Người kể lại những “Khúc nhạc đời”

17:14 09/06/2008
Lần đầu đến Huế, ôm mộng ngắm bóng áo dài Đồng Khánh, tôi nghe một anh bạn vốn là một gã nhà báo kỳ cục bảo: “Mày nên gặp bà Thanh Tâm mà xin nghe ca Vè nữ sinh Đồng Khánh”.

Lại là Thanh Tâm. Tôi chợt nhớ lời chị tôi: “Ca Huế cổ kính thì gặp bà Minh Mẫn, còn nghe ca đài các sang trọng thì gặp cô Thanh Tâm”. Trong suốt chuyến vô Huế lần đó, cái tên Thanh Tâm cứ được nhắc tới hoài. Không ít người bảo: “Gặp cô Thanh Tâm à? Khó đấy!”. Mà quả là lần ấy, có lẽ duyên chưa tới nên tôi không tìm được lúc nào thư thả để gặp cô.
Hai năm sau tôi trở lại Huế, khi cái lạnh của đợt trường rét vẫn còn theo chân những màn mưa bụi trượt trên những lớp ngói Ngọ Môn. “Anh về mô?”- chú xe ôm hỏi. “Cho về chợ Tây Lộc, đường Lê Ngọc Hân”. Thế là lần này, tôi đến thẳng nhà cô Thanh Tâm.
Cô đón tôi rồi hãm ấm trà, bỗng trời hửng nắng. Ngồi bắt chéo chân, cô châm điếu thuốc, tự nhiên cất tiếng ca vo một vài câu Cổ Bản: Ai phong lưu người điệu là khách Hương Bình/ Bạn chung tình với mình mà chơi/ rượu khuyên mời/ Cạn lời đinh ninh…
Ca chưa hết câu thì mẹ cô đã ngoài 90 ở trong nhà ra, bà cũng là một nghệ nhân tuồng cung đình của Huế. Cụ bảo: “Cô ca giỏi lắm, cái gì cũng ca được hết, cả ca Huế và Tuồng”, rồi cụ lại bảo: “Tính cô cứng rắn, ngang lắm, cũng khổ, chẳng có ai chịu được.”
Nước ngược chia phôi cho dang dở
Người đi kiếp người…
Cô Thanh Tâm là con gái của cố nghệ nhân Phan Hữu Lễ, thành viên của đội tuồng Thanh Bình Thự dưới triều vua Khải Định. Cụ được coi là một nghệ sĩ tài hoa, tay trống bậc nhất của nghệ thuật cung đình. Ngoài Tuồng ra, cụ Lễ còn am hiểu thấu đáo các môn nghệ thuật khác như Ba Vũ hay Ca Huế. Dưới triều Bảo Đại, cụ dạy cho đoàn Ba Vũ. Năm 1956 được cử hướng dẫn nghệ thuật cho đoàn Ba Vũ đi công diễn ở Philippines; Năm 1958 được bổ nhiệm về phụ trách ban Tuồng Đại Nội.
Lên 6, cô Thanh Tâm đã theo cha vào Đại Nội xem tập luyện. Đến năm 11 tuổi cô được vào học Ba Vũ trong đội Đồng Ấu, 13 tuổi đã đi múa. Cô còn được cha và các thầy giáo trong đoàn dạy Tuồng cung đình, được thầy Đinh Hữu Khai dạy Ca Huế, và sớm trở thành giọng ca tài hoa ở đất đế kinh.
Cô kể, khi bắt đầu vào nghề, cô thường xuyên được kêu vào hát hầu cho Mệ Sen, Mệ Sen là công chúa của đức Thành Thái, tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Lương Linh. Hồi đó, trong phủ chỉ có người nhà mới được đi giày còn lại phải đi chân đất nhưng cô bé Thanh Tâm kiên quyết không bỏ giày. Bị Mệ trách cô nói: “Thưa Mệ! con ca mà đi chân đất coi sao được”, rồi vào đến trong nhà ngồi trên salon hát, Mệ Sen không cho cô ngồi vắt chân, cô lại bảo: “Thưa mệ! Con ca mà không cho con ngồi vắt chân thì làm sao mà con đánh phách được”. Rồi cô cười với tôi: “Nói thế thôi, chứ Ca Huế hoặc ngồi chiếu, hoặc ngồi salon thì phải vắt chân nhìn nó mới sang. Chứ còn ngồi thế nào mà chả đánh phách được, nhưng nói thế Mệ cũng phải chịu”.
