MAI VĂN ĐƯỢC
Ảnh: internet
|
LGT: Vào thời điểm trước khi chữ Quốc ngữ ra đời ở Việt Nam, tình hình thế giới, trong nước có nhiều biến chuyển; nổi bật lên và có tác động đến sự ra đời của chữ Quốc ngữ là vấn đề thương mại, truyền giáo. Sang thế kỷ XVII, quá trình Latin hóa tiếng Việt diễn ra mạnh mẽ và chữ Quốc ngữ chính thức ra đời. Trong quá trình đó, các giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha đóng một vai trò quan trọng, công lao nổi bật nhất thuộc về giáo sĩ Francisco de Pina (1585 - 1625), Gaspar de Amaral (1594 - 1645) và Antonio Barbosa (1594 - 1647). Bên cạnh đó, các yếu tố thương mại, truyền giáo của người Bồ và chữ Bồ Đào Nha cũng góp phần cho việc ra đời chữ Quốc ngữ ở Việt Nam. |
1. Chữ Quốc ngữ ra đời trong thời kỳ lịch sử nhiều biến động
Quá trình truyền giáo tại Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ XVI mà mốc khởi điểm được cho là năm 1523 khi Duarte Coelho (người Bồ Đào Nha) đến Cù Lao Chàm và để lại ở gần làng chài Tân Hiệp một cây thập tự cùng một tảng đá có khắc tên. Năm 1533, giáo sĩ Ignatio đến Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ (Nam Định) truyền giáo. Sau đó có một số giáo sĩ Dòng Đa Minh (Dominicain), Dòng Phanxicô (Francisco) đến truyền giáo. Tuy vậy, phải đến thế kỷ XVII, khi giáo sĩ Dòng Tên đến thì sự thâm nhập của đức tin Kitô tại Việt Nam mới diễn ra nhanh hơn.
Tình hình chính trị Việt Nam vào cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII diễn biến phức tạp. Chính quyền trung ương tập quyền tan rã, hình thành ba thế lực nắm quyền là chúa Nguyễn (Đàng Trong), vua Lê - chúa Trịnh (Đàng Ngoài) và nhà Mạc (Cao Bằng); trong đó Đàng Trong và Đàng Ngoài là hai vùng quan trọng trong hoạt động thương mại và truyền giáo. Nhằm tăng cường khả năng quân sự và phát triển kinh tế đất nước, cả chúa Trịnh và chúa Nguyễn đều tiếp nhận trao đổi buôn bán với thương gia phương Tây. Tuy nhiên, để có cơ hội buôn bán với thương nhân nước ngoài thì họ buộc phải “làm ngơ” cho các giáo sĩ truyền giáo. Điều này tạo nên sự truyền giáo mạnh mẽ vào Đàng Trong, tiếp đó là Đàng Ngoài, mà người Bồ Đào Nha chiếm đa số.
Trong quá trình truyền giáo tại Việt Nam, vấn đề khách quan đặt ra là các giáo sĩ phải biết tiếng Việt hoặc chữ Hán. Trong lúc đó, chữ Hán được đánh giá là khó học và mất nhiều thời gian. Như vậy, một con đường khác mà các giáo sĩ Dòng Tên trong buổi đầu có mặt ở Việt Nam phải làm là học tiếng Việt. Trong quá trình đó, họ đã Latin hóa tiếng Việt.
Việc Latin hóa tiếng Việt đã sẵn có các tiền đề. Thời bấy giờ, ở phương Tây đang diễn ra một “thời đại” các quốc gia tự khẳng định tiếng nói của dân tộc mình để loại bỏ sự thống trị của tiếng Latin. Các nhà ngữ pháp và chính tả Bồ Đào Nha ở thế kỷ XVI, như João de Barros, Péro de Maglhães de Gândavo hay Duarte Nunes do Leão, đã giúp cho tiếng nói dân gian trở thành một phương tiện chuyển tải tư tưởng. Muốn như thế, cần phải làm một số việc, trong đó có việc phân tích tỉ mỉ và tìm chữ viết cho tiếng nói này. Việc viết tiếng Việt theo mẫu tự Latin nối tiếp đường hướng đó1.
