Ngựa là con vật được sử dụng nhiều trong các cuộc chiến tranh thời cổ. Hình ảnh ngựa gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nhiều dân tộc, gắn liền với các võ tướng trên nhiều trận chiến.
Diễn viên thể hiện động tác gò ngựa.
Và không giống như những hình ảnh ngựa có thật ở ngoài đời, ngựa trong đời sống nghệ thuật được các nghệ sĩ ước lệ hoá theo một ngôn ngữ riêng biệt, tạo nên nét đẹp tự nhiên, gần gũi với đời sống tinh thần của con người. Có thể là như vậy, nên khi đưa lên sân khấu tuồng Huế, ngựa được các nghệ sĩ thể hiện dựa trên những động tác hình thể giàu tính biểu cảm của ngôn ngữ múa, đồng thời rất phù hợp với không gian và thời gian mà nhân vật muốn biểu hiện.
Không gian của sân khấu tuồng Huế là không gian động, mới đây là cảnh triều đình, bỗng chốc chuyển thành chiến địa; đang là đêm tối bỗng chuyển sang ban ngày; đang là rừng núi bỗng chuyển thành dòng sông… Các nghệ sĩ xưa đã tổng kết nguyên tắc diễn tuồng bằng hai câu thơ:
Thốn thổ thị triều đình châu quận
Nhất thân đô phụ tử quân thần
(Một mảnh đất có thể biến thành châu quận
Một con người có thể thành vua, tôi, cha, con)
Tuân theo nguyên lý đó nên khi diễn tả người đi ngựa, diễn viên chỉ cầm chiếc roi ngựa, khi diễn tả buổi yến tiệc, người diễn viên chỉ cầm chén uống rượu là đủ. Bởi vậy khi xem một vở tuồng, thấy diễn viên cầm các vật như: cái chén, cây roi, mái chèo, cành cây... khán giả biết ngay anh ta đang làm gì, trong hoàn cảnh nào. Đạo cụ mà nghệ thuật tuồng đưa lên sân khấu đều là những vật thật được sử dụng để gợi ý điều mà khán giả phải tự tưởng tượng lấy, hay hình dung những việc làm cụ thể. Đặc biệt, trong những vở tuồng cung đình Huế, hình ảnh cưỡi ngựa, gò ngựa, nhảy ngựa, bắt ngựa… luôn gắn chặt với các nhân vật tướng và kép võ.
Ngựa trên sân khấu tuồng Huế chỉ là một cái roi làm bằng mây, phía đầu roi cột một sợi dây có vòng tròn nhỏ để diễn viên móc vào ngón tay út khi biểu diễn; thân roi được cột cách khoảng các chùm ni-long có nhiều màu sắc xé tua nhỏ. Và khi biểu diễn, người diễn viên chỉ cần rung nhẹ, các sợi ni-long rung rinh tựa như bờm ngựa, ấn tượng và đẹp mắt.
Đạo diễn tuồng La Hùng (con trai của cố nghệ nhân tuồng cung đình La Cháu) cho biết, ngựa trên sân khấu tuồng Huế chỉ là hình ảnh mang tính ước lệ, do đó khi thực hiện các động tác như: bắt ngựa, lên ngựa, phi ngựa, người diễn viên phải thể hiện hành động đó thông qua điệu bộ. Tuy nhiên, để thực hiện được những động tác nói trên thì không hề đơn giản, bởi một diễn viên chuyên nghiệp muốn thực hiện động tác bắt ngựa, lên ngựa, phi ngựa, anh ta phải cùng một lúc thực hiện một tổ hợp động tác kèm theo. Ví dụ, muốn thực hiện động tác bắt ngựa và lên ngựa, người diễn viên phải sử dụng các động tác trong nghệ thuật tuồng như: dàn, kí, dậm, trả, nhảy ngựa (đối với chân); xoan, xỏ, cuộn, khán, vuốt (đối với tay)… tất cả những động tác nói trên đều phải thực hiện trình tự sao cho vừa thuần thục, nhưng phải đẹp mắt trong một chuỗi thời gian nhất định.
Và theo đạo diễn Trương Tuấn Hải, Giám đốc Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế, nếu so sánh bộ múa lên ngựa của tuồng Huế với bộ múa lên ngựa của Hý khúc Trung Quốc, ta sẽ thấy bộ múa lên ngựa của tuồng Huế vẫn rất gần với trạng thái tự nhiên khi thực hiện trình tự động tác của một người lên ngựa trong cuộc sống, trái lại bộ múa lên ngựa của Hý khúc Trung Quốc thì gợi cho chúng ta cái “không khí lên ngựa”, đó là âm thanh của ngựa hý, tiếng quân lính reo hò....
