RAPHAEN XÔLE (Cu Ba)
Khi con người mở mắt ra (nỗi sợ hãi đã buộc chúng khép lại), thì việc đầu tiên mà anh ta trông thấy là cái hố có đường kính hai mét và một vòng tròn nhỏ màu xanh nằm cao chừng mười mét ở phía trên.
Minh họa: Ngọc Thảo Nguyên
Anh ta động đậy tay và chân để xem chúng có bị gãy dập gì không, và tin rằng mình không việc gì cả. Lúc đó anh ta nói với mình: "Hugô, mi bị sa xuống hố rồi đấy. Mi gặp may quá thôi: mi chẳng hề bị gãy chân tay gì cả. Giờ thì có thể yên tâm được rồi!"
Anh ta nhổm người dậy chậm chạp đến kỳ lạ. Anh thấy hơi đau ở lưng, và điều đó khiến anh kinh ngạc: thật hiếm khi ngã lăn xuống từ chiều cao mười mét mà lại không bị xây xước gì cả.
Hố hình như do máy đào: máy không chỉ tạo ra một giếng hình tròn lý tưởng, mà còn mài nhẵn thính các bức tường. Con người chạm tay vào tường - hóa ra tường rất mềm, như sét ẩm pha cát: anh quyết định là có thể đào trong tường một chiếc cầu thang bằng những hố khoét, để qua đó leo lên trên. Khi đánh giá việc đào những lỗ khoét này là hệ trọng đến thế nào đối với anh (chả là anh chỉ có thể trông chờ vào chính sức mình, điều đó, và chỉ có điều đó mới mở ra con đường giải thoát cho anh), anh lại ngồi phệt xuống đáy hố, khắp người phủ một lớp bụi vàng vàng và ngoái nhìn xung quanh. Mùi đất sét phả ra một cách dễ chịu. Có lẽ, anh đã ngã xuống một chiếc giếng đã kiệt mạch nước. Anh thế là gặp may rồi, nếu không thì đã phải bơi suốt, phải cố gắng để giữ mình nổi được trên mặt nước rồi.
Ở bên trên, trong cái khung trời màu xanh, hiện ra một mảng mây trắng muốt, và con người chúi mình về một phía để thấy được nó toàn diện. Anh đã không thấy được, song anh hiểu rằng chính vì các đám mây này mà anh đã bị sa xuống hố, chỉ vì cố gắng rút ngắn đường về nhà, anh đã đi tắt theo lối mà anh chưa bao giờ từng đi.
- Đồ ngốc!- anh thốt ra thành tiếng.
Sau đó anh sực nhớ ra là anh không được mất bình tĩnh, và để trấn an, anh bắt đầu lục tìm trong túi một vật cứng gì đó có thể đào đất được. Anh lấy ra những giấy tờ khác nhau: giấy phép đi săn, tờ liệt kê đồ mua sắm mà Êlêna đã giao phó cho anh... Anh không cố nhìn kỹ xem trước mặt anh là những giấy tờ gì. Anh gấp những chứng từ được bọc ni lông lại: chúng không thể dùng vào việc được. Anh chậm rãi đặt tất cả những vật không cần thiết này về chỗ cũ.
Thoạt tiên anh nghĩ đến đôi giày, sau đó tới chiếc khóa cài rộng bản trên chiếc thắt lưng. Anh nói với mình rằng với một chiếc móc khóa như thế thì chẳng được việc gì mà anh phải làm hỏng đôi giày để đào đất sét ẩm cả. Anh từ từ tháo thắt lưng ra và dùng răng - cấu những mắt chỉ khâu ở chỗ gấp mép thắt lưng mà chiếc khóa bằng kim loại được chốt chặt vào. Tháo được một chiếc khóa ra xong, anh liền cuộn chiếc thắt lưng lại và nhét nó vào túi quần.
Con người thở hắt ra một cái, đứng dậy, bước ba bước đến mảng tường đứng trước mặt anh khi anh ngồi dưới đất, và đào lỗ đầu tiên ở chỗ cao ngang đầu gối mình. Hóa ra, việc đó cũng chẳng khó khăn gì lắm. Với hai tấm ván đủ chắc để giữ nổi trọng lượng cơ thể anh, thì chỉ cần cố gắng hai lần là có thể thoát ra khỏi đây được.