Vào nửa sau thế kỷ XVI đến trước khi giáo sĩ Dòng Tên đến Đàng Trong (năm 1615), việc Latin hóa tiếng Việt đã bắt đầu manh nha qua việc người Bồ Đào Nha và người Tây Ban Nha Latin hóa các địa danh của Việt Nam, nhất là các địa danh được người Bồ Đào Nha ghi lên bản đồ hàng hải của mình2.
Việc làm này của các giáo sĩ phù hợp với chủ trương chung của Giáo hội ở Rome. Đoạn trích sau từ chỉ thị của Giám mục Francesco Ingoli - thư ký của Thánh bộ Truyền giáo ở Rome sẽ minh chứng cho điều đó: “[Cha tìm hiểu] về ngôn ngữ mà các dân tộc ấy dùng để nói; nếu có nhiều ngôn ngữ, thì hãy đặc biệt ghi lại ngôn ngữ nào được sử dụng nhiều nhất... Cha tìm hiểu về chữ mà họ dùng để viết; về các chữ này, cha tìm cách hỏi những văn sĩ ưu tú mà cha gặp được, để ghi lại một bảng chữ cái, kể cả những dấu nối và dấu phân câu mà họ dùng; cha cũng chú ý ghi lại bằng mẫu tự La Tinh tương ứng, với cách phát âm, để ta có thể so sánh…”3.
Trong bối cảnh đó, các giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha đã đi tiên phong trong việc Latin hóa Tiếng Việt, hình thành nên chữ Quốc ngữ ở Việt Nam vào thế kỷ XVII.
2. Người Bồ Đào Nha với sự ra đời chữ Quốc ngữ ở Việt Nam
Bồ Đào Nha là nước phương Tây đến buôn bán, truyền giáo ở Đàng Trong sớm và mạnh nhất. Chính sự bảo trợ của Bồ Đào Nha trong truyền giáo, lợi ích từ thương mại và nhu cầu trao đổi hàng hóa (đặc biệt là vũ khí) từ Bồ Đào Nha của cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đã tạo điều kiện cho các giáo sĩ Dòng Tên có khoảng thời gian dài ở Việt Nam để truyền đạo cũng như học tập, trau dồi vốn từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt; từ đó sáng tạo ra chữ Quốc ngữ. Hay nói cách khác, thương mại và truyền giáo là con đường đưa tới sự hình thành chữ Quốc ngữ ở Việt Nam mà người Bồ Đào Nha đóng vai trò chủ đạo. Cũng nhờ quá trình truyền giáo và thương mại có phần ổn định mà “công cuộc” Latin hóa tiếng Việt thành công.
2.2. Những đóng góp từ các giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha
Những giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha là những người đi tiên phong trong lĩnh việc sáng tạo chữ Quốc ngữ ở Việt Nam mà người đặt nền móng đầu tiên là giáo sĩ Francisco de Pina (1585 - 1625).
Francisco de Pina sinh năm 1585 ở Guarda, Beira Alta (Bồ), gia nhập Dòng Tên năm 1605. Năm 1608, ông được chỉ định sang Nhật truyền giáo, rồi học thần học ở Macao (năm 1615 - 1616). Ông được thụ phong linh mục năm 1616 tại Malacca. Sang năm 1617, ông đến Đàng Trong và hoạt động tại đây cho đến khi mất vào ngày 15/12/1625.
Trong khoảng thời gian ở Đàng Trong, ông học tiếng Việt; sau đó trở thành giáo sĩ giỏi tiếng Việt nhất vào thời điểm bấy giờ và góp công đầu trong quá trình hình thành chữ Quốc ngữ. Dấu mốc quan trọng nhất là vào năm 1618, Francisco de Pina và một thanh niên học thức Việt Nam dịch ra tiếng Việt cuốn Kinh Lạy Cha cùng với một số kinh căn bản khác trong giáo lý Công giáo. Điều đáng tiếc là không bản dịch nào của các kinh ấy đến tay chúng ta, ngoại trừ đoạn dịch sáu từ đầu tiên của Kinh Lạy Cha được ghi ra như một ví dụ văn phạm trong cuốn Từ điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes. Tuy vậy, Kinh Lạy Cha được sao lại vào năm 1632 trong tài liệu ngôn ngữ học Nhật - Hoa - Việt, tại Áo Môn. Trong phần chuyên khảo về Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam, GS. Roland Jacques đã có dịp giới thiệu tư liệu này và kèm theo phụ trương văn bản tiếng Việt “Le Pater Noster” (Kinh Lạy Cha). Đây là tư liệu rất quý giá, cho thấy sự bắt đầu chữ Quốc ngữ là năm 1618, sớm hơn 2 năm so với quan điểm của Đỗ Quang Chính (1620). Đồng thời khẳng định công lao to lớn của Francisco de Pina và cả một số người Việt (tiếc là không được đề cập tên cụ thể).
