Ảnh: Internet
|
Mùa nào bắt đầu khi mười ngón tay em chạm xuống đàn tranh Mùa hạ vơi đầy trên mặt nước sông… Mùa xuân tần ngần trên cây trên lá Thu rất mỏng thoáng qua tà áo Huế gập ghềnh bao nhiêu mùa đông Như mười ngón tay em chạm xuống đàn tranh Không gian chia vùng cho người bối rối Tôi chạm phải bốn bề dịu ngọt Nên ngẩn ngơ cung bổng, cung trầm Dù rất nhiều mưa, nghe rất nhiều mưa Chiều Đông Ba, chiều Gia Hội Có bao nhiêu rêu phong Đại Nội Những nỗi niềm trắng tóc người xưa Phải không em, dù rất nhiều mưa Qua rồi dòng sông xanh và những con thuyền ấy Qua rồi những tóc xanh nghiêng mỏi mòn trước thềm giai điệu cũ Em trả lại cho đời bao dịu ngọt hôm nay Lần theo mười ngón tay… Tôi ngược dòng Hương đến với gió đại ngàn Hồn phân thân cùng với thông xanh, với nắng Những người con tìm thành Huế Khao khát mùa xuân Gởi lại đó suốt thời trai trẻ Để tôi thấy dòng sông trầm ngâm Khi nhói lòng bao chuyện kể Tiếng hò khuya khoắt Rung niềm đau trong mỗi thanh âm… Phải không em - mười ngón tay - níu lòng người đến Huế Lướt qua, lướt qua, đọng lại… Cánh dơi chiều xao động nóc hoàng cung Vùn vụt những tường thành ngã vào lòng quên lãng Cờ bay trên Phu Văn Lâu Những xóm nhỏ nghèo nàn bao mẹ già mắt ướt Bao đứa bé lớn lên Mang trong mình một nỗi niềm Huế khóc Cung bậc nào mát dịu khúc đàn tranh Đêm bắt đầu sau một ngày vất vả Ngực áo nghe mềm ngọn gió ven sông Bữa cơm nghèo khoai sắn trong sân Lòng lắng lại tiếng đàn ai chuốt mượt Mười sáu bậc sương mù nghiêng bến nước Em gánh hương vườn ban mai Mười sáu bậc trăng vàng trên tóc Đêm chòng chành em vắt qua vai Chiếc nón lá bến Tuần nhiều nắng Nghiêng trút hết bao nhiêu mưa Nghiêng trút hết bao nỗi niềm con gái Thời phận con đò Cô gái nào hồn nhiên Dấu sau cái cười e thẹn Bài thơ cài mười sáu vầng trăng Em chạm xuống đàn tranh Mười sáu bậc vang ngân Lá vàng non vỗ trong trời xanh sắc lạ Ve điệp trùng gọi một ngày hối hả Tôi nghe Huế thì thầm rất lạ Một khung trời yên ả Tôi đến nhận mượt mà giọng nói Huế nồng nàn vô tận mắt em! 4-1984 (10/12-84) |
Tải mã QRCode
Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà