Người “cuồng si” văn hóa Tà Ôi

09:58 28/11/2013

Bạn bè, học trò hay gọi Trần Nguyễn Khánh Phong (37 tuổi, nguyên giáo viên Trường THPT A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế) là “thầy Phong gàn”. Suốt 12 năm dạy học, anh dùng phần lớn thời gian, tiền bạc để sưu tập vật dụng, tư liệu của đồng bào Tà Ôi.

Trần Nguyễn Khánh Phong bên kho hiện vật về đồng bào Tà Ôi

Ăn giấm chuột để có mảnh vỏ bom

Trần Nguyễn Khánh Phong là con nhà nông ở làng Phú Ốc, tổ dân phố 3, P.Tứ Hạ, TX.Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Năm 2000, anh tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường đại học Khoa học Huế rồi học thêm mấy tháng nghiệp vụ sư phạm để thi công chức vào ngành giáo dục. Không biết có dự tính gì trước hay không, nhưng anh chọn huyện miền núi A Lưới để đi gieo chữ. Tháng 4.2001, Phong chính thức đứng bục giảng tại Trường THPT A Lưới.

Sau giờ lên lớp, Phong thường đạp xe đến nhà học trò của mình thăm hỏi, trò chuyện, động viên các phụ huynh về việc học của con cái. Cũng qua những chuyến đi như vậy, Phong tận mắt nhìn thấy các vật dụng của bà con, cái thì đang dùng, cái thì đang thờ tự, thậm chí có thứ vứt lăn lóc dưới gầm giường, góc bếp mà người miền xuôi như anh lần đầu tiên nhìn thấy. “Những vật dụng, kỷ vật và những câu chuyện kể mang màu sắc huyền bí, truyền thuyết của đồng bào cần phải được sưu tập và ghi chép lại đầy đủ. Chúng sẽ có ích không chỉ cho đồng bào, du khách thập phương mà ngay với con em của đồng bào khi đang bị cuốn theo đời sống hiện đại”, Phong tâm sự.

Để thuận tiện cho công việc sưu tập, Phong tự học tiếng của đồng bào. Năm 2003, Phong nói được bập bẹ, đến 2007 thì nói tiếng Tà Ôi như chính con em của đồng bào. Phương thức sưu tập của Phong là “đổi, mua và xin”, tức cái thì anh mua bằng tiền, cái thì anh xin hoặc đổi bằng hiện vật cùng công năng. “Có lần mình vào nhà một bác ở xã A Roàng, thấy một cái vỏ bom bằng nhựa - kỷ vật về chiến tranh rất có giá trị. Toan hỏi mua, xin thì cả nhà biểu chuyện đó nói sau, dùng với họ bữa cơm cái đã. Bữa cơm tối đó họ mang một thứ đặc sản ra mời thượng khách, chỉ có khách quý bà con mới mời món đó. Đó là một con chuột còn nguyên hình, được ngâm trong lọ giấm. Họ bỏ ra đĩa mời, mình cầm đũa mà… run. Mình gắp một miếng đưa vào miệng và cười, gật gù khen ngon. Lát sau mình xin ra ngoài đi vệ sinh... Nói chung trong ruột cái chi cũng tuôn ra hết. Sau bữa cơm, bà con cho mình cái vỏ bom đó mang về…”, Phong cười kể.

Kho tàng đồ sộ về văn hóa người Tà Ôi

Có thể nói, Phong say mê văn hóa người Tà Ôi đến cuồng si. Năm 2003, Phong mua được chiếc xe máy nhưng… không có tiền đổ xăng, đến 2007 anh mới mang từ quê lên A Lưới sử dụng. Trước đó, chiếc xe đạp cọc cạch từ những năm học THPT rồi đại học vẫn là phương tiện chính để Phong đi dạy học và vượt đèo lội suối vào các bản làng săn hiện vật. Từ nông cụ, ngư cụ như anóc, anúa (vợt xúc cá), aruồng (cái lừ, lờ), aram (chẹp), acrớt (súng bắn cá), coss arăm (lao phóng cá)...; panoharo (dụng cụ đập lúa), apậc (dụng cụ thọc xuống ruộng tạo lỗ để trồng lúa), liềm gặt lúa, lưỡi cày, cối và chày giã gạo, gùi của nam lẫn nữ để mang lên nương... cho đến các sản phẩm văn hóa, tâm linh như tượng nhà mồ bằng gỗ, tấm áo zèng, khố... đều được anh sưu tập mang về chất trong căn phòng tập thể cũ mèm rộng… 9 m2 của mình.

