Bạn bè, học trò hay gọi Trần Nguyễn Khánh Phong (37 tuổi, nguyên giáo viên Trường THPT A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế) là “thầy Phong gàn”. Suốt 12 năm dạy học, anh dùng phần lớn thời gian, tiền bạc để sưu tập vật dụng, tư liệu của đồng bào Tà Ôi.
Trần Nguyễn Khánh Phong bên kho hiện vật về đồng bào Tà Ôi
Ăn giấm chuột để có mảnh vỏ bom
Trần Nguyễn Khánh Phong là con nhà nông ở làng Phú Ốc, tổ dân phố 3, P.Tứ Hạ, TX.Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Năm 2000, anh tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường đại học Khoa học Huế rồi học thêm mấy tháng nghiệp vụ sư phạm để thi công chức vào ngành giáo dục. Không biết có dự tính gì trước hay không, nhưng anh chọn huyện miền núi A Lưới để đi gieo chữ. Tháng 4.2001, Phong chính thức đứng bục giảng tại Trường THPT A Lưới.
Sau giờ lên lớp, Phong thường đạp xe đến nhà học trò của mình thăm hỏi, trò chuyện, động viên các phụ huynh về việc học của con cái. Cũng qua những chuyến đi như vậy, Phong tận mắt nhìn thấy các vật dụng của bà con, cái thì đang dùng, cái thì đang thờ tự, thậm chí có thứ vứt lăn lóc dưới gầm giường, góc bếp mà người miền xuôi như anh lần đầu tiên nhìn thấy. “Những vật dụng, kỷ vật và những câu chuyện kể mang màu sắc huyền bí, truyền thuyết của đồng bào cần phải được sưu tập và ghi chép lại đầy đủ. Chúng sẽ có ích không chỉ cho đồng bào, du khách thập phương mà ngay với con em của đồng bào khi đang bị cuốn theo đời sống hiện đại”, Phong tâm sự.
Để thuận tiện cho công việc sưu tập, Phong tự học tiếng của đồng bào. Năm 2003, Phong nói được bập bẹ, đến 2007 thì nói tiếng Tà Ôi như chính con em của đồng bào. Phương thức sưu tập của Phong là “đổi, mua và xin”, tức cái thì anh mua bằng tiền, cái thì anh xin hoặc đổi bằng hiện vật cùng công năng. “Có lần mình vào nhà một bác ở xã A Roàng, thấy một cái vỏ bom bằng nhựa - kỷ vật về chiến tranh rất có giá trị. Toan hỏi mua, xin thì cả nhà biểu chuyện đó nói sau, dùng với họ bữa cơm cái đã. Bữa cơm tối đó họ mang một thứ đặc sản ra mời thượng khách, chỉ có khách quý bà con mới mời món đó. Đó là một con chuột còn nguyên hình, được ngâm trong lọ giấm. Họ bỏ ra đĩa mời, mình cầm đũa mà… run. Mình gắp một miếng đưa vào miệng và cười, gật gù khen ngon. Lát sau mình xin ra ngoài đi vệ sinh... Nói chung trong ruột cái chi cũng tuôn ra hết. Sau bữa cơm, bà con cho mình cái vỏ bom đó mang về…”, Phong cười kể.
Kho tàng đồ sộ về văn hóa người Tà Ôi
Có thể nói, Phong say mê văn hóa người Tà Ôi đến cuồng si. Năm 2003, Phong mua được chiếc xe máy nhưng… không có tiền đổ xăng, đến 2007 anh mới mang từ quê lên A Lưới sử dụng. Trước đó, chiếc xe đạp cọc cạch từ những năm học THPT rồi đại học vẫn là phương tiện chính để Phong đi dạy học và vượt đèo lội suối vào các bản làng săn hiện vật. Từ nông cụ, ngư cụ như anóc, anúa (vợt xúc cá), aruồng (cái lừ, lờ), aram (chẹp), acrớt (súng bắn cá), coss arăm (lao phóng cá)...; panoharo (dụng cụ đập lúa), apậc (dụng cụ thọc xuống ruộng tạo lỗ để trồng lúa), liềm gặt lúa, lưỡi cày, cối và chày giã gạo, gùi của nam lẫn nữ để mang lên nương... cho đến các sản phẩm văn hóa, tâm linh như tượng nhà mồ bằng gỗ, tấm áo zèng, khố... đều được anh sưu tập mang về chất trong căn phòng tập thể cũ mèm rộng… 9 m2 của mình.