Nghệ thuật sân khấu nói chung, tuồng Huế nói riêng, diễn viên luôn đóng vai trò trung tâm để truyền đạt những nội dung muốn nói đến khán giả. Do đó, nghệ thuật diễn xuất của diễn viên là điểm nhấn để làm sao khi biểu diễn, mỗi hành động, mỗi lời nói dù chỉ mang tính ước lệ nhưng phải biểu cảm làm sao để khán giả xem đấy là sự thật. Trong vở tuồng cung đình “Sơn Hậu”, mở đầu là triều đình tương đối ổn định, trăm họ yên hoà, nhưng vua đã già yếu và một viên đại thần có thế lực nhất là Thái sư đang có âm mưu phản loạn. Tiếp theo, vua băng (chết), tên Thái Sư kia thực hiện việc chiếm đoạt ngai vàng. Thông thường tên này lấy cớ Thái Tử còn nhỏ chưa đủ tư cách làm vua hoặc lấy cớ vua không có con trai. Hắn dùng phe cánh gây áp lực để hắn lên ngôi. Thế là xung đột kịch mở đầu gay gắt, chiếm đoạt ngai vua, tên Thái sư - nay là vua Ngụy, sắp đặt lại bộ máy triều đình, cân nhắc phe cánh của hắn vào những địa vị chính yếu. Hắn giết hay bỏ ngục những ai có tư tưởng chống đối. Lúc này, Kim Lân, một nhân vật chính diện cõng trên mình “ấu chúa” đi lánh nạn, trong đêm tối, tay dắt ngựa băng rừng lội suối, và ngựa chính là đối tượng giao lưu, là người bạn để Kim Lân gửi ngắm nỗi niềm. Trong sự tột cùng của nỗi bi ai, Kim Lân vỗ về con ngựa bằng cách nhìn và rung nhẹ chiếc roi ngựa, nhưng khán giả hiểu rằng đó là tiếng nấc nghẹn ngào của thời cuộc: “gắng mà theo cùng ông nghe con!!!”
![]() |
| Hình ảnh ngựa được khắc trên cửu đỉnh. |
Trên sân khấu tuồng Huế, mỗi vở tuồng là một nội dung riêng biệt mà tác giả muốn chuyển tải đến người xem. Tuy nhiên, trong các vở tuồng mang tính “quốc gia đại sự”, hình ảnh nhân vật đóng vai tướng võ, kép võ trên tay cầm thương, kiếm và đi kèm là chiếc roi ngựa vô tri, vô giác, nhưng qua nghệ thuật diễn xuất tài tình của người nghệ sĩ, khán giả hiểu rằng đó là một con ngựa chiến đã từng xông pha nơi chiến trận. Có thể nói, ngựa trên sân khấu tuồng Huế dù chỉ là những động tác mang tính biểu trưng, nhưng hình ảnh của nó thông qua cách trình diễn của nghệ sĩ đã cho chúng ta thấy được những giá trị nghệ thuật mang đầy đủ tính thẩm mỹ sân khấu mà tiền nhân đã để lại cho chúng ta.
Theo baovephapluat.vn
Tải mã QRCode
Địa danh Thanh Hà thuộc xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay. Nằm phía bờ tả ngạn sông Hương, cách kinh thành Huế 4 km, cách cửa biển Thuận An khoảng 10km. Với vị trí trên bến, dưới thuyền, cư dân có truyền thống buôn bán, ở Thanh Hà sớm xuất hiện chợ làng, nơi hội tụ hàng hóa của cư dân các vùng lân cận.
Bộ sử bằng thơ này được các ông hoàng nhà Nguyễn khởi viết từ khoảng 1907-1916, kéo dài đến khoảng 1926. Ban đầu được lưu trữ ở thư viện gia đình Lục Khanh, sau được cất giữ ở chùa Từ Quang (Thừa Thiên - Huế). Vốn là tài liệu độc bản, viết tay bằng chữ Nôm, gồm 1.884 câu lục bát.
Huế có thể trở thành đô thị sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn, đô thị sang về Dĩ vãng và giàu về Hiện tại, nếu ta nhận thức rõ và ra sức bênh vực cái cơ ngơi mà nó sở hữu.
SHO - Chiều ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức lễ Tổng kết trại sáng tác văn học nghệ thuật“ về đề tài "Con người và thiên nhiên quê hương Thừa Thiên Huế” tại văn phòng Liên hiệp hội, 26 Lê Lợi, thành phố Huế. Hơn 50 tác phẩm thuộc các chuyên ngành gồm: văn học, âm nhạc, nhiếp ảnh, hội họa... đã được sáng tác trong đợt này. Trại sáng tác khai mạc vào ngày 10/4 tại khách sạn Phong Lan, vườn quốc gia Bạch Mã, kéo dài trong 10 ngày bao gồm 4 ngày thực địa và 6 ngày hoàn thành tác phẩm tại nhà.