Sau năm 1975, cô Thanh Tâm theo nhà chồng lên vùng kinh tế mới từ bỏ nghề cầm ca. Hồi đó, theo sự phân công, nhà cô về Lâm Đồng, nhưng không hiểu sao cả nhà đi tuột thẳng xuống Cà Mau để lập nghiệp. Nhưng trót “mang lấy nghiệp vào thân”, ở được 2 năm, cô ôm hai đứa con còn bé về lại Huế, ngày dọn hàng nước cùng mẹ đẻ tối đạp xe đi ca kiếm tiền nuôi con. Mỗi lần hát, tôi vẫn thấy hai tay cô nâng cặp phách lên đầu như vái. Cô bảo, trước khi hát cô vẫn lạy tổ nghề, lạy thầy, xin tổ, xin thầy gia hộ cho. Cô bảo: “Nếu không được tổ phù hộ cho thì có lẽ cô cũng không hát được cho đến giờ”.
Một khách nghe ở đường Phan Đăng Lưu, nơi tập trung dân buôn người Hoa rất sành nghe Tuồng kể với tôi rằng: Hồi đó ở Nhà văn hoá, hễ tối nào mà không có Thanh Tâm ca thì khán giả bỏ vé về. Có một nghệ sĩ Thanh Tâm ca Huế, rồi lại có một nghệ sĩ Thanh Tâm đóng Tuồng, từ vai Lữ Bố trong Phụng Nghi Đình đến vai Thị Kính diễn suốt 5 màn kịch bản Tuồng chuyển thể từ Chèo do lão nghệ sĩ Hoàng Châu Ký dàn dựng.
Cô Thanh Tâm kể diễn vai Thị Kính mà cứ vừa diễn vừa khóc, khó suốt cả 5 màn. Có hôm đang diễn thì mất điện, khán giả không chịu về, họ cứ bật hộp quẹt hết người này đến người khác, xem cho hết vở thì thôi. Sáng ra cô ra chợ Đông Ba, bà con ở đấy tự nhiên cứ dúi tiền vào áo: “Thưởng riêng cho mi hát hôm qua hay quá!”
Có đêm diễn ra ngoài, mọi người cứ chạy ra thưởng thêm tiền, cả một nón tiền, cô lại chia đều cho anh chị em trong đoàn rồi đạp xe về nhà. Kể đến đấy, thấy tôi luýnh quýnh vì tiếng điện thoại di động, cô ngồi tự ca vo một bản Tương tư khúc: Một bóng về đêm/ Em âm thầm đường xa đơn độc…
Sau ngày giải phóng đã có lúc cô nghĩ đoạn tuyệt với nghề. Hôm đó là một buổi trưa mùa hè, tự nhiên cô lên nhà thỉnh ba tiếng chuông rồi đứng trước bàn thờ Phật, cắt tóc cạo trọc đầu. Người nhà không ai dám nói một câu,. Cứ thế rồi trưa nào cũng vậy, cô thay một chiếc áo trắng, đi bộ ra đến gần Cửa ngăn rồi lại đi về nhà. Dạo đó cô làm đủ mọi việc chân tay, bê vác đồ nặng cố làm chai, hỏng đôi tay từ trước đến giờ chỉ quen cầm đôi phách. Được một thời gian sau, cô lại đi ca, theo các đoàn văn công đi đến mọi nơi để ca, ca không công cũng ca, ròng rã như thế suốt 3 năm. Kể đến đây tự nhiên tôi lại muốn nghe cô ca quá. “Cô ca cho con nghe đi cô”. Cô ngồi thẳng lưng hò một câu Hò mái nhì: Tủi lắm anh ơi/ trăng cũng chờ gió vẫn đợi anh/ Đợi khi mô mà thông reo vi vút
