NGUYỄN HỮU SƠN
Trong giới hạn cụ thể, có thể xác định tương quan phê bình và sáng tác trên địa bàn xứ Huế như một vùng văn hóa và trung tâm phát triển Thơ mới tiêu biểu trong cả nước, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa hoạt động phê bình Thơ mới trên Tràng An báo như một hiện tượng “người đương thời Thơ mới xứ Huế tiếp nhận Thơ mới xứ Huế” (chưa bàn đến các tác giả Thơ mới ở hai miền Bắc và Nam đất nước).
Tràng An Báo 1939 - số 408 - Ảnh: baochi123.info
Ra đời vào giai đoạn báo chí phát triển mạnh mẽ, Tràng An báo (số 1, ra ngày 1/3/1935) - sau này còn được định danh là Tràng An, Tràng An (Tập mới), Tràng An (Bộ mới), Tràng An (Mới) - đã mau chóng nhập cuộc hoạt động truyền thông nói chung cũng như gắn kết chặt chẽ với phong trào Thơ mới. Tòa soạn báo đặt tại Nhà in Đắc Lập, số 43 đường Paul Bert (Huế), từ tháng 7/1942 chuyển về số 2, rue Bobillot. Tràng An báo do doanh nhân Bùi Huy Tín (1876-1963) sáng lập và làm chủ nhiệm (bà Lucie Saillard làm chủ nhiệm từ tháng 7/1942) và nối dài cho đến cuối năm 1945; chủ bút và thư ký tòa soạn là các ông Phan Khôi, Lê Thanh Cảnh, Hoàng Thiếu Sơn, Nguyễn Đức Phiên (Hoài Chân)…
Trước hết, Tràng An báo và Thơ mới trên Tràng An báo xuất hiện sau sự khởi đầu phong trào Thơ mới (tháng 2/1932) chừng ba năm gắn với tên tuổi các tác giả (thống kê theo thời gian xuất hiện): Nam Trân, Bửu Kế, Q.U, D. Loilfinne, Đỗ Huy Nhiệm, Ph., Hạnh Sơn Trần Quốc Trinh, Trà Ngân (Lê Ngọc Vượng), Dương Phủ, Như Thao, Phạm Ngọc Doãn, Hoàng Sơn, Gia Xạ, Kiêm Thu, Nguyễn Hữu Quế, Mộng Huyền, Kim Phượng, Song Nhất Song, Nhạc Lang, Nguyễn Anh, D.V.D, Kỉnh Chi, Hoài Sơn, Dã Hạc, Duy Từ, Đình Quang Hoàng Liệu, T.B, Văn Nghĩa, Vân Khanh, Anh Triệu, Văn Tịnh, Nam Xuyên, Quật Đình, Nhược Thủy Lương Khanh, Triệu Khanh, Như Không, Mộng Di, Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng, Phục Thần U.L, Mme I.M, Bàn Lãnh Phan Thanh Thừa, Hàn Mặc Tử (di cảo), Nguyễn Hạnh Đàn, Tế Hanh, v.v. Có thể thấy hầu hết các tác giả là người xứ Huế, hoặc đã nhập tịch xứ Huế, thành danh trên đất Huế, một số cộng tác viên thuộc các tỉnh miền Trung (Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định…) và số nhỏ thuộc hai đầu đất nước (Hà Nội - Sài Gòn)… Về phía các cây bút phê bình có thể kể đến (xếp theo thời gian xuất hiện): Phan Khôi, Hoài Thanh, Đức Ninh, Lâm Toại, Đại Lượng, Lưu Trọng Lư, Lưu Kỳ Linh, Đức Ninh, Chương Đài, Nguyễn Huy Nhu, Ngô Hữu Thời, Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng, Trần Thanh Mại, Lệ Khanh, Hàn Mặc Tử, Trần Thanh Địch, Xuân Phương, Thanh Địch, Xuân Tâm, Ứng Sơn, Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Thống, Hà Xuân Tế, Minh Châu, Nguyễn Văn Thư, Bắc Hà, Long Thành, Hương Giang, Phố Xuyên, Ngô Việt, Hoàng Diệp, Vương Lập Nguyên, Tài Xuyên, Bùi Tuân, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Quách Tấn, Bửu Đồng, Đỗ Hữu Phú, v.v.
