LTS: Nhà thơ Ngô Minh, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1949; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế, cộng tác viên thân thiết của Sông Hương. Sau cơn tai biến nặng từ trưa 26 tháng 11 năm 2018, nhà thơ đã từ trần tại nhà riêng vào lúc 23 giờ 12 phút ngày 3 tháng 12 năm 2018. Nhà thơ được an táng tại Khu nghĩa trang phường Hương Long, thành phố Huế (sau lưng chùa Thiên Mụ).
Sông Hương thành kính chia buồn cùng gia quyến và bạn đọc, xin đăng bài viết dưới đây của nhà thơ Đông Hà, như là nén nhang tưởng nhớ, vĩnh biệt một người thơ…
Ban Biên tập
Ngô Minh tác phẩm - (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2015)
ĐÔNG HÀ
Thời nay, làm thơ để tự xưng là nhà thơ nghe rất dễ. Nhưng làm thơ để được người đời gọi là nhà thơ lại rất khó. Nhịp sống hiện đại thay đổi khiến con người ta cấp tập hơn, vội vã hơn và cũng nhiều trầm luân hơn nên mỗi khi ngột ngạt, họ lại có xu hướng quay về với thơ ca như một cách giải tỏa nỗi niềm. Người vụng chữ thì đọc thơ người khác, người khéo chữ thì làm chữ ra thơ cho chính mình. Viết cho chính mình dẫu sao cũng dễ dàng hơn, nhưng một khi để chạm đến được trái tim người đọc, để người đọc thấy được chính họ trong những câu thơ, thì không dễ dàng gì.
Vậy mà Ngô Minh đã làm được điều đó, và ông đã được gọi là nhà thơ. Ông là nhà thơ đã đưa được chữ của mình vào tâm hồn bè bạn và người đọc.
Nhà thơ Ngô Minh tên thật là Ngô Minh Khôi, quê làng Thượng Luật, xã Ngư Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Lớn lên từ mảnh đất cát gió quê nhà, ông có nhiều kỷ niệm gắn bó thời thơ ấu ở đấy với những nỗi niềm khắc khoải của một đứa trẻ sớm chứng kiến gia cảnh riêng đầy bi kịch. Cha bị xử oan sai, mẹ một mình gồng gánh tần tảo nuôi đàn con ăn học nên người. Những năm tháng đó đã khắc ghi trong ông những ám ảnh về thân phận, về cuộc đời. Lớn lên ông tham gia giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, cùng đơn vị hành quân vào cửa ngõ Sài Gòn giải phóng quê hương. Giai đoạn này trở thành một đoạn đời đáng ghi nhớ trong cuộc đời ông. Sau đó, ông làm báo, sự lăn lộn gắn bó với nghề báo đã giúp ông có cái nhìn trực diện, thẳng thắn với cuộc đời. Hàng ngàn trang viết đã ra đời dưới cái nhìn sắc sảo của một nhà báo. Bên cạnh đó, hàng ngàn câu thơ vẫn sống mỗi ngày trong tâm hồn ông, vẫn cựa quậy theo nhịp đập trái tim ông để đi đến với bạn đọc. Vì vậy, trong 28 đầu sách đủ thể loại từ truyện ký đến phóng sự, tiểu luận phê bình thì thơ chiếm đến 14 tập.