Trong 12 năm sống và dạy học, tất cả 131 bản làng thuộc 21 xã, thị trấn của H.A Lưới không nơi nào thiếu dấu chân của Phong, ấy là chưa kể nhiều nơi ở vùng cao tỉnh Quảng Trị cũng in dấu chân anh. Từ những tháng ngày cặm cụi, nhẫn nại đó mà “thầy Phong gàn” đã sưu tập được tổng cộng khoảng 1.000 hiện vật với đủ chủng loại, từ cái nhỏ như hạt nút, đến những vật dụng lớn như tượng nhà mồ, thuyền độc mộc, cối giã gạo… Kể cả cái máng cho lợn ăn bằng gỗ, cái “căn chít” - chiếc lược dày chải tóc bằng tre Phong cũng sưu tập mang về nhà. Hay những món “hàng độc” mà Phong rất tâm đắc như bộ dao bằng xương thú, bộ áo bằng vỏ cây, bộ nồi đất thờ thần lúa, trang phục zèng đính chì… Chưa kể những hiện vật đặc trưng về văn hóa, tinh thần của đồng bào (dân tộc học) và rất nhiều kỷ vật kháng chiến (1975 - 1963) và kỷ vật về Bác Hồ với đồng bào Tà Ôi.

Từ những kho tàng, tư liệu dồi dào sưu tầm được, Phong đã thực hiện và in riêng 11 cuốn sách về văn nghệ dân gian (các NXB Thanh Niên, Thuận Hóa, Lao Động, Đại học Quốc gia Hà Nội…), cùng tham gia viết bài với các tác giả khác xuất bản hơn 40 đầu sách về dân tộc học, văn nghệ dân gian. Hiện Khánh Phong còn 13 tập tư liệu hàng ngàn trang chưa xuất bản, trong đó có cuốn Danh sách các nghệ nhân Tà Ôi truyền nghề ở Việt Nam vốn được anh tự thực hiện điều tra từ 180 thôn, bản của 5 huyện thuộc Thừa Thiên-Huế và Quảng Trị (2 tỉnh có người Tà Ôi sống chủ yếu ở Việt Nam).

“Hắn đam mê mình cũng thấy vui. Chừ nghĩ lại còn cười đau ruột. Nhiều năm đi dạy không thấy lương bổng chi mang về, đùng một cái hắn đưa về nhà cái quan tài bằng gỗ. Vợ chồng tui thấy thì té ngửa”, cô Nguyễn Thị Minh, mẹ của Phong cười nhớ lại. Nghe mẹ nhắc chuyện cũ, Phong có vẻ luyến tiếc: “Đó là cái quan tài độc mộc duy nhất còn lại của bà con. Bị ba mẹ la nên hồi đó mình mang lên miền núi trả lại cho bà con rồi”.

Năm 2012, do hoàn cảnh gia đình, Phong phải chuyển công tác về dạy học tại Trường THPT Hương Thủy (TX.Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế). Ngoài một số hiện vật quý anh hiến tặng lại cho bà con A Lưới, Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên-Huế, hàng ngàn hiện vật, tư liệu về người Tà Ôi mà Phong “quý như mạng sống” cũng được anh lần lượt “địu” về nhà ba mẹ ở Tứ Hạ rồi cất vào các tủ kính, chất lên gác lửng... “Mình ao ước trúng 1 tờ vé số thôi, mình sẽ xây dựng một bảo tàng về người Tà Ôi phục vụ tham quan miễn phí cho mọi người”, người hội viên trẻ của Hội Văn nghệ dân gian này nói.

 

Theo Đình Toàn
 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Xin những bậc chuộng sách vở từ chương đừng mất công dở sử sách Nhà Nguyễn để tìm địa danh này vì nó không phải là cái tên chính thức do vua đặt ra; may ra chỉ có cụ già Léopold Cadière nặng lòng với Huế nên đưa cái tên Nam Đài vào tập san Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue) mà thôi...

  • Như một thói quen, một sự tò mò khó lý giải cứ vào những đêm trăng sáng, nhiều người lại đến khu phế tích Tháp Đôi Liễu Cốc (thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế) để xem vàng hiển linh.

  • Đây là một dinh thự 2 tầng được xây dựng theo kiến trúc hiện đại, khác với các tòa nhà mang phong cách truyền thống trong Tử Cấm Thành.

  • Đây không phải là sản phẩm gì quá xa hoa mà chỉ là một vật dụng rất quen thuộc của người Việt xưa...