Theo thời gian, Nam Trân (1907-1967), quê gốc Quảng Nam, trong khoảng thời gian 1930-1945 từng giữ chức Tham tá tòa Khâm sứ, Tá lý và Thị lang Bộ Lại tại Huế, ngay khi Tràng An báo ra số đầu tiên đã có thơ và xuất hiện liên tục với các bài Trước chùa Thiên Mụ, Huế, mùa hạ I, Chôn hoa, Khóa xuân, Hái hoa hồng, Cảnh quê,… tạo nên một cơn “sốt thơ”. Độc giả đương thời thực sự hứng khởi, say mê lối thơ trữ tình tân kỳ của ông. Khả năng chinh phục và sức cuốn hút của thơ Nam Trân mạnh mẽ đến mức tòa soạn hoan hỷ quảng bá trên nhiều kỳ báo: “Sau này bản báo sẽ mở một cuộc thi lớn mà trong đó có một đầu đề thi quan hệ về thơ Nam Trân. Vậy, ai muốn dự cuộc thi ấy nên cắt bài thơ Nam Trân trong mỗi số mà giữ lại, phòng khi sẽ phải gửi những mảnh báo có thơ Nam Trân ấy cho Bản báo mới được dự cuộc thi ấy chăng”(1).
Đương thời thơ Nam Trân đã được nhà khai sáng phong trào Thơ mới Phan Khôi (Ngọa Du Nhân) chào đón, bình điểm trên báo Sông Hương (1936), kịp đến khi xuất bản thành tập Huế, Đẹp và Thơ (1939) lại tiếp tục được Tản Đà nhận xét, góp ý và ngay sau đó được Trần Đằng tổng thuật, xác định: “Tập Huế, Đẹp và Thơ của Nam Trân trước khi ra đời đã được văn sĩ Phan Khôi chú trọng. Năm 1936, trên tờ báo Sông Hương, chúng ta đã được thấy bài phê bình của ông Phan. Kịp đến lúc tập thơ ấy xuất bản, ông Tản Đà cũng góp lời phê phán. Điều đáng chú ý là hai bực cự nho đều đồng thanh khen ngợi thơ Nam Trân về nhạc điệu và cũng đều đồng thanh trách ông Nam Trân “chưa dụng công về vần”. Dưới đây, chúng tôi xin đăng hai bài của hai ông Nguyễn Khắc Hiếu và Phan Khôi và nhắc lại lời của ông Nam Trân thay lời kết luận (…). Kết luận - Lời của ông Nam Trân: Trong một buổi nói chuyện với ông Nam Trân, chúng tôi có hỏi ý kiến ông về “Vần”. Tươi cười ông nói rằng: “Ông Chương Dân và ông Tản Đà trách tôi không dụng tâm về vần, lời trách ấy thật xác đáng. Nhưng xin thú thật, đối với thơ, tôi trọng nhất là nhạc điệu, thứ hai là ý tưởng, thứ ba là vần. Có lẽ vì thế mà tôi không phải là một thi gia, nhất là một thi gia theo luật thơ chuyên chế đời Đường”(2)… Ngay sau đó, bình giả Ứng Sơn giới thiệu và đánh giá cao tập thơ trước hết ở sự gắn bó với xứ Huế: “Bây giờ tôi lại được đọc tập Huế, Đẹp và Thơ của Nam Trân thi sĩ vừa mới xuất bản. Từ Cô gái Kim Luông cho đến Trên Núi Ngự, đem hết vẻ đẹp của Huế miêu tả ra một bức thiên nhiên tuyệt diệu, khiến người đọc đến mà tưởng tượng được cảnh vật Đế đô thanh kỳ yểu điệu đến thế nào… Nam Trân đã cho ta thấy cái tuyệt mỹ của Huế, đã đánh thức tâm hồn ta và đưa ta vào cái cảnh đẹp như mơ ấy một cách nhẹ nhàng êm ái, và hơn thế nữa, Nam Trân đã họa một bức tranh 100% Huế. Tôi còn biết nói gì về bài thơ này nữa. Tôi chỉ nói một tiếng, một tiếng mà thôi: Tuyệt!”; đồng thời với việc nhấn mạnh sắc thái thẩm mỹ và chất trữ tình: “Đọc qua các đoạn trên ta đã biết thi tài của nhà thi sĩ ấy rồi, cái thi tài ấy đã đưa Nam Trân vào một địa vị khả quan trong thi giới mà tập Huế, Đẹp và Thơ quả là một bức tranh gồm có những “cảnh đẹp như mơ” của Huế. Bây giờ, nếu cần phải hạ một lời phê bình vô tư, thì tôi không còn ngần ngại gì mà nói rằng: “Nam Trân là một thi sĩ chuyên về lối tả cảnh, tả cảnh một cách tuyệt mỹ”(3)… Tiếp đó Từ Lâm (Nguyễn Xuân Nghị) trong tư cách bạn bè thêm một lần tỏ lòng mến mộ, bình giảng cái hay cái đẹp của thơ Nam Trân và gợi nhớ, so sánh với nguồn thơ Mạnh Hạo Nhiên (689-740) và Alphonse de Lamartine (1790-1869)(4).