Cuối năm 2015, nhà thơ Ngô Minh khiến bạn bè bất ngờ khi ông hoàn tất bản thảo và cho xuất bản bộ sách “Ngô Minh tác phẩm” với 2100 trang gồm 5 tập; tập 1: Thơ; tập 2: Chân dung; tập 3: Ký & Phóng sự; tập 4: Tiểu luận phê bình; tập 5: Phê bình văn chương Ngô Minh. Với một người viết hơn bốn mươi năm cầm bút, để chọn lựa ra một bộ sách như vậy không chỉ là sự bền bỉ cần cù làm việc mà còn là sự dứt khoát với chính bản thân mình. Biết bỏ những cái không đáng có, biết đóng lại những năm tháng sau này trong cuộc đời mình, đó là điều không dễ dàng gì. Nhưng Ngô Minh đã làm và làm xong. Trong lời thưa đầu sách, nhà thơ nói: “Bốn mươi năm qua tôi viết ngày viết đêm, say mê, cuồng nộ. Làm thơ, viết chân dung văn nghệ sĩ, tiểu luận và phê bình thơ, viết truyện ký, viết cả bút ký về ẩm thực Huế, nhưng cơ bản là tâm tình, hồn cốt của tôi đều ở trong thơ. Tôi đã xuất bản 14 tập thơ trữ tình và hơn 14 tập truyện ký, phóng sự, tiểu luận phê bình, sưu tầm biên soạn, nay tuyển chọn lại trong 5 tập là món quà gửi đến độc giả, là sự tổng kết một thời dấn thân sôi nổi”. Bạn bè quen với một hình ảnh Ngô Minh “cười sần sật” (chữ dùng của nhà văn Nguyễn Quang Lập), một Ngô Minh la đà với bạn từ sáng đến trưa từ trưa đến tối, một Ngô Minh tận tình với việc nhà người khác như việc nhà mình, một Ngô Minh sôi nổi hứng khởi đọc thơ không biết mệt trong những cuộc thơ… nên khi được cầm bộ sách trên tay, nhiều người ngơ ngác. Làm “tuyển” cho mình cũng là lúc tuyên bố gác kiếm, với một người viết vừa tròn 67 tuổi như vậy có sớm quá chăng? Ông bộc bạch: “Tôi nghĩ mình bây giờ U70 rồi. Những gì trẻ trung, tinh túy đã rút ra hết rồi. Nếu còn sáng tác được cũng chỉ cầm chừng, câu giờ. Họa may có “sự biến đổi gen” nào đấy, tôi mới viết khác đi, mới hay hơn. Nhưng điều đó chắc khó xảy ra. Phải tự biết mình là ai, đứng đâu trong làng văn, tôi nghĩ vậy”.
Người cầm bút thường bị ám thị văn mình vợ người, mấy ai biết vị trí của mình trong làng văn mà chọn điểm dừng như thế.
Tôi đọc thơ Ngô Minh từ những ngày đầu bước chân vào đại học, những câu thơ tình của ông đã trở thành lời hay ý đẹp cho tâm hồn tươi trẻ thời ấy. Bài thơ Hoa hồng mưa với những câu thơ đẹp lạ lùng đã ám ảnh tôi về câu chuyện tình nhuốm màu huyền thoại:
ta về Bến Ngự mưa sa
thức cùng tí tách chuyện ba bông hồng
người mưa qua phố mưa buồn
gặp nàng tiên tặng đóa hồng cầm tay
hoa cười lúm nắng gọi say
mắt môi như rượu rót đầy hồn mưa
rồi theo về tận cổng chùa
tóc mưa thăm thẳm gót mưa bềnh
bồng
xứ mưa mưa ngập cõi lòng
nàng cùng ba ngọn lửa hồng vút bay...
hoa hồng ơi hoa hồng gai
chuyện tình một đóa trên tay người cầm!
Nghe một địa danh đẹp, ai cũng muốn đi. Đến một nơi chốn đẹp, ai cũng đôi phần luyến lưu về nó. Nhưng để làm được những vần thơ ở lại cùng địa danh đó, thì hẳn phải là người có một tấm lòng thơ. Bến Ngự của Huế cũng vậy. Chỉ một cái tên nhưng gợi nhớ bao hình ảnh, vừa mang tính khí khái tráng ca của tư chất người chí sĩ yêu nước họ Phan, vừa vấn vương trong một thoáng đường tơ của nhà thơ họ Lưu, lại vừa uyển chuyển mơ hồ trong tiếng nhạc liêu trai của chàng nhạc sĩ tài hoa Dương Thiệu Tước. Vậy, làm người đến sau, ắt hẳn những cây bút hậu thế sẽ lúng túng đến dường bao khi muốn chạm vào địa danh vừa quen thuộc vừa hấp dẫn bởi vẻ đẹp của trầm tích văn hóa qua tháng năm ửng dậy như thế. Và nhà thơ Ngô Minh đã chọn một góc nhìn khéo léo để viết về Bến Ngự, về Huế của riêng ông qua bài thơ này.