![]() |
![]() |
|
Một đoạn Kinh Lạy Cha được in trong phụ trương V của cuốn Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam. (Nguồn: Roland Jacques (2004), Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam, quyển 1, Định Hướng tùng thư, tr. 331-332). |
Năm 1620 các giáo sĩ Dòng Tên tại Hội An soạn thảo một sách giáo lý bằng “chữ Đàng Trong”, tức là chữ Nôm. Tác giả Đỗ Quang Chính đưa ra phỏng đoán rằng: “Nhưng chúng tôi tưởng cuốn này cũng được viết bằng chữ Việt mới nữa (chữ Quốc ngữ ngày nay), mà người có công soạn thảo là Linh mục Francisco Pina vì lúc đó chỉ có ông là người Âu châu thạo tiếng Việt nhất”4. Cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng cụ thể minh chứng cho giả thiết này. Nhưng có một điều có thể khẳng định là Francisco de Pina có tham gia vào quá trình soạn thảo hoặc góp ý cho sách giáo lý bằng chữ Nôm này, vì ông là người giỏi tiếng Việt nhất và là linh mục khá được trọng vọng trong giới giáo sĩ ở Hội An thời điểm đó.
Khoảng thời gian năm 1622 - 1623 đánh một dấu mốc quan trọng nữa trong quá trình hình thành chữ Quốc ngữ. Trong thư Francisco de Pina viết vào thời gian này đã nhắc đến việc ông soạn sách chữ Quốc ngữ: “Phần con, đã soạn thành một tập nhỏ về chính tả và các dấu thinh của tiếng này [Việt], và con đang bắt tay vào việc soạn ngữ pháp. Dù con đã thu thập được nhiều truyện thuộc các loại khác nhau giúp cho những trích dẫn thêm giá trị, hầu xác quyết được ý nghĩa của từ ngữ và quy luật ngữ pháp”5. Như thế, ông đã soạn chính tả và cả ngữ pháp chữ Quốc ngữ. Tuy tài liệu này hiện không còn nhưng đã được Alexandre de Rhodes kế thừa trong cuốn Từ điển Việt - Bồ - La vào năm 1651.
Ngoài ra, Francisco de Pina còn dạy tiếng Việt cho Alexandre de Rhodes và Antonio de Fontes. Thư của Gabriel de Matos viết vào năm 1626 đã cho thấy điều đó: “Cư sở thứ ba tại ‘thủ phủ’ quan ‘trấn thủ’, nơi mà lúc này tôi [đang tạm trú], có ba Linh mục định cư: L.m. Francisco de Pina biết tiếng [Việt] khá lắm, làm bề trên và là giáo sư [dạy tiếng Việt], và các L.m. Đắc Lộ cùng Antonio de Fontes là thuộc viên và học viên”6.
Với những công lao to lớn đó, Francisco de Pina xứng đáng được chúng ta tôn vinh là người đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của chữ Quốc ngữ.
Sau những nỗ lực của Francisco de Pina, nhiều giáo sĩ Dòng Tên khác cũng đã ghi tên mình vào quá trình Latin hóa tiếng Việt và sáng tạo chữ Quốc ngữ. Có thể kể đến là các giáo sĩ Gaspar Luis, Francesco Buzomi, Antonio de Fontes, Gaspar de Amaral, Antonio Barbosa, Girolanno Maiorica, Cristoforo Borri, Onofre Borges, Alexandre de Rhodes,… Trong đó, các giáo sĩ người Bồ Đào Nha có một vai trò quan trọng. Những đóng góp của họ được thể hiện trên hai phương diện: (1) viết một số chữ Quốc ngữ trong các bức thư hay bản tường trình gửi về Tòa thánh, Cha bề trên; (2) soạn từ điển tiếng Việt.