Nhà thơ Phan Văn Dật (1907-1987) sinh tại phủ An Thường công chúa, xóm Xuân An, làng Phú Xuân (nay thuộc phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế; quê gốc tỉnh Quảng Trị), sau khi in tập thơ Bâng khuâng (1936) đã được nhà phê bình Hoài Thanh phân tích, bình giảng kỹ lưỡng, ghi nhận những mặt mạnh về cảm xúc, tứ thơ, hình ảnh thi vị: “Ông Phan Văn Dật cách đây không lâu có ra một quyển truyện đề là Diễm Dương trang. Tôi đã có dịp nói ý kiến của tôi về quyển truyện ấy. Vừa rồi lại được xem quyển Bâng khuâng, một tập thơ ông mới xuất bản. Xin nói ngay rằng quyển Bâng khuâng có giá trị hơn quyển Diễm Dương trang nhiều, mặc dầu một tập thơ và một quyển truyện không thể so sánh với nhau được… Trong làng văn, ông Dật thuộc về phái thanh niên. Nhưng có lẽ ông chỉ thanh niên vì tuổi ông. Còn thơ của ông thực không thanh niên một tí nào. Trong lúc một luồng không khí trẻ trung thúc giục người ta hăng hái thoát ly ra ngoài sự ràng buộc của gia đình, ông Dật đã dám ca tụng cái tình cha con, anh em; sách của ông, ông đề tặng song thân, tưởng ngày nay cũng là một điều ít có. Những điều ông mơ ước cũng giống hệt những điều mơ ước của các cụ ta ngày xưa: một cuộc đời bình dị và chất phác ở nơi thôn dã”; đồng thời cân bằng góp ý với những giới hạn, sự đơn giản, yếu kém: “Thơ của ông có giọng buồn, chán, ghét thị thành, ghét cả cuộc đời hoạt động (…). Ông Phan Văn Dật đã tránh được sự lố lăng. Thơ của ông có vẻ tự nhiên. Được thế cũng vì ông khéo chọn những đề phần nhiều chung cho xưa nay, khéo suy diễn những thường tình trong lòng người: tình đối với cuộc đời, với núi non hoa cỏ, tình yêu người đàn bà đẹp, tình thương kẻ đau khổ, kẻ nghèo nàn. Thơ của ông không rực rỡ, không réo rắt, không hùng tráng; ông chỉ tả những mối tình nhẹ nhàng, kín đáo, âm thầm và tả khéo. Ông say sưa vì vẻ đẹp thoáng qua trước mắt. Tập thơ của ông cũng là một hòn ngọc có vết, có nhiều vết... Ông dễ tính quá. Chỗ này là chỗ tôi trách ông. Hình như ông Dật không chịu trau dồi gọt dũa câu thơ của mình. Có khi ta đọc cả đoạn thơ đương hay bỗng vấp phải một câu một chữ không sao đọc đi được. Xem thơ gặp những lúc ấy thật bực mình. Tưởng ông nên bỏ bớt, nên sửa lại thì hơn”(5). Những nội dung này sau được Hoài Thanh toát yếu đưa vào sách Thi nhân Việt Nam, 1932-1941 (1942)…
Trong bài viết có tính tổng hợp thơ xuân, nhà phê bình Trần Thanh Địch quê Huế bình điểm thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Thanh Tịnh, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp và thơ Phan Văn Dật:
“Đi cạnh Xuân Diệu, ta hãy nghe Phan Văn Dật bâng khuâng với những nỗi buồn xuân tha thiết:
Vừa mới đông qua, xuân mới về,
Nắng hè gay gắt đuổi xuân đi!