Đất ở lỗ thứ ba bị tụt xuống, và anh khi sa xuống dưới đáy. Lần ngã đầu tiên này khiến anh sợ, song anh lại cười, cố gắng bắt mình phải bình tĩnh làm việc y như trước. Anh ngả ngửa đằng lưng và không đứng dậy ngay được. Anh thoáng nghĩ tới những cuốn sách anh mua trong xóm và đánh rơi ở mép hố cùng với những đồ vật khác; giá lúc này chúng còn ở bên anh, anh thậm chí có thể lấy đọc. Anh cũng sực nhớ là đã mang truyện cổ tích về cho các con, và ý nghĩ về các con đã buộc anh phải đứng bật dậy và tìm kiếm mảng tường nào có đất sét chắc hơn và ít pha cát hơn. Anh có cảm giác rằng anh đã tìm thấy chỗ đó, và anh lại bắt đầu xây dựng con đường giải thoát của mình.
Lúc leo lên phía trên, anh không nghĩ ngợi điều gì cả. Trước mắt anh chỉ toàn một thứ đất sét vàng bao vây tứ phía. Anh nghe thấy tiếng thở gấp của mình, tiếng rin rít của chiếc khóa cắm vào đất sét và tiếng đất sét rơi xuống đáy hố lộp bộp.
Anh lại ngã xuống, song đã từ độ cao ba mét. Ở dưới đáy anh như hóa điên lên vào một lúc nào đó, và anh cắn môi. Anh nói với mình: "Không được nản lòng, Hugô ạ. Điều đó có thể gây phương hại cho công việc. Hãy bình tĩnh lại đi!"
Và lần nầy anh không vội trèo lên ngay. Anh ngồi và ngắm nhìn những đấm cỏ mọc quanh mép hố! Anh quờ quạng xung quanh và tìm được mấy cọng.
Anh nhét một cọng vào miệng nhai, cảm thấy vị ngọt của nó, và điều đó giúp anh tĩnh tâm lại.
Giờ mà có cơn mưa mới thật là đúng lúc! Nếu có mưa và nước mưa ngập giếng, thì anh có thể nổi lên được trên mặt. Song cái hố mới thật rộng và sâu. Phải có một cơn mưa rào mà từ thuở cha sinh mẹ đẻ ra anh cũng chưa một lần được chứng kiến.
Con người không tin thượng đế, song lúc đó anh lại thấy nghi ngờ. Anh đã toan thốt lên: "Lạy chúa..." - song anh lại im lặng.
- Sao cái đầu mình chẳng nảy ra được sáng kiến nào nhỉ, - anh nói vẻ không hài lòng mình. - Thế ngộ nhỡ mưa rào cũng chẳng được tích sự gì thì sao?
Phía trên cao mặt trời từ một góc hắt nắng xuống thành hố, để lại trên đó một đường viền lấp lánh hình chiếc móng tay. Có lẽ, trên bầu trời xanh mặt trời phải chiếu sáng rực rỡ và dữ dội lắm. Và chỉ có trời mới biết được là mặt đất trên những con đường đã biến thành bụi từ bao lâu trước đây và sẽ còn tiếp tục như thế bao lâu nữa.
- Không thể có mưa được, - Con người nói trong lúc đứng dậy.
Anh lại bắt đầu leo lên phía trên, đồng thời sử dụng những lỗ đã khoét từ trước. Anh đặt chân cẩn thận, anh nhét chân làm sao có thể sâu hơn vào lỗ bị lở và cố gắng vượt qua những chỗ nguy hiểm nhanh hơn, và cứ thế anh đã có thể vượt qua được thêm ba mét.
Anh dừng lại. Hơi thở trở nên dồn gấp. Cả người anh ướt sũng vì mồ hôi. Giá giờ mà có sợi dây với cái móc ở đầu thì đến gì anh cũng đánh đổi! Anh sẽ tung sợi dây lên phía trên, cái móc sẽ móc chặt vào một vật gì đó, và anh sẽ leo lên được ra ngoài, sau đó thu dọn hành trang, mang chúng về nhà và ngay tối nay anh đã có thể đọc một trong những cuốn sách đã mua, chốc chốc lại đưa chúng lên gần mặt để cảm thấy trọn vẹn hơn mùi vị của cuốn sách mới.
Đúng lúc đó chiếc bậc thang nằm ngang tầm mặt anh mà anh dùng tay bấu vào đó bị lỡ. Con người giật giật trên không, cố gắng khỏi bị ngã ngửa. Anh biết rằng sáu mét độ sâu hoàn toàn đủ để tan xác ra thật sự, nếu như ngã xuống đằng lưng.
