Ngô Minh - “Người của công chúng”

09:40 22/05/2009
MAI VĂN HOAN         (Giới thiệu các tác giả thuộc chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế)Ngô Minh là một trong những nhà văn Việt Nam ở Huế được Đài truyền hình Cáp Việt Nam chọn giới thiệu tới 45 phút trong chương trình “Người của công chúng”. Tôi cũng được mời nói đôi lời về anh. Với tôi, Ngô Minh là người làm việc “tới số” và chơi cũng... “tới số”!

Nhà thơ Ngô Minh

Ở trong ngành Thương nghiệp hơn hai mươi năm nhưng Ngô Minh chưa bao giờ xem đó là một nghề, mặc dù anh được đào tạo một cách hết sức quy củ ở Trường Đại học Thương Mại. Nghề anh chọn lại là cái nghề mà anh chưa hề được học qua một trường lớp nào. Đó là nghề... viết báo! Có lẽ bố anh - vốn là người “có chữ” ở làng cát Thượng Luật thời ấy, đã tiên cảm phần nào về đứa con trai thứ ba của mình nên đã đặt tên khai sinh cho anh là Ngô Minh Khôi. Thời học cấp III Lệ Thuỷ (Quảng Bình), Ngô Minh được chọn đi thi học sinh giỏi cả văn lẫn toán. Nhưng chính những giờ giảng văn của các thầy Lương Duy Cán (Hà Nhật), Phan Ngọc Thu đã “hớp hồn” anh và chi phối gần như toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp của anh.

Ngay thời đang là cậu học sinh trường làng, Ngô Minh đã tập tành “hành nghề” viết báo. Những tin, bài của cậu học trò trường làng lần lượt được đăng trên báo Quảng Bình, báo Trường Sơn (nay là Quân khu Bốn). Ngô Minh kể rằng anh đăng tin bài nhiều đến mức được thưởng bằng khen của Bộ Tư lệnh Quân khu. Nhưng mạ anh không cho anh đi nhận thưởng vì lý do dưới các bài báo anh thường kí “Ngô Minh Khôi - dân quân Ngư Thuỷ” mà anh “má còn búng ra sữa”, mạ anh sợ họ sẽ cho là nói dối, họ phạt, nên sai anh trai ra Vinh nhận thay. Đang học đại học Thương Mại, Ngô Minh được tổng động viên vào chiến trường Miền đông Nam Bộ. Trong quân ngũ, anh vẫn tiếp tục “hành nghề” làm báo. Anh viết tin bài cho Trung đoàn, Sư đoàn, báo Quân giải phóng. Khi về nhận công tác ở Ty Thương nghiệp Bình Trị Thiên và sống ở Huế anh vẫn tiếp tục viết báo.

Năm 1987, thời bao cấp mà anh đã có bài viết “Thương mại - Kinh doanh hay phục vụ?” (ký tên ông giám đốc Sở) in hết cả trang báo Nhân Dân, khơi dậy một cuộc trao đổi hết sức sôi nổi cả tháng trời trên báo. Trước thời điểm chia tỉnh Bình Trị Thiên anh đã là người của báo Thương Mại, thường trú ở Huế. Thế là anh nghiễm nhiên trở thành nhà báo “chuyên nghiệp” từ đó. Các bài viết của anh luôn nói về những vấn đề nóng bỏng của đất nước. Anh dám nói đến những chuyện “động trời” mà không ít những đồng nghiệp của anh vẫn thường né tránh. Với Ngô Minh, viết báo là nghề cao quý, rất cần thiết đối với cuộc sống con người. Anh vô cùng căm ghét những kẻ lấy cái thẻ nhà báo làm cái “mặt nạ” để đi doạ, đi trấn lột làm hại nhân dân. Cho đến nay, Ngô Minh đã viết hơn nghìn bài báo. Có một số bài báo của anh như phóng sự “Ngẩn ngơ ta xuống ga nào hỡi em” được chọn đưa vào tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa Báo chí của Học viện Báo chí Việt Nam.