“Học mà không được ca thì uổng lắm, tổ cho ăn lộc, nhưng tổ bắt theo nghề thì biết làm răng? Thầy dạy Ca Huế cho cô là cụ Đinh Hữu Khai chết trên sân khấu trong khi ca vì đói, tủi lắm!”. “Ngày xưa ở đoàn Ba Vũ, lương tháng là 20 đồng, mà con biết không, lúc đó ở Huế chỉ cần 5 hào là có một bữa cơm thịnh soạn rồi”. “Ngày xưa cứ một tuần là đức Từ (Hoàng thái hậu Từ Cung, thân mẫu vua Bảo Đại) cho gọi đoàn đến ca hát, mỗi lần như vậy cụ mổ một con bò cho cả đoàn ăn trước, diễn xong lại được ăn cháo. Về sau đức Từ mất tội lắm, trước lúc đó mấy chị em trong đoàn thay phiên nhau đến trông cụ, cô còn nhỏ nhưng cụ rất thương, cho cô một cái chén ngọc”.
Má hồng da tuyết
Quyết liều như hoa tàn trăng khuyết
Vàng lộn theo chì…
Cô kể chuyện có một cô mới học hát ra thuyền đánh phách cho cô ca Cổ Bản, cô đánh phách trật bèn nói với anh đánh đàn rằng: “do chị Tâm ca làm em đánh trật phách”, cô nghe xong giận quá bảo: “Em có thể chê chị hiếng, đui què chứ bảo chị ca để em đánh trật phách Cổ Bản là xúc phạm chị”. Từ đó cô cũng vãn dần ra thuyền. Đến khi nhà nước bảo đóng tiền để cấp thẻ hành nghề cho nghệ sĩ, từ đó cô không ra thuyền hát nữa. Có ai mời đi hát salon thì cho xe đến tận nhà mời mới đi. Cô bảo: “Tuỳ người mới cấp thẻ, chứ những nghệ sĩ cả đời làm nghệ thuật như các cô, các chú mà còn phải đóng tiền để cấp thẻ, đi thi để cấp thẻ thì làm răng có chuyện đó, mà đi thi để lấy thẻ thì lấy mô ra người thẩm định đây.”Cô kể hôm có người đến mời cô đi ca, rồi hỏi tiền, rồi mặc cả. “Lấy chi mà mặc cả nghệ thuật hỉ?”. “Cô thèm ca lắm, nhưng như thế thì ca sao cho đặng”
Trước khi đến thăm cụ Trần Kích, cô đưa tôi đi đến chùa Vạn Phước, trên đường đi bất giác tôi hỏi cô: “Giờ cô có dạy ca cho ai không?”, cô trả lời: “Dạy thì có nhiều lắm, nay người này đến học, mốt có người đến học”, tôi lại hỏi: “Thế có ai cô định truyền nghề cho chưa?”, cô bảo: “Cũng đang có một nhỏ con của một người bạn, nhưng còn phải xem đã, chừ cứ dạy thế thôi”. Tôi im lặng không biết nói gì, đường Nam Giao thẳng tắp trước mắt, tự nhiên tôi nhớ lại một câu, và giờ tôi mới hiểu: truyền nhân phải là người nối tiếp cuộc sống nghệ thuật của thầy mình.
Ngồi giữa sương sa
Chỉ Hằng Nga
Thấu cho chăng là…
Đêm một ngày cuối xuân, tôi lấy một con thuyền ngược Đập Đá về phía Linh Mụ. Chiếc thuyền máy chạy thật nhanh đến gần cồn Giả Viên thì buông neo tắt máy, phơn phớt chút mưa xuân không đủ làm cho mặt nước Hương Giang xao động. Tôi phấp phỏng chờ đêm hát này từ mấy hôm nay rồi; cuộc vui hôm nay thiếu cụ Kích vì tuổi già, buổi tối cụ không ra ngoài được, cụ Châu thì ở mãi tận Phong Điền, bà Minh Mẫn thì lại đang ở trong Nam. Cô Thanh Tâm hôm nay một mình ca, tôi vẫn muốn nghe cô ca riêng một buổi, giờ mới có dịp. Hôm nay có anh Thảo kéo nhị, anh Hùng đàn Tỳ, một cây đàn bầu và đàn nguyệt của mấy anh em trong nhóm Phú Xuân, thiếu một cây đàn tranh là đủ ngũ tuyệt nhưng không hề gì; anh Nguyễn Đình Vân tay trống cự phách chuyên đi đánh Tam luân cửu chuyển cùng ông Châu hôm nay ở vị trí thính giả.