Khi nằm dưới hố, anh nói với mình rằng anh đã ngã rất đẹp, hoàn toàn như một diễn viên nhào lộn. Anh rất mừng là anh không hề bị thương tích gì cả, một mặt đó là nhờ cú rơi may mắn, mặt khác - do đất sét mềm.
Anh nghĩ, giá anh có cái cuốc chim hay cái xẻng, anh có thể nhẫn nại chịu đựng và dựng một chiếc cầu thang hình xoáy ốc tuyệt diệu. Khi về nhà, anh sẽ kể cho Êlêna và các con nghe tất những chuyện đó. Anh sẽ kể cho họ nghe tất cả, tất cả những cú rơi ngã, lần lượt từng chuyện một.
Hài lòng với chí cương quyết của bản thân, anh lại bắt đầu đào và lần này anh lên cao được tám mét. Anh dừng lại ở đây, vì nhận thấy lớp đất sét đã hết và bắt đầu một lớp đất khô lẫn sỏi đá nhỏ sắc, nhưng chắc chắn hơn nhiều. Để khoét được một hố sâu trong đó, anh cần phải tiêu tốn số thời gian nhiều hơn gấp ba. Tay anh bị thương chảy máu, bởi vì chiếc khóa quá nhỏ, và để làm việc nhanh hơn anh huy động cả những ngón tay ra giúp mình. Anh ngẩng đầu lên. Nó kia rồi, lối thoát, nó đã ở ngay trước mắt anh, hoàn toàn chỉ cần đưa tay ra là với tới được. Những cọng cỏ hệt như những cành cây bụ bẫm, chúng mới thật sát gần.
Được chiến thắng khích lệ (mà vì nó thậm chí cơn đau ở tay cũng trở nên dễ chịu), con người quên khuấy mất rằng chân anh vẫn đang còn đặt trên lớp đất mềm, và anh đã khinh xuất xê xích chúng chỉ cốt để được đứng thoải mái hơn, - đất sét đã chảy xệ ra. Với đôi tay mệt rã rời và bị thương anh không thể giữ được cân bằng cơ thể vào đúng cái khoảnh khắc cần thiết để đi tìm một điểm tựa mới. Anh đã ngã xuống, bị thất bại hoàn toàn. Anh có cảm giác rằng anh bị lừa dối. Với tất cả trọng lượng cơ thể mình anh ngã quật xuống bên chân phải.
Cảm thấy đau dưới đầu gối, anh cho rằng anh bị gãy chân. Anh thử cử động chân phải, song chẳng thu được kết quả gì, mà cơn đau lại tăng thêm. Anh thử như thế để cốt vì tò mò muốn biết toàn bộ mức độ nỗi bất hạnh của mình. Những giọt nước mắt trào ra khỏi mắt anh. Anh nghiến chặt răng lại và những bắp thịt trên mặt anh căng cứng ra.
Anh hiểu là cần phải kêu cứu. Bây giờ thì chỉ có tiếng kêu cứu mới giải thoát được anh thôi. Tuy nhiên sao lại ngu xuẩn thế nhỉ, tại sao anh lại không kêu cứu ngay từ đầu? "Cứu tôi với" và "Hãy cứu tôi với" - hai câu này anh chỉ bắt gặp trong các cuốn sách và bây giờ anh không thể phát âm chúng lên thành tiếng một cách đủ sức thuyết phục. Anh kêu tên vợ mình đến nổ cổ họng. Việc đó mang lại cho anh sự nhẹ nhõm. Nó biến thành một cái gì đó giống như tiếng kêu đớn đau. Và ngay lúc đó trong anh bỗng xuất hiện một niềm tin kỳ lạ: người vợ ngay lúc này sẽ hiện ra. Nàng sẽ cúi xuống trên miệng hố và hỏi: "Anh làm sao thế, Hugô?" Anh không muốn bị thất vọng về điều đó, và anh đợi một lúc trước khi lại kêu lên.