Thôi còn đâu cảnh xuân êm dịu,
Hoa nở, trời trong, bao vẻ thi?...
(Buồn xuân)
Mùa xuân với Phan Văn Dật là cuộc ái ân phơi phới đầu mùa của một đôi nhân tình đang tha thiết yêu nhau. Trong lúc say sưa với tình yêu, không ai có thể cứ thản nhiên trọn hưởng tình yêu hiện tại. Bao giờ trong óc mỗi người cũng còn nghĩ đến một giờ phân ly sẽ ngẫu nhiên xảy đến. Hơn nữa, người ta cứ luôn luôn sợ hãi cái “rồi đây”.
Cũng như tuổi trẻ, trẻ để có già; xuân đến, đến để có đi. Buồn xuân, cũng như những thơ khác của thi sĩ, ta thấy đầy rẫy những tình cảm mến tiếc, những bâng khuâng luyến ái, chập chờn lẩn quất trong ý, trong câu. Đọc văn thơ của các thi sĩ, có khi ta buồn chết dạ, có khi buồn tê tái, có khi buồn rười rượi, có khi buồn man mác, có khi buồn bâng khuâng. Phan Văn Dật đã làm lòng ta lảo đảo theo thứ buồn mơn trớn sau cùng ấy. Hai câu đầu tiên của Buồn xuân đọc đang xuôi, đệm ngay liều xuống: “Thôi còn đâu cảnh xuân êm dịu./ Hoa nở, trời trong, bao vẻ thi?” làm thấm vào lòng người đọc một ý mến tiếc buồn rầu. Với ý mến tiếc buồn rầu ấy, Phan Văn Dật cảm xuân đã tả những nét uyển chuyển, nhẹ nhàng, dễ thương quá. Người ta có cái cảm tưởng kính trọng, chỉ muốn nâng niu lên đôi tay như một viên ngọc quí”(6).
Đương thời các tác giả Thúc Tề (1916-1946), quê ở làng Mỹ Lam, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang; Nguyễn Đình Thư (1917-?), quê làng Phước Yên (nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền), in thơ trên nhiều báo khác (Công luận, Ngày nay, Hà Nội báo, Văn học tạp chí, Mai, Dân quyền, Đông Dương) nhưng không thấy in thơ và cũng không được nhắc đến trên Tràng An báo(7)…
Riêng Mộng Huyền - Ngụy Mộng Huyền (1919-1997), quê ở thành phố Huế, trong thời gian 1936-1945 có in chí ít 8 bài thơ (Tôi muốn thấy, Hãy trông, Đọc “Khói lam chiều”, Bóng cây dâm mát, Vì thế, Ngẩn ngơ sầu, Tỉnh ngộ, Trở về vườn cũ) nhưng không thấy ai viết bài phê bình, giới thiệu. Khác biệt hơn, Tôn Nữ Thu Hồng (1922-1948), quê làng Thần Phù (nay thuộc phường Thủy Châu, thị xã Hương Thủy), có xuất bản tập thơ Sóng thơ (1940) và in thơ trên báo Thanh niên (1944) nhưng đã sớm được H.X.G giới thiệu trên Tràng An báo:
“Tôi xin thú thật rằng đối với những tập thơ mới xuất bản của nhiều thi sĩ thanh niên ta ngày nay, ngoài một vài người tôi đã quen làm bạn, như ông Thế Lữ, ông Lưu Trọng Lư, ông Xuân Diệu, ông Huy Thông, ông Thái Can, ông Huy Cận, v.v, tôi thấy tôi lo sợ mỗi khi tôi cầm một tập thơ mà xem. Lo sợ mà lại thấy lạnh lùng nữa. Không phải là tôi thờ ơ với thi ca mới cũng không phải là tôi