  • Trước khi có sự biến mất hoàn toàn các dấu tích cuối cùng của cửa “quan ải An-nam” trên đỉnh đèo Hải Vân, địa điểm cao nhất của đường cái quan nối liền Huế với Đà Nẵng, tôi thiết nghĩ cần hồi phục các kỷ niệm của nó bằng cách đưa ra các bức ảnh cho thấy tình trạng hiện nay, cũng như đưa ra một số lời giải thích ngắn gọn liên quan đến cửa ải xưa chưa đầy một thế kỷ này; nhưng hiện nay hoàn toàn bị phế bỏ và đang lần hồi mai một do ảnh hưởng tác hại của mưa nắng, của các loài cây cỏ bám cứng.

  • Phạm Duy sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, hơn một phần ba cuộc đời ông sống ở Sài Gòn, hơn một phần ba sống ở ngoại quốc. Ông đi nhiều, yêu và được yêu cũng nhiều, kể cả người Pháp. Nhưng rồi qua trải nghiệm ông thấy người con gái Huế ông yêu là đẹp nhất, sâu sắc nhất...

  • Huyền Không Sơn Thượng hay còn gọi là chùa Huyền Không 2 cách cố đô Huế chừng 14 km về hướng Tây, thuộc thôn Đồng Chầm (Hòn Vượn), xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

  • Không chỉ cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp, Huế trước đây còn là kinh đô của nhà Nguyễn hàng trăm năm, nên đã hội tụ văn hoá nhiều miền của đất nước, tạo nên một di sản văn hoá đồ sộ, trong đó có CA DAO.

  • Trải qua bao thăng trầm cùng lịch sử, xây rồi phá, phá rồi xây nhưng vẻ đẹp trong lối kiến trúc của nhà thờ chính tòa Phủ Cam vẫn luôn hiện hữu, thách thức với thời gian.

  • “Tứ thú” xưa gồm ăn trầu, uống trà, hút thuốc, uống rượu được các bậc cha ông chơi và đạt đến một trình độ đẳng cấp.

  • Trải dòng lịch sử bi tráng của nước Việt, Hải Vân không chỉ là cung đèo kỳ vĩ mà còn đẫm máu xương vệ quốc. 

  • Tổng thể kiến trúc của lăng Thiệu Trị là sự kết hợp và chọn lọc từ mô thức kiến trúc của lăng Gia Long và lăng Minh Mạng. Trải qua thời gian với những biến cố lăng đã trở nên đổ nát.

  • Vua Hiệp Hòa (Nguyễn Phúc Hồng Dật, 1847 - 1883) là một trong những vị vua có số phận buồn nhất lịch sử Việt Nam...

  • Lễ bái ở lăng Minh Mạng, lính canh ở lăng Gia Long... là hình ảnh sinh động về con người ở kinh thành Huế xưa.

    Bài viết liên quan: 

    Hình ảnh hiếm có về kinh thành Huế những năm 1920

    Ảnh hiếm về kinh thành Huế những năm 1920 (2)

  • Cách đây gần 100 năm nhiều công trình kiến trúc ở Huế vẫn còn nguyên vẹn, chưa bị xuống cấp và đổ nát như bây giờ.

  • Nhiều hình ảnh quý giá về kinh thành Huế của nhà Nguyễn trong khoảng năm 1919-1926 đã được nhiếp ảnh gia Pháp ghi lại...

  • Trong khuôn viên lăng vua Minh Mạng ở Huế có một di tích độc đáo nhưng ít người biết đến, đó là Tả tùng phòng trên núi Tịnh Sơn. Điểm đặc biệt của công trình này là cánh cửa vòm cuốn đã bị một cây si cổ thụ "nuốt chửng". Đây là minh chứng cho sức mạnh tàn phá của thiên nhiên và thời gian đối với các công trình do con người xây dựng.

  • Một bà Hoàng con đại gia, vợ ông vua Nguyễn nổi tiếng, nhan sắc Việt Nam đẹp nhất thế kỷ XX mà ngôi mộ của bà thua cả nhiều ngôi mộ của chị em tiểu thương chợ Đông Ba ở quê nhà. 

  • Người Huế vốn là người xứ kinh kỳ, nên lời ăn tiếng nói, cung cách ứng xử, đi lại cũng nhẹ nhàng, tri thức. Ẩm thực cung đình Huế cũng mang nhiều nét ảnh hưởng của cung cách hoàng gia: Ăn uống nhẹ nhàng, khoan thai, các món ăn ngoài khẩu vị ngon phải nhẹ và thanh, cách trình bày cũng phải đẹp, bắt mắt.

  • Ba giờ sáng, tại Đàn Nam Giao (Thừa Thiên Huế), không còn nghe tiếng hô đức vua xa giá, chỉ có âm thanh rì rầm dội vào rừng thông và những ánh mắt hướng về linh vị đặt trên bàn thờ. Những người dân đến Đàn Nam Giao để nguyện xin sự viên mãn, gia đình bình an.