Tiếng nói của anh rất có trọng lượng. Chỉ đơn cử hai trường hợp sau đây. Tôi có đứa cháu ở quê, không may bị xe khách cán chết rồi bỏ chạy. Bà con, họ hàng quê tôi phải vất vả lắm mới bắt được thủ phạm. Nhưng một số cán bộ công an huyện đã cố ý để cho thủ phạm tẩu thoát. Sự việc suýt nữa rơi vào im lặng nếu Ngô Minh không kịp lên tiếng trên những tờ báo có uy tín. Hay cái việc những người đi lĩnh tiền, thường bị các nhân viên bưu điện vặn hỏi: “Ai gửi?”. Nếu không trả lời được hay trả lời sai thì bị họ gây khó dễ một cách hết sức vô lí. Ngô Minh đã phản ánh sự việc đó lên báo. Kể từ khi được nhà báo Ngô Minh góp ý, mỗi lần ra bưu điện, quan sát những người lĩnh tiền, tôi không còn nghe các nhân viên hỏi vặn vẹo “ai gửi” nữa. Vì viết một cách trung thực và thẳng thắn nên có không ít người thù oán anh, hăm doạ anh qua thư, qua điện thoại... Gay cấn nhất là lần mấy vị thương binh, dính chuyện làm ăn phi pháp, kéo đến cắm phập dao găm lên bàn định “làm thịt” anh, chỉ vì anh dám động đến họ trong một bài báo phản ảnh chuyện buôn lậu hàng Trung Quốc làm chìm tàu nhà nước trị giá hơn hai tỷ đồng. Anh đã thuyết phục họ rút lui bằng những lời lẽ hết sức mềm dẻo, có tình, có lí... Chỉ riêng những đóng góp của anh trên lĩnh vực báo chí, Ngô Minh xứng đáng là “Người của công chúng”!

Nhưng viết báo đối với Ngô Minh chỉ là nghề còn làm thơ mới là nghiệp. Anh nói vui viết báo như ăn cơm với vợ còn làm thơ như uống rượu với bạn. Cũng như viết báo, Ngô Minh tập tành làm thơ khi còn là cậu học sinh trường làng. Anh kể rằng, từ xưa họ hàng anh không có ai làm thơ viết văn gì. “Có lẽ mạ tôi là người đầu tiên đưa tôi đến với thơ? Trong tâm trí tôi cho đến tận hôm nay, mạ tôi luôn là người vĩ đại nhất. Tôi không hiểu bà học ở đâu, bao giờ mà thuộc làu rất nhiều các truyện thơ dày cộp như Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Lục Văn Tiên, Truyện Kiều… Mạ còn thuộc nằm lòng hàng ngàn câu hát ru, ca dao, tục ngữ. Mạ có thể ngâm ngợi, hát ru con rồi sau này ru cháu suốt ngày đêm không lặp lại! Nỗi oan mất chồng và lòng thương đàn con sớm mồ côi cha quặn thắt đằng đẵng đã làm cho tiếng ru của mạ tôi không còn là tiếng ru bình thường nữa, mà là tiếng nấc của cõi lòng tan nát, tiếng vọng của kiếp người “(Tự ghi chú về thơ).

Có lần, thời chiến tranh chống Mỹ, khuya nghe Đài Tiếng nói Việt Nam ngâm bài thơ Sao chiến thắng của Chế Lan Viên, anh hì hục viết bài thơ Nghe Sao chiến thắng, đề tặng nhà thơ Chế Lan Viên hẳn hoi. Làm xong anh nhét bản thảo lên mái tranh rồi ngủ quên. Ông anh trai tìm tăm xỉa răng tình cờ phát hiện. Từ đó cả nhà mới biết anh làm thơ. Nhưng khác với viết báo, con đường đến với thơ của Ngô Minh hết sức trầy trật. Một thời gian khá dài anh gửi thơ cho các báo nhưng chỉ thấy có tên ở mục hộp thư. Trong khi đó một số bạn bè cùng lớp với anh đã sớm thành danh như Lâm Thị Mỹ Dạ, Hải Kỳ, Đỗ Hoàng. Vì thế mà khi ra quân từ Sài Gòn về Huế, gửi thơ cho tạp chí Văn nghệ của Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên anh lấy bút danh Ngô Minh (bỏ tên thật) nhằm “để thử sức mình và muốn làm cho các bạn bất ngờ”. Hơn nữa anh ngây thơ cho rằng các nhà thơ nổi tiếng đa phần bút danh chỉ có hai chữ như Nguyễn Du, Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Bính...! Không gian Huế, sự kết nối bạn bè, niềm đam mê... đã góp phần đánh thức hồn thơ tiềm ẩn trong anh.

Chỉ một thời gian rất ngắn, Ngô Minh liên tục cho ra mắt độc giả 13 tập thơ trữ tình: Phía nắng lên (1985), Chân dung tự hoạ (1989), Nước mắt của đá (1991), Chân sóng (1995), Quà tặng xứ mưa (1996), Đứa con của cát (1998), Phù sa biển (2001), Nắng mặn (2001), Huyền thoại Cửa Tùng (2004), Lệ Thuỷ mút mùa (2005), Thơ tặng (2007), Gọi lá (2008)… cùng với hàng trăm bài thơ in rải rác trên hàng trăm tờ báo và tạp chí từ Trung ương đến địa phương. Sức viết, sức sáng tạo của anh thật đáng nể phục. Ngô Minh nhận được rất nhiều giải thưởng có giá trị như: Tặng thưởng thơ hay của báo Nhân dân (1978), tạp chí Văn nghệ Quân đội (1985), tạp chí Sông Hương (1983 - 1988), Giải thưởng Văn học Trung ương Đoàn - Hội Nhà văn Việt Nam (1982), hai lần Giải thưởng của UBTQ Liên hiệp các HVHNTVN (1985, 2004), 3 lần Giải thưởng Cô Đô (của Thừa Thiên Huế)... Cái may mắn của Ngô Minh là anh xuất hiện đúng vào thời điểm đất nước đang trên đà đổi mới về mọi phương diện trong đó có văn học. Những người “cấp tiến” như Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu... đã dũng cảm “nhìn thẳng vào sự thật” để thức tỉnh các nhà văn, nhà thơ sớm chia tay với loại văn chương “minh hoạ”, văn chương “phải đạo”... Đã có một thời chúng ta ngây thơ tin rằng: Trăng Trung Hoa tròn hơn trăng nước Mỹ; Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ (Việt Phương), Ruộng hợp tác nên người thôi chia cắt (Chế Lan Viên)... Đọc Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận ta chỉ nghe tiếng hát hết sức lạc quan, yêu đời “tiếng hát căng buồm cùng gió khơi”... Ta đâu biết cũng vào thời điểm đó có một người mẹ ở làng Thượng Luật, Ngư Thuỷ, Quảng Bình đang: Nuôi con, thờ chồng oan khuất/ Mạ mót khoai hà cát phơi (Nhớ mạ). Ta đâu biết có những ngư dân: chẳng có bài ca để hát/ đời là vỏ ốc u u... tháng tám khoai non cháy ruột/ biển động chân trời rách tả tơi/ anh bên đàn con nhìn lửa/ lửa cười... (Sẹo biển).