Nhưng sau này, tiếp xúc nhiều với ông, đọc kỹ hơn thơ ông, tôi nhận ra, điều khiến thơ Ngô Minh ở lại với người đọc không phải chỉ ở những câu thơ tình mà đó là những vần thơ về cuộc đời, về thế sự. Ngô Minh làm thơ nhiều, nhưng nhiều nhất và ám ảnh nhất vẫn là những câu thơ về quê hương, về làng Thượng Luật của ông. Ký ức về một thời khốn khó, cực khổ luôn hiện lên qua những câu thơ buồn khắc khoải. Trong bài thơ Nhớ mạ, ông như trẻ nhỏ ngồi lại hiên nhà, chờ ngóng bước chân của người mẹ tần tảo với nắng mưa. Nhưng nhớ mạ, chờ mạ, để rồi khi mạ mất đi, ông thốt lên: “con về giã cối trầu cay/ như giã buồn đau cô quạnh” thì tình cảm ấy quá sức sâu nồng, day dứt trong cuộc đời của đứa con nhạy cảm một mình trong cuộc sống mồ côi.
Người ta làm thơ để than thở nỗi niềm, nhà thơ Ngô Minh đôi lúc cũng mượn câu thơ để thở than cho nhẹ nỗi. Như khi đi trên tàu ra Côn Đảo vào tháng 4/2014, ông viết: “Sống sao khó quá người ơi/ Ra đường sợ nạn, nói chơi sợ phiền” (Lênh đênh) thì quả thật đáng rùng mình. Phải trải nghiệm lắm, trần ai lắm, thị phi lắm, tai bay vạ gió lắm… người viết mới thốt lên như vậy. Tính Ngô Minh hiền lành, với bạn bè, con cháu bao giờ cũng cười hềnh hệch, rượu vào thì say tít mù, cười sần sật nghiêng ngả cả đường về. Bạn gần đến nhà trải chiếu rượu thâu đêm. Bạn xa đến nhà cũng trải chiếu rượu suốt tháng. Ngôi nhà nhỏ xíu trên dốc Bến Ngự đón tiếp bao tao nhân mặc khách. Thời còn sống, mỗi lần vào Huế nhà thơ Phùng Quán lại đóng đô ở đó. Bạn thơ từ xa về mặc nhiên xem đó là nơi tá túc. Ngay cả những nhà thơ ở Huế như Mai Văn Hoan, Nguyễn Trọng Tạo… cũng thường tụ tập lại đó trong những đêm thơ đêm rượu bất tận không có điểm dừng, chỉ khi nào say thì lăn ra ngủ, tỉnh lại kéo nhau lang thang xuống phố cho hết cơn say thơ mới chịu về. Vậy mà cũng có lúc nhà thơ phải thốt lên sống sao khó quá, nghe sao cay đắng chát chua ngậm ngùi.
Nhưng vượt qua tất cả, bằng cái nhìn hồn nhiên của một tâm hồn nhạy cảm, Ngô Minh vẫn tha thiết sống với đời, với chữ nghĩa văn chương. Trải qua những cơn đau của mình, ông lại càng gắn bó với con chữ hơn. Ông viết báo, viết tiểu luận phê bình, viết ký sự… và hơn cả, vẫn làm thơ, vẫn chơi với bạn nồng nàn như thuở còn hai mươi tuổi. Ngôi nhà nhỏ 31 Phan Bội Châu dưới dốc Bến Ngự dẫu đã được làm lại, cao rộng hơn, vẫn không đủ chỗ chứa cho mỗi lần họp bạn. Người vợ hiền nhỏ nhắn năm xưa giờ tóc đã điểm bạc, tay bồng cháu tay vẫn sắp đặt mâm rượu cho chồng tiếp bạn nồng hậu như xưa. Nhìn ngắm cảnh này, tôi lại nhớ câu thơ hôm nào ông viết: “Cay đắng trong veo, nồng nàn cũng trong veo/ Trong veo câu thơ thương người biết khóc”. Cuộc sống luôn có nhiều bất trắc, con người phải chịu sự va đập của nó. Nhưng cái tâm trong veo sẽ giúp họ nhìn đời hồn hậu hơn. Tất nhiên, cũng sẽ sống đẹp hơn nhờ sự hồn hậu từ tâm đó.