yên trí rằng nhiều thi sĩ thanh niên ngày nay không có biệt tài trong sự làm thơ (…). Đối với quyển Sóng thơ mới ra đời, trước hết tôi cũng lạnh lùng như vậy. Tôi cầm tập thơ nhỏ xinh kia, lật những trang giấy nhanh chóng, rồi tự nói: Lại một tập thơ mới. Lại thi sĩ nữa ra đời. Mà là một nữ thi sĩ, ở Đế Đô, một người trong Hoàng phái... Rồi tôi xem qua cũng nhanh chóng như thế thấy câu hay, câu không hay; nhưng không để ý lắm. Chẳng khác lúc đi qua một vườn hoa của người xa lạ nhìn vào để ngắm cảnh rồi thản nhiên trong giây lát đã bước qua vườn hoa ấy, và đôi mắt đã đưa nhìn khúc đường xa lạ khác (…).
Sự tan tác không phải tấm lòng của cô; chỉ là bao mộng đẹp mà thôi. Khối tình cô khéo đa mang, chỉ là “Cái tình vô hạn”, một mối tình mênh mông bát ngát, nó không chung đúc vào một người, một vật nào, có thể làm đau đớn gắt gao được.
Vì vậy cho nên một tấm yêu,
Lui không nẻo bước, tới cam liều.
Khi yêu nào nghĩ xa xôi nữa,
Mà khổ tình thêm cũng rất nhiều!
Đối với ái tình, xem bốn câu thơ nầy, chúng ta thấy nữ sĩ Thu Hồng, vẫn dùng lời êm dịu mà phân giải, mà nghị luận. Chúng ta có thể nói rằng “thi cảm” của cô không phải là của người mê say; nó còn ở trong vòng khuôn của lý trí nhiều hơn của tình cảm. Sự giản dị, một sự giản dị mà chúng ta có thể gọi là tầm thường, cái “nên thơ” trong mỗi ý nghĩ hằng ngày trong mỗi câu nói đầu lưỡi, trong mỗi cử chỉ xung quanh ta, trong mỗi tư tưởng thông thường, ấy là chốn nữ sĩ Thu Hồng đã khéo đi lượm những vần thơ, đi hái cho ta những cành hoa thơm đẹp. Đó là các đặc điểm, tôi sơ lược theo ý kiến riêng của tôi viết ra sau khi đọc xong tập Sóng thơ của nữ sĩ Tôn Nữ Thu Hồng. Tập thơ in đẹp, có tựa của Đạm Phương nữ sĩ, và tranh vẽ bìa của nữ họa sĩ Mộng Hoa. Chúng tôi xin giới thiệu quyển Sóng thơ với độc giả”(8).
Trong tương quan với Tràng An báo, có thể thấy trong số sáu thi sĩ xứ Huế thành danh được Hoài Thanh - Hoài Chân ghi nhận trong sách Thi nhân Việt Nam, 1932-1941 (1942) có hai người không có mối liên hệ (Thúc Tề, Nguyễn Đình Thư), một người in thơ nhưng chưa thấy bài giới thiệu (Mộng Huyền), hai người in thơ nơi khác vẫn được báo ghi nhận (Phan Văn Dật, Tôn Nữ Thu Hồng), riêng Nam Trân vừa có in thơ với số lượng lớn vừa được Tràng An báo đón chào, giới thiệu trang trọng, góp phần thúc đẩy Thơ mới xứ Huế phát triển sâu rộng.
N.H.S
(TCSH401/07-2022)
----------------------------
(1) Lương An (1941), “Lửa thiêng với Huy Cận” (4 kỳ). Tràng An báo, số 694, ra ngày 11/3, tr.2; số 695, ra ngày 12/3, tr.2; số 696, ra ngày 13/3, tr.2; số 698, ra ngày 15/3, tr.2.