Khi nhà thơ Tố Hữu viết “Miền Bắc thiên đường của các con tôi” thì ở làng Thượng Luật của Ngô Minh: mẹ đi kiếm gạo nuôi tôi/ mẹ nuôi tôi bằng hai bàn tay/ suốt một đời bới vào cát ấy / bàn tay mẹ cát dăm thành vảy/ lớp móng mòn rồi lớp lại thay... (Đứa con của cát). Ngô Minh tâm sự: “Làng tôi từ xưa chưa có thơ nào nói tới. Cái miệt cát ấy ẩn chứa bao điều về số phận con người, về vũ trụ và tâm linh. Thật không dễ dàng chút nào khi phải tạo lập cuộc sống trên cát trắng bỏng rang ấy! Làng tôi nhiều nắng, nhiều lửa, nhiều bão, nhiều sóng, nhiều gió... Nhưng làng tôi cũng thật nhiều cá, nhiều muối, nhiều trăng. Có lẽ đó là biểu tượng hùng tráng, lãng mạn và bi thiết nhất mà những sinh linh khốn khổ và vinh quang là CON NGƯỜI phải chịu đựng để đi tới. Cái mặn xanh mênh mông là biển ấy đã có trong huyết quản con người từ khi chưa lọt lòng. Hạt cát ấy chính là cái dấu chấm lung linh ở tận cùng của thân xác, nơi con người hóa thành bất tử...” Chính vì sinh ra và lớn lên trên một vùng quê nghèo như thế, trong một gia đình mà người cha từng nuôi cán bộ kháng chiến xã nhà, nuôi cả một trung đội Việt Minh, bỏ tiền mua 2 khẩu súng cối ủng hộ bộ đội cụ Hồ thế mà lại bị quy là địa chủ, bị án tử hình trong CCRĐ: xác quằn quại máu ròng cọc xử bắn, nên Ngô Minh hết sức thương cảm với những số phận bất hạnh. Đó là cảnh mệ già ngồi bên đường chìa mê nón xin đời bố thí/ bốn mùa mệ không đổi dáng ngồi/ như tượng đài thời gian rách nát (Tìm tôi tìm Huế).

Ngô Minh tâm sự: hình ảnh của mệ ngồi ăn xin trên dốc Bến Ngự làm anh nhớ đến cảnh mạ anh xưa, hàng ngày cắp chiếc rổ rách đi dọc bờ biển gió nắng xin từng con cá vụn mang về nuôi bốn đứa con nhỏ dại. Trong tập Thơ tặng mới xuất bản gần đây những bài cảm động nhất là những bài anh viết về những số phận long đong, những con người chịu nhiều oan khuất. Đó là nhà thơ Tôn Phong thời còn bán chè chén ở sân ga: vợ chồng lạnh hiên hàng xóm/ còi tàu thổi tắt ái ân... Đó là căn lều ở nơi hẻm nhỏ của vợ chồng nhà thơ Tạ Vũ: chia mưa với đất với người/ đâu đó trên đời mái dột/ ướt mềm giấc ngủ anh đây; đó là bản lý lịch “trích ngang” của Phùng Quán: 30 năm/ cá trộm,/ văn chui,/ rượu chịu... đó là Phương Xích Lô: đi ăn mày rượu nuôi thơ... Không chỉ vẽ chân dung bằng thơ, Ngô Minh còn vẽ chân dung bằng văn xuôi. Báo Tiền Phong cuối tuần, Tuổi Trẻ cuối tuần mấy năm gần đây liên tục đăng những bài viết về chân dung văn học của anh. Nhà xuất bản Văn nghệ chuẩn bị xuất bản tập Người đồng hành cô độc (gồm 32 chân dung văn nghệ sĩ). Anh có lối viết hết sức lôi cuốn, hấp dẫn bằng việc khai thác những chi tiết đời thường ít người biết của những nhà văn nhà thơ nổi tiếng. Hầu hết những nhà văn nhà thơ mà anh chọn viết chân dung cũng đều là những người có số phận long đong hay chịu nhiều oan khuất như Phùng Quán, Phùng Cung, Trần Vàng Sao, Lâm Thị Mỹ Dạ, Tuân Nguyễn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Hoàng Cát... Chỉ tiếc là do sơ suất nên anh đưa vào bài viết của mình một vài chi tiết chưa thật chính xác (đã được bạn đọc góp ý) như nhà thơ Trần Vàng Sao có đến 3 đứa con, mà thực tế chỉ có hai. Chị Hay, vợ nhà thơ Trần Vàng Sao cười vui: “Nhờ Ngô Minh tôi mới biết anh Đính có một đứa con nữa, bây giờ không biết nó ở mô mà tìm?”...

Ngoài thơ, Ngô Minh đã lần lượt cho ra mắt các gần 10 tập ký, báo chí chọn lọc và sách biên soạn như Văn hoá kinh doanh thời mở cửa, Chuyện làng thơ, Đất thiêng, Chuyện tử tù Lê Quang Vịnh, sưu tầm tuyển chọn, biên soạn và tổ chức bản thảo các tập Nhớ Phùng Quán, Phùng Quán còn đây, Phùng Quán - Ba phút sự thật... Bạn bè nhà văn trong Nam ngoài Bắc thường gọi Ngô Minh là “chuyên gia về Phùng Quán” quả không ngoa. Điều đó càng chứng minh sức lao đông không biết mệt mỏi của anh. Đỗ Hoàng vẽ chân dung Ngô Minh “đọc đọc và viết viết” là chính vì thế.