Đặc biệt, cõi thơ Ngô Minh luôn dành sự nâng niu trân trọng cho mảnh đất Thượng Luật của ông. Những câu thơ chan chứa tình đã nuôi nấng tâm hồn ông để ông có được một Ngô Minh-thơ hôm nay luôn là đề tài day trở trong ý niệm sáng tác.
Như tôi
Đứa con của cát
Mắt quen mở ngang tầm gió sắc
Để nhận trong mắt biển một chân trời
Kết tinh thành hạt muối của hồn tôi.
Quê hương trong thơ ông là con đò, là bụi cát, là con đường dưới hàng dương quen thuộc, là nơi “mạ bọc tôi trong vạt áo đẫm mồ hôi/ và dính đầy bụi cát/ đôi dép mạ đi là manh ván hẹp/ từ sạp thuyền đi biển của cha”. Tất cả hiện lên giản dị đơn sơ đến mộc mạc. Nên đừng tìm trong thơ ông những mỹ từ. Cái đẹp thơ ông hiện lên ở cái tình hồn hậu bằng câu chữ rất thật, đơn giản và quê mùa. Nhưng cũng chính cái quê mùa ấy đã làm nên hồn thơ Ngô Minh. Cũng chính bằng cái quê mùa ấy, Ngô Minh đã đưa được thơ mình đến với người đọc.
Như khi cư xử với bè bạn, với người đời, ông cũng đem cái tình thật thà ra để sống. Vì vậy những khi hoạn nạn ốm đau, những khi chật vật cơm áo, nhà thơ đã được nhận từ bè bạn biết bao ân tình. Bởi đã từng có lúc, ông sống tận tụy với bạn mình, đúng như trong bài Thơ tiễn bạn đi học trường Nguyễn Du:
Cạn túi mươi đồng cạn cốc tiễn nhau
Cay đắng trong veo nồng nàn cũng
trong veo…
Thôi bạn đi
Con tàu thơ không có ga dừng!
Mượn ý thơ ông, tôi mong rằng với nhà thơ Ngô Minh, con tàu thơ cũng không có ga dừng, cho dù thơ phú bọt bèo như cách nói của ông, thì cũng đã từng chở biết bao tình nghĩa trong cuộc sống để bạn bè sống đẹp với nhau.
Mà thời nay, sống đẹp với nhau, hay nói như Trịnh Công Sơn, là sống tử tế với nhau không dễ. Nhưng từ con chữ, từ văn chương, từ trang viết, nhà thơ Ngô Minh đã đem tấm lòng tốt ra đãi bạn bè, để từ đó có những câu chuyện tình bạn, tình đời nồng hậu thì có nghĩa nhà thơ đã làm được điều có ý nghĩa lớn trong cuộc đời mình. Âu đó cũng là một cách sống đẹp.
Huế, 5/1/2016
Đ.H
(SHSDB31/12-2018)
Tải mã QRCode
HỒNG NHU (Đọc tập “Chuyện Huế” của Hồ Đăng Thanh Ngọc - NXB Thuận Hóa 2008)
NGUYỄN ĐÔNG NHẬTĐọc xong tập sách do họa sĩ Phan Ngọc Minh đưa mượn vào đầu tháng 6.2009(*), chợt nghĩ: Hẳn, đã và sẽ còn có nhiều bài viết về tác phẩm này.
NGUYỄN HỮU QUÝ (Mấy cảm nhận khi đọc Chết như thế nào của Nguyên Tường - NXB Thuận Hóa, 2009) Tôi mượn thuật ngữ chuyên ngành y học (Chăm sóc làm dịu=Palliative Care) để đặt tít cho bài viết của mình bởi Phạm Nguyên Tường là một bác sĩ điều trị bệnh ung thư. Tuy rằng, nhiều người biết đến cái tên Phạm Nguyên Tường với tư cách là nhà thơ trẻ, Chủ tịch Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế hơn là một Phạm Nguyên Tường đang bảo vệ luận án tiến sĩ y khoa.
LÊ THỊ HƯỜNGTìm trong trang viết là tập tiểu luận - phê bình thứ 3 của Hồ Thế Hà. Sau những ngày tháng miệt mài “Thức cùng trang văn” (viết chung với Lê Xuân Việt, được giải thưởng Cố đô 1993 - 1997), Hồ Thế Hà lại cần mẫn “tìm trong trang viết” như một trăn trở đầy trách nhiệm với nghề.
MAI VĂN HOANNguyễn Công Trứ từng làm tham tụng bộ lại, Thị lang bộ Hình, Thượng thư bộ Binh... Đương thời ông đã nổi tiếng là một vị tướng tài ba, một nhà Doanh điền kiệt xuất. Thế nhưng khi nói về mình ông chỉ tự hào có hai điều: Thứ nhất không ai "ngất ngưỡng" bằng ông; thứ hai không ai "đa tình" như ông. Nguyễn Công Trứ "ngất ngưỡng" đến mức "bụt cũng phải nực cười" vì đi vào chùa vẫn mang theo các cô đào.
SICOLE MOZETBà Nicole Mozet, giáo sư trường Paris VII, chuyên gia về Balzac và là người điều hành chính của các hội thảo về Balzac đã làm một loạt bài nói chuyện ở trường Đại học ngoại ngữ Hà Nội, trường Đại học sư phạm Hà Nội, Nhà xuất bản thế giới... Chúng tôi trích dịch một đoạn ngắn trong bản thảo một bài nói chuyện rất hay của bà. Lúc nói bà đã phát triển những ý sau đây dưới đầu đề: Thời gian và tiền bạc trong Eugénie Grandet, và đã gợi cho người nghe nhiều suy nghĩ về tác phẩm của Batzac, cả về một số tác phẩm của thế kỉ XX.
CAO HUY HÙNGLịch sử vốn có những ngẫu nhiên và những điều thần tình mà nhiều người trong chúng ta chưa hiểu rõ. Tỉ như: Thế giới có 2 bản Tuyên ngôn độc lập, đều có câu mở đầu giống nhau. Ngày tuyên bố tuyên ngôn trở thành ngày quốc khánh. Hai người soạn thảo Tuyên ngôn đều trở thành lãnh tụ của hai quốc gia và cả hai đều qua đời đúng vào ngày quốc khánh...
NGUYỄN VĂN HOA1. Tôi là người Kinh Bắc, nên khi cầm cuốn sách Văn chương cảm và luận (*) của Nguyễn Trọng Tạo là liền nhớ ngay tới bài hát Làng quan họ quê tôi của anh mà lời ca phỏng theo bài thơ Làng quan họ của nhà thơ Nguyễn Phan Hách.
TRẦN HUYỀN SÂMSau mười năm, kể từ khi “Cái trống thiếc” ngỗ ngược của chú lùn Oska vang lên trên đống gạch đổ nát của thế chiến II, Herta Munller đã tiếp nối Gunter Gras và vinh danh cho dân tộc Đức bởi giải Nobel 2009.
NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH (nhân Đọc "Từ những bờ hoa gió thổi về")Ông Trần Nhật Thu sinh năm 1944 ở Quảng Bình. Ông lớn lên, làm thơ, đoạt giải thi ca cũng từ miền đất gió cát này. Năm 1978 ông rời Quảng Bình như một kẻ chạy trốn quê hương. Nhưng hơn hai chục năm nay miền quê xứ cát vẫn âm thầm đeo bám thơ ông. Qua đó lộ cảm tâm trạng ông vẫn đau đáu miền gió cát này.
