Người chồng lý tưởng

15:35 01/10/2010
IVAN XÔCHIVESNgười chồng lý tưởng - đấy là tôi. Mẹ vợ, vợ tôi và đa số bạn gái của nàng đều gọi tôi như vậy.

Ảnh: Internet

Thẳng thắn mà nói, trở thành “Người chồng lý tưởng” hoàn toàn không dễ dàng gì hơn đạt được học vị Phó tiến sĩ khoa học hay danh hiệu Phó giáo sư. Chỉ khác là học vị và danh hiệu trong khoa học thường được khuyến khích bởi vật chất. Còn trong hoàn cảnh của tôi thì chỉ được sự vinh quang. Vâng. Chỉ thế thôi. Nhưng tốt nhất là tôi sẽ kể từ đầu.

Ngay từ ngày đầu chung sống, khi mà các đồ trang sức cho một đám cưới không còn cần thiết nữa, chúng tôi đã nghĩ ngay đến việc xây dựng cuộc sống lứa đôi.

- Đã đến lúc ăn sáng rồi anh nhỉ? - Rất nhẹ nhàng và âu yếm, Liđa nhắc tôi, trong khi nàng đang ngồi trước gương và cẩn thận sửa sang lại sắc đẹp của mình.



- Sao? Anh không biết phải làm gì à? Ha, ha… Liđa phá lên cười và vẫn không rời khỏi gương, nàng nói:

- Chỉ cần lấy trứng và mỡ, và… Thôi, chắc anh biết. Anh thân yêu. Anh thì việc gì cũng làm được cơ mà.

Tôi cảm thấy xấu hổ.

“Đồ con lợn! - Tôi tự rủa mình - Lấy vợ nghĩa là phải lo lắng và biết chăm sóc vợ. Thế mới là chồng”.

Cùng với ý nghĩ đó, tôi tiến vào bếp và chuẩn bị món trứng rán. Tôi chuẩn bị món đó không phải theo cách tầm thường mà còn trang trí thêm bằng những miếng giò, vài lát hành và cuối cùng rắc tiêu, ớt lên trên.

- Ôi! Anh thật là tuyệt diệu! Liđa khen tôi, sau khi đã ăn xong món trứng - Món trứng của anh bao giờ cũng ngon cả. Tôi cảm thấy sung sướng.

Sau buổi làm việc, tôi trở về nhà trong tâm trạng phấn khởi, nhưng đói mềm. Liđa đón tôi bằng cái hôn rất kêu.

- Em đợi anh hết cả hơi - Nàng thốt lên - Anh hãy chuẩn bị món gì đi. Em đói muốn chết đây này.

Tôi cảm thấy mủi lòng, và lại tiến vào bếp. Ngoài món xúp, khoai tây rán và thịt luộc, tôi không biết chuẩn bị gì nữa. Nhưng khi đã ngồi vào bàn. Liđa lại khen tôi.

- Anh bao giờ cũng tuyệt diệu! Những món này cũng rất ngon.

Buổi chiều chúng tôi lại ăn thịt luộc và khoai tây rán. Liđa lại khen tôi về món đó. Tôi cảm thấy tự hào.

Được một hay hai tuần lễ, tôi không còn nhớ nữa. Nhưng một buổi sáng, khi còn nằm trên giường, Liđa nói với tôi rất nhẹ nhàng.

- Lại trứng rán há anh? Em ngán đến tận cổ rồi. Ai lại suốt ngày trứng rán, khoai tây rán và thịt luộc.

Tôi suýt nữa ngất. Khi trấn tỉnh lại, tôi nghĩ: “Mình thật là bậy! Ngay cả con bò cũng không phải chỉ ăn một loại thức ăn. Khi thì cỏ, khi thì rơm, thậm chí cả cháo nữa. Vậy mà mình thì chỉ biết nấu cho Liđa mỗi món trứng rán, khoai tây và thịt”.

Sau một buổi suy nghĩ kỹ càng, tôi mua về một cuốn sách dạy nấu ăn dày cộp. Tôi ngấu nghiến đọc. Đọc ở bất kỳ nơi nào có thể được. Trên tàu điện, ở cơ quan, trong giờ giải lao. Thậm chí, chắc các bạn không tin, tôi lẻn dậy sớm chui vào phòng vệ sinh ngồi đọc để ánh đèn không làm thức giấc Liđa của tôi.

Những gì đọc được trong sách, tôi liền áp dụng ngay. Tôi trở nên thành thạo các món ăn và thậm chí còn biết cả tỷ lệ vitamin A, B, C… trong từng loại súp, rau… sung sướng nhất là tôi làm được cả bánh ga-tô.