Nhưng Ngô Minh không chỉ làm việc “tới số” mà anh còn là người chơi cũng “tới số”. Đỗ Hoàng viết: Ngô Minh ngày ba cuộc rượu/ Bạn bè thường hay tới lui”. Hầu như không có cuộc rượu nào của nhóm thi sĩ lang thang chúng tôi (thời còn chung tỉnh Bình Trị Thiên) mà không có mặt Ngô Minh. Thời đó anh là cán bộ tổ chức của Sở Thương nghiệp. Cửa sổ phòng làm việc của anh gần sát đường. Tôi, Hoàng Vũ Thuật, Hải Kỳ, Đỗ Hoàng... đứng ngoài cửa sổ đưa tay ra hiệu. Thế là Ngô Minh kiếm cớ đánh bài chuồn. Đi muộn về sớm, lại hay rượu, nên Ngô Minh thường xuyên bị phê bình và xếp lao động loại B, mặc dù hiệu suất công việc của anh không thua kém ai cả. Chúng tôi: lơ ngơ như thế suốt mùa đông, bên nhau trong mưa dầm, mang thơ đến những căn phòng bé nhỏ, nơi ánh đèn không đủ sáng để nhận ra nét gầy guộc bạn bè... Ngô Minh uống với bạn thơ đến từ chóp mũi Cà Mau: Tuổi tên danh phận như đùa/ rượu vơi lưng nậm/ chuông chùa cầm canh. Ngô Minh uống với Nhất Lâm trong đêm trắng ở làng Thượng Luật: Trăng khuya cạn chén biển buồn/ thấy mình cùng lũ dã tràng/ xe trăng. Ngô Minh uống với bạn bè Đồng Hới: Rượu nhấm ớt tươi dấm dấm thời gian đêm Hải Thành lặng ngồi bên sóng... Trăm cây số về đây tìm lại tuổi mình, rượu không say bằng ánh mắt em - Chén rượu biển ngả nghiêng đầu mùa bão... Ngô Minh uống tiễn Nguyễn Khắc Thạch đi học trường Nguyễn Du: bạn ơi, bạn ơi rượu hay nước mắt/ cạn túi mươi đồng cạn cốc tiễn nhau/ cay đắng trong veo nồng nàn cũng trong veo/ trong veo câu thơ thương người biết khóc... Trong một cuộc rượu ở nhà Nguyễn Trọng Tạo, Ngô Minh say đến mức mấy người bạn “lực sĩ” đã khiêng anh lên xe xích lô, ôm thật chặt rồi mà anh vẫn còn quậy... Uống ở trụ sở Hội Văn nghệ (26 Lê Lợi) hay trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam Ngô Minh say thản nhiên “tè” ướt dầm cả cầu thang. Uống ở nhà bạn trở về, ngang qua trường Quốc Học, trăng thanh gió mát, anh gối đầu lên xe đạp và ngủ lúc nào không biết. Khi dân phòng đập dậy, anh phóng xe quay lại nhà bạn mà cứ tưởng về nhà của mình... Giai thoại về những cuộc say của Ngô Minh kể suốt cả ngày không hết. Có một số chuyện anh em văn nghệ “bịa như thật” để trêu đùa anh. Chẳng hạn thời bao cấp, nhà nào cũng nuôi lợn, nên Nguyễn Trọng Tạo mới bịa chuyện Ngô Minh uống say về chui vào ngủ với lợn nái trong chuồng lợn... Nghe bạn bè kể chuyện trêu, anh vẫn cười hề hề, không giận ai bao giờ.