Dạo đầu là bản Lưu Thuỷ, lúc đó không hiểu sao trong đầu tôi cứ lẩm nhẩm lời ca của bài này: Dòng lạc dòng đào nguyên/ Đây lâm tuyền hợp quần bạn tiên…Vừa dứt suy nghĩ thì ngay sau đó cô Thanh Tâm đã vào ca Cổ Bản, rồi ca tiếp Tứ Đại Cảnh
Ai phong lưu người điệu là khách Hương Bình
Bạn chung tình
Với mình mà chơi
Rượu khuyên mời
Cạn lời đinh ninh, trong bóng trăng vằng vặc luồng gió như gợi trêu tình
Thanh lịch người xinh
Chơi để dành riêng mình
Bạn tài danh quốc anh
Giọng cô dày lắm, hơi đẹp, không ai từng nghĩ ngày xưa cô đã từng cắt amidan rồi, cô kể: “Trước khi cắt cô nghĩ mình sẽ thôi không hát được nữa, ai ngờ sau hai năm lại vẫn hát được, có lẽ là nhờ ơn tổ”. Cách lấy hơi của cô sao mà lạ, tạo ra tiếng hát lúc xa, lúc gần, thi thoảng điểm một vài tiếng phách nghe đài các lắm, rồi tự nhiên vào đến chỗ lưu không anh Hùng bấm mấy tiếng tì bà nghe xinh xắn quá, rồi lại thêm mấy tiếng nhị của anh Thảo đưa đẩy đến là duyên, tiếng đàn câu hát cứ như phải lòng nhau. Cô Thanh Tâm có lần nói với tôi: Nhiều khi đi hát kể cả khách không biết nghe thì cô vẫn cứ hát Nam Ai, Nam Bình, Tứ Đại như thường, mắc mớ chi, vì mình hát cho anh em mình nghe, trong nghề nghe với nhau cơ mà. Khách nghe không quen toàn yêu cầu Lý tình tang với Hò giã gạo, đấy cũng là cái buồn cho Ca Huế.
Cứ mỗi lần nghe cô nhắc đến chuyện cô thèm đi ca lắm tôi lại cảm thấy đau lòng, tôi rất muốn nói với cô về bức chữ tôi đã viết ở Hà Nội định bụng đem vào Huế, nhưng tiếc là mấy đứa em làm thất lạc trong chuyến đi vào. Tôi viết cho cô câu: Cầm tâm duy hữu dạ đăng tri, những mong tri âm được tiếng hát và tiếng lòng của người nghệ sĩ say nghề.
Đêm đã về khuya, anh Thảo kéo mấy tiếng nhị dọn hơi cho cô hò câu mái nhì để vào Nam Ai, Nam Bình.
Lá thu rời rạc, trước rèm châu…
Sao cô nhả hai chữ rời rạc sao mà tài tình thế, tự nhiên lúc đó tôi phải làm ấm người bằng một ly rượu, tài tình quá, nghe hai chữ đó sao tưởng tượng sắp có sự chia ly xa cách. Hình như ngày mai chúng tôi về Hà Nội.
Cô gập hai chiếc đèn hoa đăng vào làm một tặng tôi để lát nữa tôi thả xuống sông Hương.
Tiếng tỳ bà nắn nón, tiếng phác cầm nhịp vang lên bài cô đã ca vào đến bài Nam Ai:
Ái ân chi để riêng mình
Ôm mộng chung tình…
Cặp đèn hoa đăng xuôi dòng Hương Giang mang theo những điều ước rời rạc, ánh nến loang trên mặt sông đưa câu tâm sự của bài ai lặn vào trong ánh nến. Mà có lẽ chỉ ánh đèn kia mới hiểu được lời tâm sự của nó…
            Viết trong một ngày hè năm Mậu Tí

