Người nhận mình là Đactanhang

16:56 10/03/2010
BẾ KIẾN QUỐCNăm ấy, vào quãng mùa hè 1982, khi đang trực Ban văn xuôi của báo Văn Nghệ, tôi nhận được một bản thảo truyện ngắn kèm theo lời nhắn: “ Cái truyện này rất quan trọng đối với tôi. Rất mong được tòa soạn đọc kỹ và cho ý kiến. Mấy hôm nữa tôi sẽ quay lại”.

Nhà văn Nguyễn Văn Thọ - Ảnh: xaluan.com

Tôi đọc ngay, và thấy đó là một truyện ngắn hay, viết về đề tài chiến tranh, tác giả có giọng văn trữ tình trong sáng và rất trân trọng những kỷ niệm của thời cầm súng vừa qua. Mấy hôm sau, tác giả truyện ngắn đó tới tòa soạn: một thanh niên cao gầy, xương xẩu, rắn chắc, má hóp, lưỡng quyền cao, trán dô, hốc mắt sâu, ánh mắt sắc... trông hơi dữ tướng. Tôi không hề hình dung tác giả của cái truyện ngắn đầy chất thơ kia lại là người như vậy. Khi tôi nói lại nhận xét của mình về truyện của anh, tác giả không giấu sự sung sướng, bắt tay tôi chặt đến hơi đau, và cười ha hả: “ Có thế chứ! Có thế chứ!” Rồi sau khoảng một hai tuần, truyện ngắn ấy được in ra. Đó là truyện “ Sương rơi” truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Văn Thọ. Tình bạn thân thiết của chúng tôi cũng bắt đầu từ năm ấy, cho tới giờ.

Thọ có tướng con nhà võ nhiều hơn là con nhà văn: đi đứng mạnh mẽ, giọng nói oang oang, tay chân cứng cỏi. Thoạt trông, người ngoài có thể hơi... ngài ngại. Giới thiệu Thọ với người khác, bao giờ tôi cũng phải chua thêm: “ Trông tướng tá như thế, nhưng bên trong là một con người rất mềm yếu, hơi ủy mị nữa đấy! Và cực kỳ tốt bụng! Một người nghĩa hiệp!” Lời giới thiệu đó của tôi luôn luôn được bạn bè chứng nhận là rất đúng về Thọ, khi họ đã tiếp xúc với anh.

Chúng tôi thường gọi anh với cái tên thân mật: “ Thọ Muối”. Bởi, khi tôi quen Thọ, anh đang làm Chánh văn phòng Tổng công ty Muối. Khi ấy, tôi đã đùa tặng Thọ một câu trong Kinh Thánh: “ Các ngươi là muối của đất...” Thọ rất thích câu đó, về sau, anh còn có một truyện ngắn đặt tên là “ Muối mặn” in trên báo Văn Nghệ (Từ gợi ý của cốt truyện này, Lưu Quang Vũ đã viết vở kịch “ Muối mặn tình đời”)

Những truyện ngắn của Nguyễn Văn Thọ đúng như con người anh: giàu tình nhân ái, giàu chất trữ tình. Và phần lớn đều viết về người lính. Nhiều năm cầm súng trực tiếp chiến đấu ngoài chiến trường, Nguyễn Văn Thọ giữ nguyên vẹn trong con người mình phẩm chất của một người chiến sĩ có lý tưởng. Cho đến tận bây giờ, dù thời cuộc đã có bao đổi thay... Đọc truyện ngắn mới nhất của anh, truyện “ Vườn Maria” (đăng trên Văn Nghệ đầu năm 1999), ta sẽ nhận ra điều ấy.

Nguyễn Văn Thọ vẫn là một người lính, ngay cả khi anh được rời quân ngũ về công tác ở Tổng công ty Muối, ngay cả khi anh sang làm đội trưởng một đội lao động Việt Nam ở bên Cộng hòa Dân chủ Đức, ngay cả khi bức tường Bá Linh sụp đổ và anh ở lại kiếm sống tự do. Tôi phải nói ngay rằng cho tới nay, Thọ vẫn là một đảng viên.