Ngô Minh tự phong cho vợ mình (Minh Tâm) là “hoa hậu”: Hôm nay hoa hậu muộn về/ bố con thi sĩ cơm khê, lửa cười... Nhưng thi sĩ vốn là nòi đa tình đa cảm nên không thể tránh khỏi những phút giây “ngoài chồng ngoài vợ”. Đó là một cách nuôi nguồn cảm hứng. Những giây phút lãng mạn đã giúp Ngô Minh có được những câu thơ tình rất hay, như: Thơ Lầu Ngắm Sóng cầm lên/ tóc vương như sợi rét mềm buộc nhau/ một lời thưa với mai sau/ chút tình đơn lẻ cũng giàu ngày đông (Hà Nội mùa đông); em mặc áo đỏ xa tôi nhớ/ như đêm thao thao thức nhớ mặt trời/ bây giờ màu áo thành bếp lửa/ sưởi ấm tâm tư ấm quãng đời (Bên bến đò Chèn); Hai giờ chiều mai! Lạ quá/ Thời gian tuổi đá im lìm/ Rơi vào trong lời em hẹn/ Thành thơ, thành lửa và. .. anh... (Hai giờ chiều mai); Lặng lẽ cây buồm/ lặng lẽ khơi/ trút áo thiên thu lặng lẽ ngồi/ cát phơi lặng lẽ mùa da thịt/ em chín bao giờ/ lặng lẽ... rơi... (Lặng lẽ Nha Trang), hay hai câu thơ được Ban tổ chức Ngày thơ Việt Nam Nguyên tiêu 2008 ở Hà Nội chọn thả lên trời Khuya nghe lục bát gọi đôi/ Một anh một bóng một người một không (Lục bát gọi đôi) v.v..

Mới đây, khi trả lời phỏng vấn trên báo điện tử Tổ quốc, Ngô Minh khẳng định: Nếu được “tự thú”, tôi xin thành thật nhận rằng mình vẫn là một người lính đang xông xáo trên mặt trận văn chương, báo chí. Ngô Minh đi bộ đội 4 năm vào tận Miền đông Nam Bộ - Sài Gòn, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4-1975 lịch sử với vai trò một “nhà báo” Sư đoàn. Cái chất lính ấy vẫn cháy trong anh cho tới bây giờ. “Người lính” Ngô Minh đang cần mẫn dùng ngòi bút của mình để tôn vinh cái đẹp; phê phán, lên án cái xấu; đấu tranh cho tự do, cho sự công bằng xã hội. Là “người của công chúng”, là “đứa con của cát”: mắt quen mở ngang tầm gió sắc, tôi tin Ngô Minh sẽ còn cho ra đời nhiều bài báo mạnh mẽ hơn, nhiều câu thơ gan ruột hơn, nhiều chân dung văn học sinh động và hấp dẫn hơn. Tất cả đang ở phía trước: con tàu thơ không có ga dừng!

M.V.H


NGÔ MINH

Lục bát gọi đôi

khuya anh Hà Nội mù say
nằm nghe thơ trở gió lay sang mùa
câu lục vừa mới chớm thu
chưa sang câu bát đã  mù rét giăng

xếp hàng ăn phở Bát Đàn
chật người mình vẫn hoang mang một mình
một mình câu lục lặng thinh
thương câu bát tận cuối miền  phù sa

trôi cùng Hoàng Cát  ta bà
nói cười nâng chén như là một hai
chợt nghe câu lục thở dài
đi tìm câu bát tận ngoài nỗi mong...

một đời có có không không
đều về với cỏ phiêu bồng người ơi
khuya nghe lục bát gọi đôi
một anh một bóng một người một không
...
            Hà Nội-Huế, 6-11-2007

Uống với mũi Cà Mau

ừ thì dzô ly nữa
không say răng đành
câu vọng cổ rất mùi và đất mặn như môi
mồi khô thòi lòi bén lắm

dzô ly nữa, ly nữa
xin say cùng Đất Mũi ngàn lần
mắm ba khía, cá ba đời
rượu Đất Mũi long lanh mắt gọi
bí thư chủ tịch Đất Mũi nói:
- 
chúng tôi là đầu binh cuối cán chốn tận cùng
không vì dân nghe dân sẽ bị quăng ra biển