Niềm hy vọng đã bỏ đi khi anh kêu lên lần thứ ba. Làm thế nào mà vợ anh đến được bây giờ? Bao cây số đường trường ngăn cách nhà với anh? Không ít hơn ba cây số. Ba cây số là một khoảng cách lớn. Lớn vô cùng. Song anh vẫn tiếp tục kêu tên vợ hết lần này tới lần khác. Có thể, gần đâu đây có ngôi nhà nào đó? Anh không thể nhớ lại được những gì anh đã trông thấy ngoài tự do. Chả là anh vẫn có thói quen đi mà mắt vẫn nhìn xuống dưới chân mình, còn trước khi ngã xuống - anh đã nhìn lên đám mây hình vụ nổ hạt nhân. Vì thế anh chỉ có thể hình dung thấy một vùng đồng bằng bát ngát, rộng lớn mênh mông được trải một lớp thảm cỏ.
Những tiếng kêu của anh vẫn vang lên như những tiếng rống đau đớn hơn là lời cầu cứu như trước.
Bỗng con người phát hiện ra là mình đã mất giọng, và điều đó đối với anh là một điều gì đó giống như một cú ngã mới, và không ai nghe thấy tiếng kêu cuối cùng của anh. Không ai đến giúp anh. Anh bật khóc mà không hề ngượng nghịu. Anh khóc một phần vì việc anh phải lâm vào một hoàn cảnh như thế. Một lúc lâu sau anh mới có thể trấn tĩnh lại được. Dường như có ai cưỡng bức anh, anh bắt đầu ngẫm nghĩ lại những điều anh đã suy nghĩ trước đây: cuộc sống thật vô nghĩa lý, thật vô tích sự. Anh đã sống qua ba mươi bảy năm của cuộc đời mình để làm gì? Anh cố gắng trả lời câu hỏi này nhằm át đi cơn đau buồn: "Mình đã có con". Con cái là niềm sướng vui lớn lao nhất của anh, song lần này, khi nghĩ đến chúng, anh đã không mỉm cười. Anh cảm thấy cái "mình đã có con" này chưa bao giờ là câu trả lời thực sự cho câu hỏi.
- Thế thì sao nào? - anh hỏi thành tiếng. - Thế thì chúng sẽ sống vì cái gì?
Anh nhìn dòng máu chảy trên đôi tay bị thương của anh, và nói một cách khinh mạn:
- Để sống.
Con người nheo mắt lại và nghiến răng. Tưởng như anh kẹp những ý nghĩ của mình vào một gọng kìm. Cuộc sống thật là vô nghĩa, vô tích sự. Trong đó đầy rẫy những chuyện tương tự như chuyện đang xảy ra với anh vào lúc này. Và anh phóng mắt nhìn quanh chiếc giếng bằng cặp mắt trợn trừng trừng ngầu máu.
Tại một góc xa thẳm của ý thức anh, nỗi sợ chết vẫn tiếp tục sống. "Mi ăn để mi có thể tiêu phí năng lượng. Mi ăn, để phục hồi năng lượng. Mi ăn, để mi có thể làm việc. Mi hãy làm việc, để mi có thể ăn. Mi ăn và sản sinh con cái. Mi ăn, để mi có thể cười được, bởi vì khi cười, mi tiêu phí số năng lượng mà mi cần phải bù đắp. Và con cái mi cũng sẽ ăn và tiêu phí năng lượng. Ăn và bù đắp năng lượng..."
- Để làm gì? - Anh hỏi bằng giọng đã lạc hẳn.
Anh đã sống qua ba mươi bảy năm. Tất cả đều bình thường. Nếu cần, anh có thể hồi nhớ lại vào những phút ngắn ngủi nhất tất cả những sự kiện quan trọng nhất của cuộc đời mình. Hoặc thậm chí vào cả những giây ngắn ngủi, và tất cả những gì còn lại từ cuộc đời đó cũng bình thường. Có thể, thậm chí không đến được ba mươi bảy năm. Còn nếu như sớm hơn thì anh sẽ trở thành một lão già vô dụng. Và tất nhiên, sẽ chết. Và với con cái anh cũng sẽ xảy ra cái điều y như vậy. Chính xác y như vậy.
"Đó cũng là một cuộc đời", - anh nghĩ.
Việc gì mình phải leo lên trên, nếu như rút cục mình vẫn cứ phải ngã lộn xuống? Thật nực cười thay!" Anh mỉm cười, và có thể là vì nỗi đau ở chân hay vì những suy tưởng buồn chán mà mặt anh có cái vẻ cay đắng.