TRẦN NGỌC LINH
(nguồn: TCSH số 232 - 06 - 2008)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Hưởng ứng cuộc vận động sáng tác Văn học Nghệ thuật hướng về thiên tai với chủ đề “Nguyện cầu cho nạn nhân động đất tại Nhật Bản” do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức.

  • VIỆT ĐỨCCâu trả lời đầu tiên vẫn thuộc về môi trường sinh hoạt âm nhạc. Hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh mỗi đêm có đến 50 tụ điểm ca nhạc hoạt động với cơn sốt ca sỹ leo thang đến chóng mặt.

  • Dương Bích HàCũng như các loại hình nghệ thuật khác, nền âm nhạc cổ truyền luôn tồn tại hai dòng: âm nhạc bác học và âm nhạc dân gian.Ở Huế, trên một thế kỷ là kinh đô của triều đại phong kiến Việt Nam, nên đặc biệt, tính chất này được bộc lộ rất rõ và triệt để, là nơi phân chia rạch ròi nhất các giai tầng trong xã hội, trong văn hóa nghệ thuật.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNNgày xưa, xã hội Việt Nam thực hiện nguyên tắc “phụ truyền tử kế” (cha truyền con nối), cho nên ông nội tôi - cụ Nguyễn Đắc Tiếu (sinh 1879), người làng Dã Lê chánh, xã Thủy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, lúc mới lên mười tuổi, đã được cố tôi (lính trong đội Nhã nhạc Nam triều) đem vào Đại nội học Nhạc cung đình (Musique de Cour).

  • PHAN THUẬN THẢONhã nhạc là loại hình âm nhạc chính thống được sử dụng trong các cuộc tế, lễ của các triều đình quân chủ ở Việt Nam và một số nước khu vực Đông Á. Trong các cuộc triều hội, cúng tế, âm nhạc luôn theo suốt quy trình của buổi lễ, từ lúc mở đầu cho đến hồi kết thúc. Nó tham gia vào từng tiết lễ, là một thành tố không thể thiếu của cuộc lễ, đồng thời, là phương tiện giúp con người giao tiếp với thế giới thần linh. Loại hình âm nhạc này được các triều đại quân chủ hết sức coi trọng, được phát triển thành một thứ quốc nhạc và là một trong những biểu tượng cho sức mạnh của vương quyền và sự vững bền của triều đại.

  • THÂN VĂN1. Phương thức liên kết về bài bản.Đặc điểm chung nhất của hệ thống bài bản hòa tấu nhạc cung đình thường là ngắn gọn, gắn liền và phù hợp với các ca chương trong mỗi nghi thức tế lễ. Những nghi thức này được tiến hành theo một trật tự trang trọng và nghiêm ngặt, nên mỗi bài bản ca chương và âm nhạc buộc phải trình tấu đúng với thời gian cho phép của từng nghi thức. Những bài bản này đương nhiên hoàn toàn độc lập về nội dung, nhưng do nằm trong một trật tự trình tấu nối tiếp liên tục, nên ngẫu nhiên đã hình thành các thể loại liên hoàn khúc khác nhau. Trong đó, độ dài, ngắn của mỗi liên hoàn khúc, tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của cuộc lễ, tuỳ thuộc vào số lượt nghi thức và số ca chương mà cuộc lễ quy định.