Như vậy, các giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha có những đóng góp tiên phong rất lớn trong việc hình thành chữ Quốc ngữ ở Việt Nam. Đáng tiếc là phần lớn những di sản của họ hiện nay không còn nhiều, một số trong đó được chúng ta biết đến gián tiếp thông qua nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Tuy vậy vẫn có thể khẳng định một cách chắc chắn công lao to lớn của họ.
2.3. Chữ Bồ Đào Nha với sự ra đời chữ Quốc ngữ
Khi nói đến vấn đề này, cần phải bàn đến hai khía cạnh. Thứ nhất là các giáo sĩ (cũng chính là nhà ngôn ngữ học) dùng âm vị và quy tắc của tiếng Bồ Đào Nha để góp phần hình thành nên chữ Quốc ngữ ở Việt Nam. Điều này đã được GS. Roland Jacques khẳng định rất rõ trong công trình Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam của mình. Ông cho biết: “Muốn dựa trên ngữ âm Lantin để viết ba ngôn ngữ nêu trên (Hoa, Nhật và Việt), các nhà biên soạn xác định rằng mình tuân theo những quy tắc chính tả của tiếng Ý. Chỉ cần xem xét tài liệu thì sẽ thấy ngay rằng cách làm ấy là một cách làm bất thường, chỉ vì muốn chiều theo nhân cách của người nhận thôi: rất nhiều nét sửa chữa và nhiều điều bất hợp lý cho thấy rằng các quy tắc của Bồ Đào Nha là những quy tắc duy nhất mà người ta thường tuân theo”7. Hay: “Có 23 âm đầu khác nhau trong các từ đơn âm tiếng Việt, được ghi lại trong văn bản này [tài liệu ngôn ngữ học đối chiếu Nhật - Hoa - Việt được biên soạn tại Áo Môn năm 1632] bằng những ký hiệu khác nhau; vì vậy, dù cho có vài sai sót trong phân tích, quả thật các âm ấy đã tương ứng với 25 âm đầu mà ta tìm thấy trong cuốn Từ điển 1651 [Từ điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes] cho cùng số từ vựng ấy. Qua sự tương ứng đó, ta có thể đánh giá được ưu điểm là đã chọn chính tả Bồ Đào Nha làm hệ thống chính yếu cho cách viết tiếng Việt bằng chữ cái, vì xét về âm vị thì tiếng Bồ phong phú hơn nhiều so với tiếng Castillan (Tây Ban Nha) hay tiếng Ý”8. Ở đây, việc Latin hóa tiếng Nhật chịu ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha nhiều hơn vì cách phát âm của tiếng Nhật có ít nhiều nét giống với tiếng Bồ.
Khía cạnh thứ hai là tiếng Bồ Đào Nha thời bấy giờ có một vị thế quan trọng ở nhiều nơi. Bởi vì từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII, Bồ Đào Nha có vai trò chính trị, thương mại tại Brazil, Ấn Độ, Mã Lai, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản. Từ cuối thế kỷ XVI sang đầu thế kỷ XVII, tiếng Bồ Đào Nha được sử dụng ở những nơi trên do đoàn thương gia Bồ Đào Nha và giáo sĩ phương Tây. Các nhà truyền giáo dù là người Đức, Ý, Pháp, đã đến Việt Nam, Áo Môn, Nhật Bản… vào thế kỷ XVII thì cũng phải biết tiếng Bồ Đào Nha9. Do đó mà ba cuốn từ điển do Gaspar de Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre de Rhodes soạn đều có mục tiếng Bồ Đào Nha.
Như thế, tiếng Bồ Đào Nha là tiền đề, là nhân tố quan trọng trong sự ra đời chữ Quốc ngữ.