Trong 12 năm sống và dạy học, tất cả 131 bản làng thuộc 21 xã, thị trấn của H.A Lưới không nơi nào thiếu dấu chân của Phong, ấy là chưa kể nhiều nơi ở vùng cao tỉnh Quảng Trị cũng in dấu chân anh. Từ những tháng ngày cặm cụi, nhẫn nại đó mà “thầy Phong gàn” đã sưu tập được tổng cộng khoảng 1.000 hiện vật với đủ chủng loại, từ cái nhỏ như hạt nút, đến những vật dụng lớn như tượng nhà mồ, thuyền độc mộc, cối giã gạo… Kể cả cái máng cho lợn ăn bằng gỗ, cái “căn chít” - chiếc lược dày chải tóc bằng tre Phong cũng sưu tập mang về nhà. Hay những món “hàng độc” mà Phong rất tâm đắc như bộ dao bằng xương thú, bộ áo bằng vỏ cây, bộ nồi đất thờ thần lúa, trang phục zèng đính chì… Chưa kể những hiện vật đặc trưng về văn hóa, tinh thần của đồng bào (dân tộc học) và rất nhiều kỷ vật kháng chiến (1975 - 1963) và kỷ vật về Bác Hồ với đồng bào Tà Ôi.
Từ những kho tàng, tư liệu dồi dào sưu tầm được, Phong đã thực hiện và in riêng 11 cuốn sách về văn nghệ dân gian (các NXB Thanh Niên, Thuận Hóa, Lao Động, Đại học Quốc gia Hà Nội…), cùng tham gia viết bài với các tác giả khác xuất bản hơn 40 đầu sách về dân tộc học, văn nghệ dân gian. Hiện Khánh Phong còn 13 tập tư liệu hàng ngàn trang chưa xuất bản, trong đó có cuốn Danh sách các nghệ nhân Tà Ôi truyền nghề ở Việt Nam vốn được anh tự thực hiện điều tra từ 180 thôn, bản của 5 huyện thuộc Thừa Thiên-Huế và Quảng Trị (2 tỉnh có người Tà Ôi sống chủ yếu ở Việt Nam).
“Hắn đam mê mình cũng thấy vui. Chừ nghĩ lại còn cười đau ruột. Nhiều năm đi dạy không thấy lương bổng chi mang về, đùng một cái hắn đưa về nhà cái quan tài bằng gỗ. Vợ chồng tui thấy thì té ngửa”, cô Nguyễn Thị Minh, mẹ của Phong cười nhớ lại. Nghe mẹ nhắc chuyện cũ, Phong có vẻ luyến tiếc: “Đó là cái quan tài độc mộc duy nhất còn lại của bà con. Bị ba mẹ la nên hồi đó mình mang lên miền núi trả lại cho bà con rồi”.
Năm 2012, do hoàn cảnh gia đình, Phong phải chuyển công tác về dạy học tại Trường THPT Hương Thủy (TX.Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế). Ngoài một số hiện vật quý anh hiến tặng lại cho bà con A Lưới, Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên-Huế, hàng ngàn hiện vật, tư liệu về người Tà Ôi mà Phong “quý như mạng sống” cũng được anh lần lượt “địu” về nhà ba mẹ ở Tứ Hạ rồi cất vào các tủ kính, chất lên gác lửng... “Mình ao ước trúng 1 tờ vé số thôi, mình sẽ xây dựng một bảo tàng về người Tà Ôi phục vụ tham quan miễn phí cho mọi người”, người hội viên trẻ của Hội Văn nghệ dân gian này nói.
Theo Đình Toàn
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.