Bất ngờ đối với chúng tôi (B.K.Q., Đỗ Bạch Mai, Thành Chương, Nguyễn Việt Chiến, những người bạn quen biết Thọ từ khá lâu) là trong dịp về nước ăn Tết năm 1997, Tho bỗng rụt rè bộc lộ rằng anh có làm một vài bài thơ. Nhưng thật sự thì con người ấy không thể không làm thơ, không thể không bị thơ hành. Và, chỉ trong thời gian hai tháng mùa xuân năm ấy, Nguyễn Văn Thọ viết hàng chục bài thơ. Trở lại nước Đức, thơ vẫn không buông tha anh. Liên tục chúng tôi nhận được những bài thơ mới của anh fax về, nhiều khi anh đọc thơ trên điện thoại đường dài khiến ai cũng xót tiền! Và, tập thơ đầu của Nguyễn Văn Thọ xuất bản năm 1998, tập “ Mảnh vỡ”, rồi tập thứ hai năm 1999, tập “ Cửa sổ”, khẳng định rõ thêm một giọng thơ khá đặc sắc, đáng trân trọng. Thơ, từ một phía khác, cho thấy rõ hơn con người Nguyễn Văn Thọ: đằng sau tất cả những nghĩ suy dằn vặt, trăn trở trước thời cuộc, vẫn là một bản lĩnh tư tưởng, vẫn là một tình yêu thiết tha với xứ sở quê hương, vẫn là một tâm hồn giàu lòng nhân ái, thèm khát sự cảm thông, thương mến giữa người với người...

Nguyễn Văn Thọ xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn nghệ. Cha anh, họa sĩ Nguyễn Văn Thiệu, đã tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông còn là một nghệ nhân đàn đáy rất tài hoa. Người cha ấy có một ảnh hưởng quyết định đối với sự hình thành nhân cách của Thọ. Trong gia đình anh, còn có một người em trai, Nguyễn Thước, là quay phim của Hãng phim Thời sự, Tài liệu, và hai anh em thường coi nhau như hai người bạn cùng theo đuổi con đường nghệ thuật.

Ngoài ra, còn bạn bè. Chúng tôi có những đêm thức trắng cùng nhau ở nhà họa sĩ Thành Chương chuyện trò, đàm đạo văn chương, nghệ thuật, hoặc xúm vào sửa thơ cho nhau, tranh cãi nhiều khi nảy lửa. Cũng có nhiều đêm lang thang đường phố Hà Nội tới sáng, la cà quán ăn, quán uống, hoặc vỉa hè, chơi đùa vui vẻ cùng nhau... Trong một bài thơ, Thọ đã gán cho bộ ba Chương- Quốc- Chiến là ba chàng ngự lâm quân (theo tiểu thuyết của A. Đuyma) và tự nhận mình là Đactanhang. (Thật ra, Thọ lại nhiều tuổi nhất trong bọn). Chẳng biết chúng tôi đã phải là ba chàng ngự lâm mệt mỏi rồi chưa, nhưng Nguyễn Văn Thọ thì đúng là còn đang sung sức, đang dồi dào nhiệt huyết lắm lắm. Và chắc chắn anh chàng Đactanhang ấy sẽ còn lập được nhiều chiến công mới nữa, trong văn chương...

Hà Nội, tháng 9- 1999
B.K.Q
(132/02-2000)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.

  • Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.

  • PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.

  • ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.

  • NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".

  • HOÀNG KIM DUNG      (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập  truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)

  • PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...

  • Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.

  • ANH DŨNGLTS:  Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.

  • SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?

  • MINH QUANG                Trời tròn lưng bánh tét                Đất vuông lòng bánh chưng                Dân nghèo thương ngày Tết                Gói đất trời rưng rưng...

  • NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.

  • Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.

  • NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.

  • ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.

  • HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.

  • FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.

  • KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.