Ngón nghề kinh doanh

09:39 07/11/2008
AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.


Một người không quen biết đã kể cho tôi nghe một câu chuyện làm ăn khi chúng tôi cùng nhau bước ra khỏi ga xe điện cuối cùng.
- Tôi đã tìm ra được một phương thức kinh doanh lý tưởng, không bao giờ bị thua lỗ cả: tôi phất lên bằng cách đem phát mại một trong số những đồ dùng cá nhân của tôi. - anh ta thao thao nói.
Câu chuyện nhăng cuội của cái chàng này chẳng lấy gì làm hấp dẫn đối với tôi. Sở dĩ tôi đi cùng với anh ta là bởi vì chúng tôi cùng đường. Vả lại ban đêm đi một mình không phải bao giờ cũng an toàn, nhất là ở những nơi vắng vẻ. Tuy nhiên tôi không thể không bắt chuyện.
- Anh muốn nói rằng anh có nhiều đồ dùng cá nhân lắm à?
- Không, tôi bao giờ cũng chỉ bán độc một thứ.
- Chắc anh bán nó một lần và với số tiền rất hời, anh đã...
- Không, tôi bán nó không ngừng.
- Anh làm thế nào mà có thể bán đi bán lại vẫn một thứ hàng ấy?
- Thì chính tôi cũng không hiểu mà lại. Song đó lại là sự thật hoàn toàn. Tôi chào hàng, người ta trả tiền cho tôi, còn hàng thì không lấy.
- Lạ nhỉ “tôi nói” Đó là thứ hàng gì vậy?
- Đó là khẩu súng lục của tôi. Cho dù tôi chào hàng với bất cứ ai thì người mua lập tức đưa tôi tiền và điều kỳ lạ nhất là họ không lấy súng. Đôi khi tôi cố trao hàng cho họ bằng cách đi theo họ nhưng đều không ăn thua. Tất cả các khách hàng đều đi rất nhanh, có thể nói là họ đã co giò chạy như bị ma đuổi.
- Chắc là anh đã quảng cáo mặt hàng ấy, ca ngợi chất lượng của nó, nào là dễ sử dụng, nào là đường ngắm chính xác...?
- Tôi cũng chẳng kịp làm việc đó. Thông thường tôi nói rằng tôi không phải người bán hàng chuyên nghiệp “đó là sự thật, tôi chưa lừa dối ai bao giờ” Và chỉ có hoàn cảnh túng bấn mới buộc tôi phải giã từ thứ đồ dùng này. Tôi bắt đầu bằng việc giơ cho xem khẩu súng và nói: “Tôi nghèo khó, tôi cần một ít tiền...” Tôi chưa kịp nói xong thì khách hàng đã vội vã trao cho tôi tiền rồi bỏ chạy. Tôi rượt theo sau để trao hàng và gọi toáng lên: “Ông kia, hãy dừng lại!...”, nhưng chân ông ta cứ như mọc cánh vậy.
- Lạ thật, tại sao lại thế nhỉ?
- Tôi cho rằng sở dĩ tôi thắng đậm là bởi vì tôi tuân nghiêm ngặt những quy tắc kinh doanh.
- Những quy tắc gì vậy?
- Đó là chỉ chào hàng ở nơi nó cần thiết nhất. Ở đâu và lúc nào thì khẩu súng lục cần thiết nhất? Chính là ở nơi mà người ta cần phải bảo vệ mình. Chẳng hạn, ban đêm ở trên đường phố vắng. Ai là kẻ cần đến súng? Đó là người không có vũ khí. Thật là ngu xuẩn nếu đem súng lục đi chào mời kẻ có trong tay khẩu tiểu liên tự động.
- Tất nhiên rồi!
- Vậy là ban đêm tôi đi đến một vùng hẻo lánh, và nếu tôi nhìn thấy một người đi bộ một mình với vẻ nhút nhát thì tôi liền tiến lại mời anh ta mua khẩu súng lục. Đôi khi, để tăng thêm sức thuyết phục tôi nói thêm: “Ông hãy xem đây, súng đã lên đạn rồi. Chỉ cần bóp cò là cái chết đến ngay tức khắc”.
- Còn người đi đường thì sao?
- Thật là kì cục: anh ta đưa tôi một số tiền nhiều hơn giá của khẩu súng: có người trả bằng tiền, cũng có người trả bằng hiện vật. Có người sau khi trao cho tôi túi tiền lại còn quẳng cho tôi chiếc áo khoác rồi cắm cổ chạy mất. Nhưng tôi không dừng lại ở đây. Tôi suy nghĩ xem liệu có ai còn cần tới súng lục nữa không? Tỷ dụ như người vừa lĩnh ở nhà băng ra một món tiền lớn. Tất nhiên anh ta không cần sự bảo vệ ở nơi phố xá đông đúc. Bởi vậy tôi lẽo đẽo đi theo anh ta một hồi lâu rồi đưa hàng ra chào ở một góc phố khuất nẻo. Nhưng ngay cả trong trường hợp này, đáng lẽ phải tận dụng sự phục dịch tận tâm của tôi và mua thứ hàng hữu ích mà rẻ tiền đó thì anh ta thậm chí chẳng cần đợi đến lúc tôi nói giá, liền trao cho tôi tất cả gói giấy bạc rồi lại ù té.
- Và số tiền đó tất nhiên là nhiều hơn cái giá khiêm tốn của khẩu súng lục chứ?
- Lẽ cố nhiên, nhưng xin ông hãy nghe tiếp. Do có hiện tượng kì quặc như vậy nên tôi bèn đến cửa hàng bán súng để tự kiểm tra xem trong khẩu súng của tôi có tàng trữ giá trị gì đặc biệt không. Tôi tới đó trong lúc chủ hiệu đang thiu thiu ngủ sau quầy hàng; tôi rút súng ra và bắt đầu giải thích: “Tôi bị nghèo túng...” Thế là ông ta liền đưa cho tôi toàn bộ số tiền   trong két. Tại các cửa hiệu khác cũng diễn ra cảnh tương tự...
Hai chúng tôi đi qua những dãy nhà cuối cùng trên một phố vắng và tới đường hầm ở bên dưới đường xe hoả.
- Tôi chả phát hiện được giá trị tiềm tàng nào trong khẩu súng của tôi cả. Có thể ông giúp tôi làm việc đó chăng? - Anh ta rút súng ra. Như ông thấy đấy, khẩu súng rất hoàn hảo. Chỉ cần khẽ bấm cò...
- Tôi hiểu! - Tôi kêu lên, quẳng cho anh ta số tiền rồi ù té chạy, tai vẫn còn nghe thấy tiếng gọi văng vẳng của anh ta ở phía sau lưng... Sau đó tôi ngoái lại nhìn thì anh ta đã biến mất hút sau khi đút vào túi cái ví của tôi và khẩu súng mà anh ta không sao bứt khỏi được...
                        LÊ SƠN (dịch)

(nguồn: TCSH số 216 - 02 - 2007)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.

  • DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.

  • WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?

  • SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.

  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.