Bây giờ chúng tôi ít khi được ăn hai người với nhau. Cha mẹ vợ là những vị khách thường xuyên của chúng tôi.

Một lần, khi đang lúi húi trong bếp, tôi chợt nghe tiếng mẹ vợ nói với Liđa trong phòng khách.

- Con thật là tốt số. Nhờ trời con đã kiếm được người chồng lý tưởng. Đấy con xem. Chồng con nấu ăn thật tuyệt diệu. Mẹ sẽ bảo các chị con đưa chồng tới học tập.

Tôi sung sướng quá, suýt để cháy mất món gà quay kiểu Pa-ri.

Sau lần đó, các bà chị của vợ tôi cùng các ông chồng tới dự bữa cơm cùng chúng tôi. Trong khi ăn, tôi say sưa giảng giải và kể lại tất cả những thủ thuật nấu ăn mà tôi đã đọc được trong sách cùng với những kinh nghiệm mà tôi đã đạt được khi làm bếp.

Các bà chị vợ nghe tôi rất chăm chú, thỉnh thoảng mỉm cười và liếc sang các ông chồng, ý muốn nói: - “Đấy mới thật là người chồng lý tưởng”. Nhưng không biết tại sao mà các ông chồng chỉ lặng thinh nghe tôi nói mà không có ý kiến gì.

Khi tiễn khách ra về, tôi lạnh người khi nghe chồng chị cả nói với vợ:

- Đấy là thằng ngốc lý tưởng! Tôi thì chỉ cần một củ hành với một mẩu giò cũng cảm thấy ngon miệng hơn những món hắn ta vừa biểu diễn. Thật là đồ đàn ông mặc váy.

Một lần khác, Liđa nói với tôi:

- Em muốn mời các bạn gái của em tới ăn cơm để giới thiệu cho họ biết anh của em tuyệt diệu như thế nào. Khoảng ba mươi người anh ạ.

- Anh vừa mới mượn được cuốn sách nấu ăn dùng cho các buổi lễ. Chắc trong đó sẽ có các món mà em và các bạn em thích.

- Anh dốt lắm! - Liđa giận dữ ngắt lời tôi - Trong sách thì toàn những món mà ai cũng có thể làm được. Em cần những món mà… Thôi, chắc anh biết rõ hơn em. Anh của em bao giờ cũng tuyệt diệu cơ mà.

Tôi đồng ý với Liđa và lập tức bắt tay vào công việc chuẩn bị. Tôi gửi thư tới các khách sạn nổi tiếng ở Taskent, Tbilisi, Rigan, Lêningrát…, thậm chí gửi cả tới các vùng cực bắc tôi hy vọng sẽ nhận được những lời chỉ bảo của các chuyên gia nấu ăn cùng với những món mà chắc là Liđa thích, chẳng hạn các món từ thịt gấu, nai, lợn rừng.

Sau nhiều ngày chuẩn bị và một ngày lăn lộn trong bếp, tôi đã làm xong bữa tiệc để Liđa giới thiệu tài nấu ăn của tôi với bạn nàng. Tôi cảm thấy sung sướng khi nghe các vị khách nói với Liđa: “Cậu thật hạnh phúc. Chồng cậu quả là một người chồng lý tưởng. Bọn mình chỉ ước ao có được người chồng như vậy…”

Liđa, phải cám ơn nàng thật sự vì nàng đã làm mọi việc để tôi có thể hoàn thiện hơn nữa trong kỹ thuật nấu ăn. Nàng bắc một loa truyền thanh ngay trong bếp để tôi có thể tiếp thu được những bài học nấu ăn dùng cho các bà nội trợ.

Nàng còn cắt và sưu tầm vô số bài báo, mẩu tin về các món ăn mới và hiếm.

Hơn nữa, cũng phải cảm ơn Liđa, vì nàng đã phải bỏ thì giờ đi dự các buổi khiêu vũ, nghe hòa nhạc, xem phim và thậm chí còn đi xem đá bóng. Rồi sau đó, khi đã nằm trên giường, nàng kể lại cho tôi những gì mà nàng đã xem được trong ngày, và giọng kể êm ái của nàng đã ru ngủ tôi sau những mệt nhọc của một ngày nội trợ.

Đấy là toàn bộ những gì mà tôi muốn kể cho các bạn về việc tôi đã phấn đấu để đạt được danh hiệu “Người chồng lý tưởng”. Đạt được danh hiệu đó cũng khó phải không các bạn?

TRẦN LỘC HÙNG
(Phỏng dịch từ “Mọi người cùng cười” của Ivan Xôchives. NXB “Các nhà văn Xô Viết” 1970)

(5/2-84)



Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.

  • WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?

  • SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.

  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.