(2) Trần Đằng (1939), “Hai ông Nguyễn Khắc Hiếu và Phan Khôi đã gặp nhau trong Huế, Đẹp và Thơ”, Tràng An, số 408, ra ngày 31/3, tr.1+3.
(3) Ứng Sơn (1939), “Đọc Huế, Đẹp và Thơ của Nam Trân”, Tràng An, số 410, ra ngày 7/4, tr.1+3; số 412, ra ngày 18/4, tr.2.
(4) Từ Lâm (1939), “Đọc Huế, Đẹp và Thơ”, Tràng An báo, số 438, ra ngày 20/7, tr.1+3.
(5) Hoài Thanh (1936), “Nhân xem tập thơ của ông Phan Văn Dật: Những câu thơ dễ thương”, Tràng An, số 188, ra ngày 31/12, tr.2.
(6) Trần Thanh Địch (1938), “Thi sĩ với ngày xuân”, Tràng An báo, số 292, ra ngày 25/1, tr.1+7.
(7) Nguyễn Hữu Sơn (2012), “Người đương thời Thơ mới bàn về thơ Nguyễn Đình Thư”, Sông Hương, số 283, tháng 9, tr.81-84.
(8) H.X.G (1940), “Nữ sĩ Thu Hồng, tác giả Sóng thơ”. Tràng An báo, số 494, ra ngày 15/3, tr.1+3.
Tải mã QRCode
THỦY THANHCuộc thi thơ dành cho người tàn tật ở Thừa Thiên Huế mặc dù "thời gian ứng thí" chưa đầy 2 tháng nhưng đã thu được kết quả đáng khích lệ. Với 33 tác phẩm của 7 tác giả nghiệp dư mang khuyết tật trên mình nhưng mỗi con người trong họ vẫn là "một thế giới một tâm hồn" lành lặn.
HOÀNG TẤT THẮNGMột trong những đặc điểm đặc thù của tiếng Việt là: các danh từ chỉ sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất... không phải luôn chỉ đứng một mình mà thường kết hợp với một từ đứng trước với chức năng phân loại, chỉ đơn vị, biểu thái... trong lời nói. Chẳng hạn, sự vật thuyền trong tiếng Việt không phải chỉ có từ "thuyền" mà còn có "cái thuyền", "chiếc thuyền", "con thuyền", "lá thuyền", "mảnh thuyền"... các từ "cái - chiếc - con - lá - mảnh..." thường gọi là từ chỉ loại (hay là loại từ).
NGUYỄN THANH HÙNGVăn học thời đại nào cũng là sự du di cái nhìn thấm sâu vào đời sống. Thơ văn nói tới cái thật xa, rồi lại trở về với cái thật gần. Muốn đi xa, hành trang thơ phải gọn nhẹ, nhẹ chữ nhưng nặng lòng. Thơ Thiền là vậy. Mỗi câu thơ như một mũi tên bay vào tưởng tượng. Giữa những dòng thơ Thiền là một cõi chân như, vượt ra ngoài định giới môi trường xã hội quen thuộc, vì thế thơ Thiền thênh thang hướng đạo nhằm mục đích cứu sinh, đưa con người trở về với chính nó.
LÊ ĐẠT Đường bụi trang lịch cũ ếp ếp đàn thời gian L.Đ
HOÀNG NGỌC HIẾN (góp phần định nghĩa minh triết)Tôi bắt đầu tiểu luận này bằng những suy nghĩ có liên quan đến chủ đề minh triết của hai học giả Việt Nam: Ngô Thời Sĩ (1740-1786) và Kim Định (1914- 1997).
VÕ VĨNH KHUYẾNBa mươi năm, sau khi Bác qua đời (1969 - 1999) có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều chuyên luận và khá nhiều bài viết trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước về thơ, văn của Bác. Quy mô và mức độ có khác nhau. Tuy vậy, vẫn có chỗ chưa được khảo sát một cách đầy đủ, chưa được đầu tư nghiên cứu một cách thỏa đáng. Trong phạm vi, khả năng cá nhân và nội hàm vấn đề, chúng tôi mạnh dạn trình bày một số suy nghĩ về thơ Bác viết cho thiếu nhi.