Xe chạy tầm 45 phút thi tới đỉnh điểm đậu xe gần Vọng Hải Đài, xuống xe bắt đầu đi bộ ra. Vọng Hải Đài là điểm cao nhất Bạch Mã, từ đây có thể nhìn được vịnh Lăng Cô, Hồ Truồi…
Từng viếng thăm nhiều ngôi chùa nhưng khi đến Đông Thiền, tôi thật sự thích không gian xanh mát tĩnh lặng nơi đây, cảm giác như được sống trong một thế giới khác.
SHO - Chiều ngày 10/4, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã tổ chức Khai mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật “Con người và thiên nhiên quê hương Thừa Thiên Huế” tại vườn Quốc gia Bạch Mã, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế.
SHO - Sáng ngày 4/4, hàng trăm cựu chiến binh(CBB) của hai tiểu đoàn 804 - 810 (K4 - K10) đã có buổi họp mặt kỷ niệm 40 năm giải phóng Thừa Thiên Huế tại Ban chỉ huy Quân sự Thành phố, 25A Trần Cao Vân, Tp Huế.
Quốc tự Thánh Duyên toạ lạc ở Tuý Vân sơn, ngày trước thuộc phường Đông Am, tổng Diêm Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên; nay là làng Hiền An, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cùng với Linh Mụ và Diệu Đế, Thánh Duyên là một trong ba ngôi quốc tự của xứ Thần kinh còn tồn tại cho đến ngày nay.
Không phải đền đài, lăng tẩm uy nghi mà chính những điều bình dị như góc phố yên bình hay giọng nói ngọt ngào đã để lại nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng du khách.
Nhắc đến cố đô Huế, người ta không thể không kể tới các nhà vườn, bởi kiến trúc của nhà vườn Huế cũng có một lịch sử lâu đời trên 200 năm kể từ khi nhà Nguyễn xây dựng kinh đô.
SHO - Tối 26/3, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức bắn pháo hoa tầm cao để chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên Huế (26/3/1975-26/3/2015).
SHO - Hòa chung trong không khí tiến tới kỷ niệm thống nhất đất nước, sáng ngày 26/3 tỉnh Thừa Thiên Huế trang trọng tổ chức Lễ mitting kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế (26/3/1975- 26/3/2015) tại Sân vận động Tự Do, Thành phố Huế.
SHO - Chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng quê hương Thừa Thiên Huế (26/3/1975- 26/3/2015), Liên hiệp các hội VHNT tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Hội Nhiếp ảnh Thừa Thiên Huế tổ chức khai mạc triển lãm ảnh thời sự nghệ thuật với chủ đề: “Thừa Thiên Huế- 40 năm xây dựng và phát triển” vào chiều ngày 25/3, tại Bảo tàng Văn hóa Huế - số 25 Lê Lợi - Thành phố Huế.
Tiếp bước hành trình khám phá những ngôi chùa Huế, ta sẽ đến với một ngôi chùa – một tổ đình – nơi thể hiện tấm lòng bao dung của nhà Phật với những con người không toàn vẹn – Từ Hiếu. Chùa nằm ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, thành phố Huế.
Khi bàn về Nhã nhạc người ta thường chú trọng nhiều đến thành phần, biên chế các loại dàn nhạc và bộ phận nhạc không lời do các nhạc cụ diễn tấu, mà ít đề cập đến một bộ phận quan trọng của Nhã nhạc là thể loại nhạc có lời.
Trong kiến trúc cung đình Nguyễn tại Huế, hình thức nhà tạ có mặt ở khắp nơi: Hoàng cung, Hành cung, Biệt cung và ở cả các lăng tẩm đế vương.
Để nhã nhạc cung đình Huế “sống lại” như ngày hôm nay, có công rất lớn của cụ Lữ Hữu Thi- nhạc công cuối cùng của triều Nguyễn. Cụ đã âm thầm, kiên trì vượt qua khó khăn trước những thăng trầm của lịch sử để giữ gìn và trao truyền ngọn lửa nhã nhạc, đưa nhã nhạc từ chỗ bị lãng quên trở thành di sản của nhân loại.
Nhà văn Nguyễn Tuân đã tinh tế nhận xét: “Người Huế ăn bằng mắt trước khi ăn bằng miệng”.
Ngài thủy tổ họ Hồ Đắc làng An Truyển, xã Phú An, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế vốn là gốc từ ngoài bắc vào lập nghiệp thường được dân làng gọi là Hồ Quản Lãnh.