao tốt, thành thử chúng tôi cứ phải luân phiên nhau...
- Dao tốt đâu. Xem nào?
Anh xã viên buộc lòng phải ngừng tay thái thuốc, đưa con dao cho ông Nhậm xem. Ông cầm con dao giơ ra phía cửa sáng, nheo nheo mắt nhìn, vuốt nhẹ mấy đầu ngón tay dọc má lưỡi thép. Khi trả lại con dao, ông trầm ngâm một lúc lâu rồi mới hỏi:
- Dao làng Ngò. Phải không?
Mấy người thợ thái thuốc đưa mắt ra hiệu cho nhau. Một người vội chối:
- Dao mậu dịch đấy chứ cụ!
Ông Nhậm lắc đầu, biết là họ nói dối. Nhưng ông không nói gì thêm, chỉ lẳng lặng bước ra khỏi "xưởng".
Hôm sau, ông Nhậm báo cáo với ông đội trưởng đội chăn nuôi, xin nghỉ vài ngày để đi thăm một người bà con ở xa. Dù chưa bao giờ nghe nói ông Nhậm có bà con ở xa, nhưng nể lòng, ông đội trưởng vẫn gật đầu chấp nhận.
Hôm sau nữa, ông Nhậm nắm một nắm cơm, lại xách thêm chai nước vối, lên đường từ lúc trời chưa tan sương. Mãi xế chiều ông mới đến được chợ Ngò. Nhờ tiếng búa cái nện chuyền đất, ông Nhậm tìm đến cái gã lò rèn cá lẻ kia chẳng khó khăn gì. Lò rèn của gã đặt dưới gốc một cây đa cổ thụ, cạnh bờ sông. Hai tấm cót được dựng trên đầu cọc để che cho nắng chiều khỏi hắt vào. Gã đang xoay trần, tay cầm búa con gõ lanh canh trên mặt đe, giữ nhịp cho một cậu con trai chưa đến tuổi thanh niên vươn người quai búa cái.
Ông Nhậm đứng ngoài để quan sát hình dong cái gã bất trị này. Gã trạc bốn mươi tuổi, lưng dài vai rộng, mặt vuông, quai hàm bạnh, cặp lông mày rậm như hai con sâu róm bò bên dưới vầng trán dô đen nhếnh nháng mồ hôi. Nhác trông hình dáng của gã, trong lòng ông đã thầm mến, nếu như không bị cái định kiến về những kẻ "thành phần cá lẻ" ám ảnh.
Thanh sắt trên đe đã nguội đen. Gã thợ rèn lùi nó vào lò than. Cậu con trai rất biết việc liền nhanh nhẹn chạy lại nắm lấy hai cuống bễ, bắt đầu thụt lửa phì phù. Ông Nhậm vẫn đứng yên nhìn ngắm, có ý chê. Giữa thời buổi bây giờ mà gã không thèm sắm lấy một cái quạt chong chóng, vẫn dùng cặp bễ dựng đứng, đứng y hệt cái thuở ông Nhậm còn để tóc trái đào, theo bố đi mở lò rèn rong trong khắp các làng mạc. Chợt gã lò rèn ngẩng lên.
- Cụ muốn rèn gì đấy?
- À à. Cũng có chút việc muốn nhờ anh...
- Việc gì, cụ?
- Anh cứ làm xong cái gì đi đã.
- Vâng. Mời cụ ngồi vào đây nghỉ cho mát - Gã vừa nói vừa chỉ quãng bóng mát sau gốc đa.
Vài chục phút sau gã thợ rèn đã làm thành khí một con dao pha. Gã dùng kìm ném con dao còn lam nham ra bãi cỏ, làm cho đám cỏ bén lửa cháy bùng lên thành ngọn.
- Nào - gã quay lại phía ông Nhậm - Cụ định đặt tôi làm dao hay làm cuốc?
- Gượm đã - ông Nhậm nói - Vậy chứ anh không có điếu cầy hay sao?
Gã cười toét miệng, khiến ông Nhậm nhận ra tính tình gã hồn nhiên. Thảo nào... Phải là người có tính bất cần đời ghê gớm lắm mới dám đứng ra làm ăn cá lẻ, trêu ngươi thiên hạ đến thế. Gã vừa nói vừa xoay người kéo chiếc áo cánh nâu móc vào gốc đa, rứt ra một bao thuốc lá Bông Lúa:
- Mời cụ xơi tạm điếu thuốc lá. Lúc làm việc tôi ngại hút thuốc lào. Mất việc lắm.
Ông Nhậm rút một điếu thuốc gã mời. Gã bẻ một thanh tre, tước ra, định đút vào lò than châm lửa. Nhưng, ông Nhậm bất ngờ nẩy ra một ý, liền giơ tay ngăn gã lại.
- Gượm đã. Tôi có cách châm lửa khác. Cho tôi nhờ cái đe nhỏ...
Gã đưa cho ông Nhậm một khúc sắt từ thanh ray đường xe hỏa mà gã vẫn dùng làm đe nhỏ. Ông Nhậm lại chỉ đôi búa tay, nói:
- Cho tôi mượn.