NGÔ TỰ LẬP(Tiếp theo TCSH số 127/9-99)
NGÔ TỰ LẬP1.Platon nói rằng không thể có sự bình đẳng của những kẻ vốn không bình đẳng về mặt năng lực tự nhiên. Đó là xã hội người, nhưng chúng ta cũng có thể nói tương tự như vậy về xã hội từ ngữ.
ĐÀO DUY HIỆP “Hội làng mở giữa mùa thu Giời cao gió cả giăng như ban ngày” (Nguyễn Bính)
YURI BONDAREVTên tuổi của nhà văn Nga Yuri Bônđarép rất gần gũi với bạn đọc Việt Nam qua những tác phẩm nỗi tiếng của ông đã được dịch ở ta vào thập kỷ 80 như: "Các tiểu đoàn xin chi viện", "Tuyết bỏng", "Bến bờ", "Lựa chọn", "Trò chơi"... Là một trong những nhà văn Xô Viết hàng đầu miêu tả hùng hồn và chân thực chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh chống phát xít Đức 1941- 1945, Bônđarép đã được phong Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa, được tặng giải thưởng Lênin, các giải thưởng Quốc gia, giải thưởng Lép Tônxtôi và M.Sôlôkhốp, giải thưởng toàn Nga "Xtalingrát"...
TRẦN ĐÌNH SỬVăn học Trung Quốc trong cơ chế thị trường đã có những biến đổi khá lớn. Theo các tác giả của sách Văn học Trung Quốc thế kỷ XX xuất bản tại Quảng Châu năm 1988 có thể nắm được một đôi nét diện mạo, chứng tỏ văn học Trung Quốc không còn có thể tồn tại theo phương thức cũ. Cơ chế thị trường đã làm cho nhà văn và nhà phê bình phải suy tính lại về sách lược sinh tồn và phương hướng phát triển nghề nghiệp.
ĐOÀN TUẤNThạch Lam qua đời cách đây đã hơn nửa thế kỉ. Ông để lại cho chúng ta một khối lượng tác phẩm không lớn nhưng chúng đã trở thành một mẫu số vĩnh hằng trong văn học Việt Nam. Tiếc rằng chúng ta đã không thể lưu giữ một bức chân dung nào của Thạch Lam. Thậm chí mộ ông được chôn cất nơi nào, cũng không ai biết.
NHẬT CHUNG (Đọc bài thơ XÓM LỤT của anh Phạm Xuân Phụng)Anh Phụng là bác sĩ ở Bệnh viện Trung ương Huế. Tôi tìm hết trong tuyển tập HAI THẬP KỶ THƠ HUẾ, chỉ duy nhất bài thơ này viết về cảnh lụt lội hàng năm vẫn xảy ra ở mảnh đất nghèo khó. Trong những ngày đau buồn, khi nước vừa rút, trắng bợt trước mắt tôi những bài thơ tình èo uột nỉ non ẻo lả, và đứng dậy trước mắt tôi một bài thơ XÓM LỤT.
PHONG LÊBến không chồng - Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991 đưa nhanh Dương Hướng lên một vị trí cao trong thành tựu văn học Đổi mới. Không thuộc đội ngũ “tiền trạm” xuất hiện từ đầu những năm 80 như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Mạnh Tuấn (sinh năm 1948) - người cùng thế hệ với anh (sinh 1949), đến tuổi 40 mới bắt đầu trình làng với tập truyện ngắn Gót son (1989), thế mà chỉ 2 năm sau, Dương Hướng bỗng trở thành một “tên tuổi” với Bến không chồng, góp mặt cùng Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh làm nên một bộ ba sáng giá trong văn học mở đầu thập niên 90, năm năm sau khởi động của công cuộc Đổi mới.