  • YAMAGUTI OSAMUTháng Giêng năm 1994, trong lúc đang còn ngất ngây hương vị Tết, thì đột nhiên điện thoại và fax từ Paris đến tới tấp. Đó là vì UNESCO đã nhận lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam để mở một Hội nghị Quốc tế thảo luận về vấn đề nên làm gì và cái gì có thể làm được để bảo tồn và phát huy tài sản văn hoá vô hình của Việt Nam, vì vậy họ muốn mời tôi tham gia hội nghị và đưa ra đề nghị cụ thể. Ông Tokumaru Yosihiko (giáo sư của Đại học Nữ Ochanomizu, lúc đó còn là Trưởng khoa của Khoa Văn hoá- Giáo dục) cũng nhận được lời mời như vậy, nên tôi đã liên lạc với ông và cả hai quyết định nhận lời mời này.

  • VIỆT HÙNGCuộc toạ đàm với chủ đề Sự cần thiết phải thành lập nhạc viện ở Huế vừa diễn ra vào ngày 10/3/2004. Đây là một trong những hoạt động nằm trong khuôn khổ của Trại sáng tác khí nhạc dân tộc và phê bình lý luận âm nhạc, do Chi hội Nhạc sĩ Việt Nam Thừa Thiên Huế phối hợp với Trường Đại học Nghệ thuật Huế tổ chức từ 9/3 đến 17/3/2004.

  • THÂN VĂNSau hơn 2 tháng phát động và 9 ngày chính thức dự trại (từ ngày 09 đến 17/3/2004), với 14 tác phẩm khí nhạc dân tộc và 5 tác phẩm lý luận phê bình âm nhạc của 17 nhạc sĩ có mặt tham dự trại. Lễ bế mạc chiều ngày 17/3/2004 Trại sáng tác khí nhạc dân tộc & lý luận phê bình âm nhạc tại Huế đã gây được ấn tượng tốt đẹp và những tín hiệu đáng mừng trong lòng nhân dân Cố Đô. Điều đáng nói là các nhạc sĩ của Hà Nội, Huế và TP.Hồ Chí Minh đã gặp nhau từ một ý tưởng sáng tạo chủ đạo là nhằm tôn vinh và phát huy các giá trị của di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu ở Huế, góp phần định hướng cho mô hình và mục tiêu đào tạo của Nhạc viện Huế trong tương lai.

  • TRẦN VĂN KHÊNhạc Cung đình là một bộ môn nhạc truyền thống Việt Nam dùng trong Cung đình. Nhưng người sáng tạo và biểu diễn Nhạc Cung đình hầu hết là những nhạc sĩ, nghệ sĩ từ trong dân gian, có tay nghề cao, được sung vào Cung để phụng sự cho Triều đình. Nhạc Cung đình Huế là một bộ môn âm nhạc truyền thống Việt Nam rất đặc biệt và có một giá trị lịch sử, nghệ thuật rất cao.

  • THÁI CÔNG NGUYÊNMột nhà văn nước ngoài khi đến thăm Huế đã nói: “Huế là một bảo tàng kỳ lạ chứa đựng trong lòng mình những kho tàng vô giá, những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần Việt Nam”. Đúng vậy, bên cạnh kho tàng di sản văn hóa kiến trúc đồ sộ có giá trị tầm vóc quốc tế, Huế còn là một tụ điểm di sản văn hóa tinh thần phong phú, một vùng văn hóa Phú Xuân đặc sắc “Huế đẹp và thơ” nổi tiếng.

  • PHÙNG PHUNgày 07 tháng 11 năm 2003, ông Koichiro Matsuura, Tổng Giám đốc UNESCO đã chính thức công bố trong một buổi lễ long trọng nhân kỳ họp toàn thể lần thứ 32 của Ðại hội đồng UNESCO tại Paris: UNESCO đã ghi tên 28 Kiệt tác vào Danh mục Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại.

  • LTS: Đại hội khoá II (nhiệm kỳ 2003 - 2008) của Chi hội Nhạc sỹ Việt Nam Thừa Thiên Huế vừa diễn ra vào trung tuần tháng 9. Nhạc sỹ Hồng Đăng, Phó Tổng thư ký Hội Nhạc sỹ Việt Nam, thay mặt cho BCH Hội Nhạc sỹ Việt Nam vào tham gia chỉ đạo Đại hội. Tại Đại hội, nhiều tham luận, ý kiến phát biểu của các nhạc sỹ đã thể hiện được sự trăn trở về thực trạng và hướng phát triển của nghệ thuật âm nhạc đương đại Huế. Sông Hương xin trích đăng một số ý kiến đã trình bày tại đại hội.