Nhà văn Tô Nhuận Vỹ tên thật là Tô Thế Quảng, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1941, quê ở Vinh Xuân, Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Anh đã kinh qua các công việc: dạy học, phóng viên, biên tập viên… Anh từng giữ các chức vụ: Tổng thư ký và Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, Giám đốc Sở Ngoại vụ, đại biểu HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế, Uỷ viên Ban kiểm tra, Uỷ viên Hội đồng văn xuôi và Ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam.
ĐÔNG LAThế là sự ồn ào qua rồi. Diễn đàn đã đóng cửa. Nhưng lẽ nào việc thẩm định văn chương chỉ râm ran một hồi như thế, rồi cái nhùng nhằng còn nguyên nhùng nhằng, sự mâu thuẫn còn nguyên mâu thuẫn, và chuyện hay dở đến đâu cũng vẫn cứ mãi lửng lơ!
ĐÀO DUY HIỆP"Ngữ pháp, ngữ pháp khô khan chính nó, trở thành cái gì đó như một thuật phù thủy, gọi hồn; các từ sống lại, được cấp xương thịt, danh từ trong dáng vẻ tôn nghiêm bản thể của nó, tính từ, trang phục trong suốt khoác lên nó và nhuộm sắc cho nó một lớp tráng, còn động từ, thiên thần của vận động, mang lại cho câu sự động dao" (Baudelaire) (1)
MAI VĂN HOANMai Văn Hoan sinh 20-1-1949, quê Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Anh tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh và từng dạy ở các trường: Cấp 3 Minh Hoá (1971-1973), Sư phạm 10+3 Quảng Bình (1973-1979), Hai Bà Trưng (1979-1985), Quốc Học (1985-2009). Anh từng tham gia bồi dưỡng hàng chục học sinh giỏi văn tỉnh Bình Trị Thiên (1979-1989), tỉnh Thừa Thiên Huế (1989-2009) đoạt giải Quốc gia. Một số học sinh của anh đã trở thành phó giáo sư, tiến sĩ, cán bộ quản lý, nhà văn, nhà báo... nhưng vẫn “mãi mãi không thể nào quên những giờ dạy văn của thầy Mai Văn Hoan” như lời chị Lương Thị Bích Ngọc tâm sự trên VietNamNet.
NGUYỄN HỮU NGÔ Cuốn sách đồ sộ "Côn Đảo" của Nhà xuất bản Trẻ (1996) là một nguồn tư liệu quý mà những người làm công việc nghiên cứu lịch sử cách mạng Việt Nam không thể không tìm đến. Vì vậy sự chính xác về thông tin đòi hỏi phải khẳng định. Và cũng vì vậy tôi có đôi điều xin thưa với ban biên tập Nhà xuất bản Trẻ về những thông tin về nhân vật Mai Tấn Hoàng được coi là người tử tù cách mạng.
VÕ THỊ QUỲNHĐặng Huy Trứ (1825 - 1874) đã để lại khá nhiều thơ văn cho đời. "Từ Thụ Yếu Quy"(*) tập sách bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người làm quan, là một trong những áng văn quý giá ấy.
Văn Cầm Hải tên thật Nguyễn Thanh Hải, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1972, quê ở làng Trần Xá, Hàm Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình.
CAO HUY HÙNGBa mươi năm đã trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta! Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta di sản vô cùng quí báu: Đó là bản di chúc lịch sử của thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử vinh quang hàng ngàn năm của dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
LÊ THỊ MÂYĐề tặng một giấc mơ là tập thơ hay và buồn của Lâm Thị Mỹ Dạ. Tập thơ này được giải thưởng của UBTQLH các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 1998. Sau khi xóa bao cấp trong in ấn thơ, rất nhiều người có cơ hội tự in thơ, có khi là mỗi năm một tập. Lâm Thị Mỹ Dạ không ở trong diện ấy.
ĐẶNG TIẾNPhê bình huyền thoại(1) của Đào Ngọc Chương là một cuốn sách mỏng, in giới hạn, có lẽ chỉ nhắm vào một nhóm sinh viên, nhưng là sách cần yếu, mới mẻ.