HÀ QUANG MINHLTS: Liệu có phải văn hóa chỉ đơn thuần là văn hóa hay nói cách khác là chỉ chứa đựng các yếu tố văn hóa không? Câu trả lời chắc chắn là không. Văn hóa mang cả trong nó tính chính trị và kinh tế. Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ nhắc tới tính kinh tế trong văn hóa mà thôi nhưng hy vọng nó sẽ đóng góp nhiều cho công cuộc xây dựng một xã hội văn minh hơn, công bằng hơn.
ĐỖ LAI THÚYVề Kinh Bắc với những hội hè, chùa chiền, với đồng chiều cuống rạ, dây bìm bìm, bí lông tơ, giun đất, con gà trụi, châu chấu.. làm người đọc nhớ đến dòng thơ viết về nông thôn, nhất là thơ Nguyễn Bính. “ Trong các nhà thơ cùng thời viết về nông thôn như Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ... có lẽ chỉ có Nguyễn Bính là nhận thức sâu sắc được sự thay đổi của thôn quê trước “ cuộc xâm lăng” của đô thị.
TRẦN VĂN TOÀN - NGUYỄN XUÂN DIÊN1. Ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ Mới là một vấn đề từ lâu đã được đề cập tới. Ngay từ năm 1942, Hoài Thanh- Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam mặc dù giành nhiều trang để miêu tả ảnh hưởng của thơ Pháp (đặc biệt là trường phái Tượng trưng) nhưng các ông đã trân trọng và có một chút hứng thú đặc biệt về ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ Mới (điều này được bộc lộ qua công phu miêu tả, khảo cứu và cụ thể hơn từ chính số lượng trang viết). Khi phân chia các dòng mạch Thơ Mới, Hoài Thanh- Hoài Chân nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, dòng mạch mang tính cách Việt, đồng thời cũng nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng từ Đường thi.
HOÀNG NGỌC HIẾN…Trong thời kỳ đổi mới xuất hiện nhiều tác phẩm cảm hứng phê phán rất mạnh. Có những quan điểm và giọng điệu phê phán rất khác nhau: xót xa và lo thương, căm uất và hằn học, tỉnh táo và điềm đạm... Cảm hứng phê phán mang tinh thần hài hước khoan hòa sẽ tạo một vị trí đặc biệt cho Nguyễn Việt Hà trong văn xuôi Việt Nam đương đại…
ALEXANDER GENISTrên thị trường Mỹ đã xuất hiện những cuốn sách điện tử đầu tiên. “Softbook” - một đĩa điện tử có màn hình bọc da. Sức chứa - 100 000 trang, trọng lượng - 15 kg, giá cả - 300 đôla cộng 10 đôla kết nối mỗi tháng. “Paketbook” giá 500 đôla, nhưng đi kèm với nó phải có máy tính cá nhân. “Dedicate Reader” - một sổ tay điện tử. Nó giống như một cuốn sách thực sự, có một màn hình kép chứa các bản vẽ, bản đồ, sơ đồ, bảng biểu. Giá là 1500 đôla. Như kinh nghiệm cho thấy, không ai thích đọc văn bản theo màn hình, vì thế tại viện nghiên cứu “Media-lab” người ta đang tìm cách chế tạo thứ “mực điện tử” - những cái bao hết sức nhỏ có thể tùy theo cường độ và hướng của dòng điện sắp xếp lại với nhau để tạo thành văn bản. Theo cách đó, gần như loại sách bằng giấy thông thường có thể được in lại - thay một nội dung này bằng một nội dung khác. Tờ “New York Times” viết: “Ngay giờ đây đã thấy rõ sách điện tử là điều tất yếu. Nếu như không phải là sự thay thế sách in, thì cũng là sự luân phiên nó”. (Theo báo chí)
TRẦN ANH PHƯƠNGCầm trên tay tập thơ "Người hái phù dung" của Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi như đọc với chính mình giữa đêm khuya lặng lẽ bên ngọn đèn. Cảm nhận đầu tiên về thơ anh không phải thơ để đọc giữa chốn đông người hay ở trong hội trường lớn, thơ anh chỉ đến với người đọc khi chỉ còn lại một mình đối diện với chính mình, tìm lại mình trong những con chữ lan toả như từng đợt sóng, xâm chiếm choáng ngợp lòng người...