  • LÂM TÔ LỘCĐại tá - nhạc sĩ Đức Tùng, sinh năm 1926 tại Huế đẹp và thơ, đã mãi mãi xa quê: Ông mất ngày 25/01/2003. Ông viết ca khúc từ trước Cách mạng tháng Tám như Kỷ niệm ngày hè, Bên trời xa, Dòng Dịch thủy, Dưới ánh trăng mơ. Ông đã từng biểu diễn ca nhạc tại nhà hát Accueil, là cây Accordéon cầm chịch của ban nhạc gia đình ở phố Hàng Bè.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ Năm nay (2003), nhạc sĩ Trần Hữu Pháp (NSTHP) “mới” tròn 70 tuổi, nhưng dễ đã mấy chục năm, sau khi nhạc sĩ Trần Hoàn rời Cố đô ra Hà Nội nhận các trọng trách, NSTHP nghiễm nhiên ngồi “chiếu trên”, là “già làng” của giới âm nhạc Thừa Thiên Huế. Kể cũng phải; từ bốn mươi năm trước, khi hàng triệu thiếu nhi miền Bắc đội mũ rơm dắt lá nguỵ trang đến trường, miệng líu lo ca bài hát ông vừa sáng tác “Tiếp đạn nào / Tiếp đạn chuyền tay trên chiến hào / Cho chú dân quân bắn nhào phản lực...” thì không ít các nhạc sĩ nổi danh bây giờ có lẽ còn... bú mẹ! Vậy mà trước mắt tôi (và chắc là với không ít người nữa) - nói ông anh đừng giận nhé - vị nhạc sĩ lão làng này lại rất...trẻ con!

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Người ta thường nhắc tới Thái Quý như nhắc tới một con người giàu tình cảm, dễ khóc, dễ cười, dễ nóng giận và cũng rất vị tha. Nói đến khuyết điểm của mình trong cuộc họp, anh khóc đã đành, nhưng khi chỉ trích khuyết điểm của đồng đội, anh cũng khóc...

  • NGUYỄN THANH TÚNăm ngoái, tôi tình cờ gặp nhạc sĩ Thái Quý khi ông đang bận rộn chỉ đạo "đoàn thành phố Huế" trước giờ ra sân khấu tham gia hội diễn ca múa nhạc công - nông - binh - trí thức do tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức tại nhà hát Trung tâm Văn hoá.

  • VĨNH PHÚCNếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền phát tán thành một dòng dân gian chuyên nghiệp là hát Ả đào và vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh, thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là Ca Huế (gồm cả ca và đàn). Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là một lối hát Ả đào của người Huế, một lối chơi của các ông hoàng bà chúa xét trên quan điểm tiếp biến trong tiến trình của một lối hát truyền thống và tiến trình lịch sử từ Thăng Long đến Phú Xuân-Huế.

  • VĂN THU BÍCHTừ bao đời nay, tình yêu Huế vẫn mãi chìm sâu trong lòng những người con xứ Huế, dù đang sống trên đất Huế hoặc đã biền biệt xa xứ và Huế mộng mơ cũng len nhẹ vào hồn du khách khi đến thăm vùng đất thần kinh này.

  • TRẦN NGỌC LINHBạn còn thương bạn biết gửi sầu về nơi mô?Trước khi tôi vào Huế, chị tôi dặn: “Vào muốn gặp bà Minh Mẫn cứ đến đường Nhật Lệ mà hỏi”. Theo cách nhớ đường của một người viễn khách từ xa đến thì đến phố đó cứ thấy đầu ngõ nào có một giàn hoa tử đằng với những dây hoa buông thõng chấm xuống nền đất vỉa hè thì đó chính là lối rẽ vào ngõ nhà danh ca Minh Mẫn.