ôi, dễ thương dễ thương sao
không say răng đành

ngả nghiêng đước
ngả nghiêng mắm
ngả nghiêng sóng
ngả nghiêng em
dang tay đo ngọn triều Cửa Lớn
ngước Hòn Khoai lại muốn bay lên...

một lần say Đất Mũi
một lần mình được hết mình
..
                       Đất Mũi,10- 8-2008

(242/04-09)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN NHÃ TIÊNTừ buổi trình làng tập thơ “Bông hồng ngủ quên”, tiếp theo là tập “Nhặt mùi hương trầm đâu đây”, cho đến bây giờ thi phẩm thứ ba của Võ Kim Ngân “Viết lúc sang mùa” vừa mới được Nxb Văn học cấp phép ấn hành tháng 7-2010.

  • THANH THẢO(Đọc “Bán đảo” của Thái Bá Lợi)

  • TRẦN HUYỀN TRÂNNgày 10 - 10, Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế và Công ty Văn hóa Phương Nam đã tổ chức buổi tọa đàm về tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Buổi tọa đàm đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của các nhà văn, nhà nghiên cứu và đông đảo sinh viên các trường đại học.

  • KIM QUYÊNSau tập thơ Ngày đầu tiên(*), nhà văn Trần Hữu Lục tiếp tục ra mắt bạn đọc tập Góc nhìn văn chương(**) và anh sẽ xuất bản tập truyện ngắn Trần Hữu Lục (tuyển chọn năm 2010). Thật là một mùa bội thu với nhà văn Trần Hữu Lục.

  • HỒNG DIỆU(Nhân đọc Trái tim sinh nở và Bài thơ không năm tháng *)

  • MAI VĂN HOANTôi cố hình dung những tháng ngày nhà văn Hồng Nhu trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh từng gắn bó đã hơn hai mươi năm với bao kỷ niệm vui buồn.

  • KHẢI PHONG“Thơ kỵ nhất viết điều người đã viết! Nhưng biết sao, khi tôi mến sông Cầu…Lòng khẽ nhắc: đừng nói điều đã viết,Sao âm vang cứ mãi gọi: sông Cầu”

  • (Về cuộc thi truyện ngắn dành cho sinh viên Huế do Sông Hương tổ chức)BAN TỔ CHỨC CUỘC THINhằm tạo không khí sáng tác, phát hiện các cây bút trẻ Huế, trong khuôn khổ Chương trình Phát triển Tài năng Trẻ, Tạp chí Sông Hương tổ chức Cuộc thi truyện ngắn dành cho sinh viên đang theo học các trường đại học và cao đẳng ở Huế.

  • LÊ HUỆCuộc thi Truyện ngắn cho sinh viên Huế do tạp chí Sông Hương tổ chức đã thu hút được sự tham gia của rất nhiều các bạn trẻ mang trong mình khát vọng văn chương. Những truyện ngắn dự thi đã cho ta thấy được một vóc dáng mới của các cây bút trẻ Huế hiện nay: phản ánh cuộc sống đương đại từ nhiều góc cạnh bằng bút pháp tinh tế, mới mẻ, giàu trí tuệ và đầy chất thơ. Mười lăm truyện ngắn xuất sắc lọt vào chung khảo đã được tập hợp lại thành ấn phẩm mang tên “Yêu xa xa một phút”.

  • PHAN MINH NGỌC“Bài thơ về biển khơi” (*) là tập sáng tác đầu tay của cây bút nữ Trần Thùy Mai.

  • NGÔ HƯƠNG GIANGLàm thế nào để diễn giải hợp lý về Tường Thành?

  • KHẢI PHONGTôi đã có dịp gặp những trang thơ chân chất của Nguyễn Quang Hà trong “Tiếng gà trên đỉnh chốt”(1). Lần này gặp văn Nguyễn Quang Hà trong “Mùa xương rồng nở hoa” (2), cảm tưởng lưu lại trong tôi là văn anh gây được ấn tượng mạnh hơn thơ.