3. Những lời kết
Trong công cuộc Latin hóa tiếng Việt để hình thành nên chữ Quốc ngữ, những giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha là những người đi tiên phong và có nhiều đóng góp to lớn. Đặc biệt là Francisco de Pina - người đặt nền móng đầu tiên cho công trình chữ Quốc ngữ và Gaspar de Amaral, Antonio Barbosa đã tiếp nối công việc đó. Các công trình đó tuy hiện nay không còn sự hiện hữu nhiều nhưng đã được Alexandre de Rhodes kế thừa một cách xuất sắc. Nhìn một cách tổng quát và khách quan thì không thể đánh giá người khởi đầu (Francisco de Pina) có vai trò quan trọng hơn người kế thừa, tổng hợp (Alexandre de Rhodes). Như trước đây nhiều tác giả đề cao Alexandre de Rhodes quá mức cũng không phù hợp. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp Alexandre de Rhodes mà đề cao quá mức Francisco de Pina, mà chúng ta cần nhìn nhận đúng vai trò của Francisco de Pina - một người ghi dấu ấn khởi đầu của chữ Quốc ngữ từ năm 1618.
Lâu nay trong giới học giả Việt Nam chưa đánh giá, nhìn nhận đúng vị trí của chữ Bồ Đào Nha đối với sự xuất hiện chữ Quốc ngữ. Do đó mà cũng cần nhìn nhận cho thật chính xác các yếu tố tích cực trong tiếng Bồ Đào Nha được thể hiện trong chữ Quốc ngữ và vị thế của chữ này có tác động nhất định đối với sự ra đời chữ Quốc ngữ.
Chữ Quốc ngữ ra đời ở Việt Nam xuất phát từ bối cảnh lịch sử đặc biệt và sự nỗ lực của các giáo sĩ Dòng Tên. Tuy nhiên phải khẳng định rằng, chữ Quốc ngữ ra đời ở Việt Nam ban đầu là để phục vụ cho mục đích riêng của các giáo sĩ Dòng Tên chứ không phải để thay thế một thứ chữ đã ăn sâu bén rễ từ rất lâu ở Việt Nam (chữ Hán - Nôm). Và có muốn thay đổi đi nữa thì họ cũng không đủ sức để làm việc đó vì họ chỉ là những nhà truyền giáo, đem đức tin Kitô giáo đến với người Việt Nam chứ không phải là những người điều hành đất nước. Ban đầu, chữ Quốc ngữ chỉ tồn tại hạn chế trong giới Công giáo. Phải đến cuối thế kỷ XIX và sang nửa đầu thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ trở nên phổ biến và phát triển mạnh trong bối cảnh lịch sử mới của Việt Nam.
M.V.Đ
(SHSDB41/06-2021)
---------------------
1. Roland Jacques (2004), Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam, Quyển 1, Định Hướng Tùng thư, tr. 235.
2. Xem thêm: Nguyễn Thị Vân Anh (2017), “Quá trình Latin hóa tiếng Việt và hình thành chữ Quốc ngữ thời kì đầu đến sách sổ sang chép các việc của Philiphê Bỉnh”, trong Chữ Quốc ngữ sự hình thành, phát triển và đóng góp vào văn hóa Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 21.
3. Roland Jacques (2004), Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam, Quyển 1, Sđd, tr. 195-196.
4. Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 - 1659, Sđd, tr. 28.
5. Dẫn theo Đỗ Quang Chính (2008), Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615 - 1773, Sđd, tr. 45-46.
6. Thư của Gabriel de Matos, giám sát các tu sĩ Dòng Tên ở Đàng Trong, viết tại Đàng Trong vào ngày 05/7/1626 gửi Linh mục Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã, viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, ARSI, JS. 68, f. 17r. (Dẫn theo Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 - 1659, Sđd, tr. 44-45).
7. Roland Jacques (2004), Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam, Quyển 1, Sđd, tr. 203.
8. Roland Jacques (2004), Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam, Quyển 1, Sđd, tr. 219 - 221.
9. Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 - 1659, Sđd, tr. 115-116.
Tải mã QRCode
PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...
TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".
MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.
HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.
TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H
TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.
TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.
NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...
BẢO CHI (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...
ĐỖ LAI THÚY Văn là người (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.
ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.
TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.
TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?
HOÀNG NGỌC HIẾN ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...
THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.
TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.
ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.
ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…
HỒ THẾ HÀ Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.
JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.