Ngay lúc đó anh phát hiện thấy trên mặt đất sét, ở trước mặt mình ở độ cao chừng mét rưỡi, một sinh vật nhỏ màu đen đang bò lên trên. Đó là con kiến, và anh đã nghĩ là anh cuốn nó theo xuống đây, khi bị ngã. Chân của con côn trùng vẫn còn nguyên vẹn, và nó chẳng có khó khăn lớn nào mới đưa được tấm thân nhỏ nhoi của mình lên phía trên. Con côn trùng sẽ sống, trong khi anh, một con người, sẽ chết. Trong mắt anh con kiến bỗng biến thành một cái gì đó có ý nghĩa quan trọng, và anh thú vị theo dõi những chuyển động của nó. Anh muốn giết chết con kiến. Sau đó anh quyết định hất nó xuống đáy hố bằng cách thổi vào người nó, và nhìn xem nó sẽ lại bò lên trên ra sao và lại thổi hất nó trở lại. Hay tốt hơn hết là cứ để mặc cho nó bò - Và chúc cho nó thoát ra được tự do thành công?
"Chúc thành công" - anh nhắc lại trong tâm tưởng và "hừm" một tiếng. Anh đứng dậy trên chân trái, anh nhảy tới chỗ con kiến và đợi cho đến khi nó bò lên được một gang tay, sau đó anh tóm lấy con côn trùng bằng ngón tay cái và ngón trỏ, anh nhìn nó quẩy quẩy chân và rất chậm chạp anh bắt đầu ép chặt tấm thân nhỏ nhoi trong lúc chưa nghe thấy tiếng nổ đánh tách một cái khẽ khàng. Anh vo tròn thân hình con kiến thành một viên bi nhỏ và ném xuống đáy hố. "Đó cũng là một cuộc đời, - anh nghĩ. - Một phần giây bất tận trước khi chết". Xong ngay lúc đó anh liền nói với mình rằng anh đã phạm phải một điều tàn bạo. Anh đã ghen tỵ với con kiến... Một nỗi buồn kỳ lạ xâm chiếm hồn anh.
Anh nhìn lên trên và trông thấy một mảng vàng ối của đám mây hẹp. Anh biết rằng trời đã về chiều, và lúc đó dường như nhận được bức thông điệp bí mật, anh đã nhớ lại được tất cả những gì ở trên đó, phía trên mặt đất. Bên phải là dãy đồi thấp mọc đầy cỏ với những quả cầu xanh của những vòm lá cây thưa thớt rãi rác đây đó. Phía trước mặt là một dãy hàng rào bằng cành cây, những cành cây đâm rễ và trổ đầy cành lá. Bên trái là một rừng xoài nhỏ.
Bầu trời lúc này có lẽ phủ đầy mây giống như đám mây đó. Đã có thể nhìn thẳng vào mặt trời. Trên mỗi lùm cây trên các ngọn đồi, trên mỗi chiếc lá của dãy hàng rào và trong rừng xoài đều phản chiếu một thứ ánh sáng vàng chói, và vạn vật đều lấp lánh lung linh. Mặt trời vẫn còn sưởi ấm. Bầu không khí ngùn ngụt bốc hơi lên giữa các ngọn đồi và rừng xoài và dần nguội đi như điều đó vẫn luôn xảy ra vào lúc chiều tối. Hơi nóng đó hòa lẫn với cái mát lạnh sẽ khiến anh phải rùng mình, trái tim đập dồn gấp, và nhất định anh sẽ cười phá lên.
Ngự trị trong đầu óc con người vẫn là mặt trời, còn bên trong cái vòng tròn hồng hồng đã xuất hiện bóng dáng hai đứa con trai anh. Chúng chạy đến với anh.
Anh không thể bằng cái giọng khản đặc của mình kêu to lên như anh hy vọng được. Từ cuống họng chỉ bật ra một tiếng rên than van rền rĩ mà anh cảm thấy như tiếng rống trước lúc chết của loài thú vật.
Song con người vẫn không ngả lòng. Anh tìm thấy chiếc móc mà anh đã quăng đi sau lần ngã cuối cùng của mình, anh nắm chặt nó trong tay và lê chiếc chân bị gãy tới lối cầu thang được thiết kế từ những lỗ khoét sâu - con đường duy nhất dẫn tới sự giải thoát mình.
TRẦN VIỆT CHÂU dịch
(Từ cuốn "Gió và chim". Matxcơva
NXB Thanh niên cận vệ. 1985)
(SH28/12-87)
Tải mã QRCode
LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.
YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.
KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.
S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.
KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.
SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.
BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.
JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).
KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...
MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.
YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.
MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!
AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.
HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.
OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979 những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.
NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.
OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.
BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.
RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.