  • NGUYỄN ĐÔNG NHẬT19 lời chứng của những ONS(1) cuối cùng, lần đầu tiên được lên tiếng qua công trình nghiên cứu hoàn hảo của bà Liêm Khê LUGUERN(2) là những nhân chứng cuối cùng trong số khoảng 27.000 người từ Đông Dương bị lùa đến nước Pháp từ tháng 10/1939 đến tháng 6/1940 để phục vụ cho guồng máy chiến tranh của thực dân Pháp trong Thế chiến thứ II.

  • LÝ HẠNHAi trong đời chẳng đã một lần làm thơ. Dù làm thơ để giải trí hay sẻ chia thì những trang thơ ấy cũng là tiếng hát của trái tim, là nơi dừng chân của tâm hồn.

  • LTS: Có một chuyện ít người biết là các nhà văn Tô Hoài, Xuân Diệu, Huy Cận không nhớ ngày sinh của mình. Xuân Diệu, con nhà Nho, thì biết mình sinh giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn, năm Thìn, nhưng không biết dương lịch ngày nào. Nhà văn Tô Hoài cũng vậy, nhưng nhớ Bà Cụ cho biết sinh ông đêm rằm Trung Thu. Sau này, sang Nga, bạn người Nga hỏi, mới tra ra ngày Tây là 27-9-1920. Do đó trên các tư liệu, thường thấy ghi ngày sinh: 07-9-1920, và nhà văn cũng không buồn đính chính. Nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà văn Tô Hoài, Sông Hương nhận được bài viết của nhà văn Đặng Tiến cùng thông tin về ngày sinh Tô Hoài nói trên. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

  • HOÀNG DŨNGKhông phải ngẫu nhiên khi ta nói vũ trụ, thế giới thì vũ, giới là không gian, mà trụ, thế là thời gian. Ngay trong những khái niệm tưởng chỉ là không gian, cũng đã có thời gian quấn quýt ở đấy.

  • LTS: Trong các ngày 7-9/9/2010 sắp đến, Ủy ban Văn hóa Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa Tổng Giám mục Giáo phận Huế sẽ tổ chức Hội thảo về thân thế và sự nghiệp của Léopold Cadière (1869-1955), Nhà nghiên cứu về Huế và Việt Nam học, chủ bút của tập san Bulletin des Amis du Vieux Hué (B.A.V.H), một trong số các tờ báo hay nhất ở Đông Dương thuở trước. Hội thảo sẽ có một số nội dung liên quan đến văn hóa Huế như Văn hóa Huế, Mỹ thuật Huế, Cổ vật Huế dưới con mắt của L. Cadière... Nhân dịp này, Tạp chí Sông Hương đăng bài viết của nhà nghiên cứu Hồ Vĩnh, chuyển tải vài nét về hoạt động văn hóa của Léopold Cadière. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.S.H

  • NGUYỄN THỊ HÒA Không cần phải bàn cãi, Từ điển tiếng Huế của Tiến sĩ, Bác sĩ Bùi Minh Đức là một tác phẩm Từ điển. Một quyển từ điển về phương ngữ địa phương Huế mà dày dặn, công phu, với 2050 trang, thể hiện công sức nghiên cứu miệt mài của một vị bác sĩ - nghiệp dư với nghề ngôn ngữ, nhưng đầy nhiệt tình và khá chuyên nghiệp trong nghiên cứu.

  • Sinh ngày 6-2-41 tại Huế. Hy sinh ngày 11-10-68 tại vùng biên giới tỉnh Tây Ninh, nguyên quán làng Bát Tràng tỉnh Bắc Ninh. Học sinh cũ Trường Quốc Học, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Ban Việt văn. Tên thật và bút hiệu công khai, chính thức: Trần Quang Long. Các bút hiệu khác: Thảo Nguyên, Chánh Sử, Trần Hoàng Phong.

  • TRẦN HỮU LỤCỞ tuổi 20, hành trình sáng tác của Nhóm Việt gắn liền với những biến cố lịch sử ở miền Nam (1965-1975). Những cây bút trẻ của Nhóm Việt đã bày tỏ một thái độ dấn thân ngày càng sâu sắc, vừa trên bình diện ý thức công dân, vừa trên bình diện ý thức nghệ sĩ.