Ông Nhậm cầm hai chiếc búa tay to bằng quả dưa chuột, nhấc nhấc, thấy một chiếc hơi nhẹ hơn chiếc kia, ông tự tiện lục trong hòm gỗ của gã thợ, tìm chiếc búa khác. Đoạn, ông ngồi ngay ngắn, hai chân dang ra thành một thế cân bằng, rất thoải mái, và, đột nhiên đôi búa trên tay ông giọt xuống mặt đe liên hồi. Những tiếng búa sít sịt tạo thành một âm thanh chói gắt, kéo dài, nghe như có ngọn roi kỳ lạ đang quất vào không khí. Gã thợ rèn sững sờ không thể tưởng tượng con người có thể giọt búa nhanh và đều một cách thần tình như thế. Chừng nửa phút sau, ông Nhậm quẳng đôi búa tay ra, đôi mắt sáng rực vì hả hê. Ông chỉ xuống mặt đe, bảo gã thợ:
- Châm đi!
Gã thợ càng bàng hoàng khi nhận ra giữa mặt đe vừa xuất hiện một đốm lửa tròn như hạt đậu, đỏ hồng màu cánh sen.
- Châm đi, kẻo nó nguội mất - ông Nhậm giục. Nhưng gã thợ rèn cá lẻ không làm theo mệnh lệnh của ông. Gã nhẩy một bước qua cái lò than đang đỏ, rồi quay lại, quì thụp xuống, hai tay chắp lại, vái ông Nhậm một vái vô cùng tôn kính.
- Lạy thầy - gã lắp bắp, mồ hôi túa ra đầy mặt vì xúc động - Đời xưa tiên, phật vẫn thường giả dạng những cụ già quê kệch như thế này!...
Buổi tối hôm đó, gã thợ rèn cá lẻ mời ông Nhậm về nhà, tôn làm thượng khách. Gã sai bảo vợ con giết gà, mua rượu tăm về làm cơm. Gã tự tay múc nước cho ông Nhậm rửa ráy, xách guốc đặt vào tận chân ông để ông rửa chân. Từ giường chiếu, chăn màn đến từng cái tăm, nhất nhất gã đều đòi được hầu hạ ông theo đúng đạo thầy trò. Thấy vậy, ông Nhậm lấy làm ngượng ngùng, hỏi gã:
- Anh biết tôi chỉ là một người làm ruộng ở thôn quê ta đây. Cớ sao anh lại bày vẽ ra lắm sự phiền phức làm vậy?
Gã lại chắp tay, rất mực cung kính trả lời ông:
- Dạ thưa thầy. Người chốn thôn quê cũng có dăm bẩy đường. Con tuy không giỏi giang gì, nhưng cũng võ vẽ đọc được ít nhiều sử sách nước ta. Đến như đại tướng Phạm Ngũ Lão mà cũng có lúc phải ngồi đan giỏ giữa đường. Nay thầy đã lặn lội từ xuôi lên đây, chắc là thầy muốn dạy bảo con nhiều điều hay...
Đến đây ông Nhậm đành gật đầu công nhận:
- Anh đoán đúng. Tôi có dăm ba bí quyết nghề rèn. Hiềm một nỗi thời buổi bây giờ chẳng dùng làm gì được. Sợ nay mai tôi phải về với ông bà, thì phí quá. Nếu anh còn yêu cái nghề này, tôi khuyên anh gắng chịu khó mà học lấy...
Thế là ông Nhậm ở chơi trên làng Ngò gần một tuần lễ. Mấy ngày đó cái lò rèn dưới gốc đa lạnh tanh. Bao nhiêu người đến đặt làm dao, làm cuốc, anh "phó rèn" đều từ chối. Anh đóng chặt cổng, rồi chọn những loại than tốt nhất, thép tốt nhất, mở hẳn một lò rèn ở gian giữa nhà để ông Nhậm "truyền đạo" cho.
Hình như đó là những ngày hạnh phúc nhất trong đời ông Nhậm. Khi về nhận lại đàn vịt ở hợp tác xã xóm Giếng bà con ai cũng ngạc nhiên không hiểu vì sao tự dưng ông lại thay da đổi thịt, khiến gương mặt ông lúc nào cũng sáng láng, và nụ cười của ông thì hiền từ, phúc hậu vô cùng.
Gần chục năm sau cái cuộc hội ngộ thắm thiết giữa ông Nhậm và anh "phó rèn" làng Ngò, một hôm, có một chiếc xe con từ tỉnh đánh lên Ngò. Người từ xe bước ra ăn mặc rất sang trọng, nhưng lại hỏi thăm khắp xóm để tìm anh phó rèn nọ. Ở nhà máy thuốc lá của tỉnh vừa bị gẫy mất một lưỡi dao thái. Lưỡi dao này trong nước ta không làm được, phải bỏ đô la ra mua của nước ngoài. Vì vậy, nghe danh tiếng anh phó rèn làng Ngò, ông giám đốc nhà máy thuốc lá đã thân chinh tìm đến, thử xem anh có khắc phục được sự cố này không.
Sau khi nghe ông giám đốc trình bày cặn kẽ sự tình, anh phó rèn nghĩ ngợi hồi lâu rồi nói:
- Tôi có thể đảm đương được việc này. Nhưng để cho chắc chắn, tôi phải đến thưa với ông thầy của tôi đã. Nếu thầy tôi chịu ra tay, việc này chắc xong.
- Ông thầy của anh hiện ở đâu? Nếu cần, anh cứ lấy xe của tôi mà đi!
Buổi chiều hôm ấy chiếc xe của ông giám đốc dừng lại ở ngõ ba xóm Giếng. Ông thợ rèn làng Ngò tất tưởi chạy đến nhà ông Nhậm với bao hy vọng và hân hoan. Nhưng, một người hàng xóm bảo ông ta rằng cụ Nhậm không còn nữa. Cụ mất cách đây đã gần một năm.
11-9-1988
T.B.
(TCSH40/01-1990)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.