Ngày và nơi ra đời Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế

14:42 03/04/2020

DƯƠNG PHƯỚC THU  

Trong thời kỳ đen tối của những năm 1925 - 1927, tại thành phố Huế, bắt đầu có những biến động lớn về chính trị. Các phong trào yêu nước và đòi dân chủ dân sinh đang có sự thay đổi về chất.

Tượng đồng chí Lê Viết Lượng, Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên - Ảnh: internet

Tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt Cách mạng Đảng được hình thành cơ sở ở Huế. Tháng 04/1927, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tỉnh Thừa Thiên được thành lập1.

Cùng thời kỳ đó, một cuộc bãi khóa đầu tiên của Trường Kỹ nghệ Thực hành nổ ra ở Huế, kéo dài suốt 03 tháng chống sự hà khắc của nền giáo dục Pháp cai trị. Đến tháng 04/1927, cuộc tổng bãi khóa của học sinh Trường Quốc Học - Đồng Khánh và một số trường học khác diễn ra sôi động khắp Kinh đô Huế kéo dài đến cuối năm đó. Chính từ phong trào đã khơi dậy, thúc đẩy lòng yêu nước trong nhiều tầng lớp xã hội. Nhiều thanh niên ở Thừa Thiên bắt đầu ý thức tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản.

Năm 1928, từ Vinh, Kỳ bộ Thanh niên Trung Kỳ đã phái ba cán bộ vào Huế, trong đó có đồng chí Nguyễn Thị Hồng được phân công tổ chức cơ sở liên lạc, mở một cửa hiệu tạp hóa nhỏ, lấy tên là Kim Sinh (gần chợ Đông Ba, bên cầu Trường Tiền)2 để hoạt động, gây được ảnh hưởng đến nhiều nhân tố tích cực ở Phú Lộc, Phú Vang.

Trước những diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, ngày 14/07/1928, một cuộc họp của Việt Nam Cách mạng Thanh niên diễn ra tại nhà ông Đào Duy Anh ở Huế, đã quyết định đổi tên thành Tân Việt Cách mạng Đảng, đồng thời dời cơ quan của Tổng bộ đóng ở Vinh vào Huế và Đào Duy Anh được bầu làm Bí thư trưởng. Tỉnh bộ lâm thời Tân Việt Thừa Thiên do đồng chí Trần Hữu Duẫn làm Bí thư. Các đảng viên Tân Việt với số lượng ban đầu là 30 đồng chí3 chủ trương phát triển đảng viên chủ yếu trong thành phần trí thức, giáo viên, công chức, nhất là học sinh các Trường Quốc Học, Chaigneau, Kỹ nghệ Thực hành… Hoạt động của đảng viên Tân Việt ở Huế nổi bật là: “Ủng hộ các cuộc bãi khóa ở Huế bằng cách lập ra các ban cứu trợ bằng vật chất”. Tích cực xây dựng và phát triển cơ sở của Đảng ở các huyện Phú Lộc, Phú Vang, Phong Điền, Quảng Điền và thành phố Huế.

Đầu tháng 07/1929, Tỉnh bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Thừa Thiên được thành lập, đồng chí Nguyễn Đức Tịnh được cử làm Bí thư4. Tỉnh Đảng bộ chủ trương đưa đảng viên thâm nhập vào quần chúng công nông để xây dựng cơ sở và vận động quần chúng đấu tranh. Phần đông các hội viên thanh niên ở Thừa Thiên đã gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng. Từ đây, việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin càng được đẩy mạnh. Nhiều cuộc rải truyền đơn tuyên truyền chủ nghĩa Cộng sản diễn ra từ Phong Điền đến Phú Lộc.

Tuy tích cực nhưng các hoạt động của tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng bắt đầu có sự phân hóa theo hai xu hướng chính trị khác nhau. Tháng 09/1929, những người giác ngộ cộng sản trong Tân Việt ra bản Tuyên đạt “Trịnh trọng tuyên ngôn cùng toàn thể đảng viên Tân Việt Cách mạng Đảng, toàn thể thợ thuyền, dân cày và lao khổ biết rằng, chúng tôi đã chánh thức lập ra Đông Dương Cộng sản Liên đoàn”5. Cơ sở hoạt động của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn chủ yếu ở các tỉnh phía bắc Trung Kỳ. Đồng chí Lê Viết Lượng, quê Can Lộc, Hà Tĩnh6 là một trí thức, giáo viên trung học, phái viên của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được cử vào Huế hoạt động, đồng thời bắt liên lạc để cải tổ Tỉnh bộ Tân Việt Thừa Thiên, cùng với đồng chí Trần Hữu Duẫn, Bí thư Tân Việt tỉnh Thừa Thiên tập trung chấn chỉnh tổ chức Tân Việt để chuẩn bị chuyển thành Đảng Cộng sản.

Trước tình hình có những chiều hướng thuận lợi, tháng 12/1929, đồng chí Nguyễn Phong Sắc, Ủy viên Trung ương Đông Dương Cộng sản Đảng với tư cách là người phụ trách các tỉnh miền Trung đã đến Kinh đô Huế để vận động thành lập Đảng Cộng sản. Ở Huế lúc này có Tổng bộ Tân Việt, với Ban Thường vụ gồm Đào Duy Anh, Ngô Đức Diễn, Phan Đăng Lưu. Trong đợt khủng bố năm 1929, hầu hết chủ chốt của Tổng bộ và Kỳ bộ Tân Việt bị thực dân Pháp truy lùng bắt giam. Tuy vậy, cơ sở Tân Việt Thừa Thiên vẫn duy trì được một số nơi ở Huế như các Chi bộ: Nhà máy Đèn, Nhà in báo Tiếng Dân, Trường Quốc học, Trường Chaigneau, Trường tư thục Vỹ Dạ, phố Bao Vinh và các huyện Phú Lộc, Hương Thủy, Phú Vang, Phong Điền…

Sau cuộc đại hội nghị Đảng Tân Việt được tiến hành trong hai ngày 29 và 30/12/1929 tại Đức Thọ (Hà Tĩnh), chính thức bỏ tên gọi Tân Việt và đặt tên mới là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, đồng chí Nguyễn Khoa Văn đại biểu Tân Việt Nam Kỳ tham dự hội nghị này trở về Huế, việc thành lập Tỉnh ủy lâm thời Đông Dương Cộng sản Liên đoàn Thừa Thiên trở nên khẩn trương hơn.

Đầu tháng 01/1930, Tỉnh ủy lâm thời Đông Dương Cộng sản Liên đoàn Thừa Thiên được thành lập, đồng chí Lê Viết Lượng được cử làm Bí thư7. Tỉnh ủy chủ trương nhanh chóng tổ chức lại các cơ sở ở Trường Kỹ nghệ Thực hành, Nhà máy Đèn, Nhà in báo Tiếng Dân, các huyện vùng nông thôn. Một số cơ sở chi bộ của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được củng cố lại ở Truồi, Bao Vinh, Huế và Phong Điền, Phú Lộc.

Từ các tổ chức của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Tân Việt Cách mạng Đảng đến Đông Dương Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn là một quá trình chuyển hóa mạnh mẽ của các tổ chức yêu nước và cách mạng ở Việt Nam nói chung và ở Thừa Thiên Huế nói riêng trong những năm 1927 - 1930. Sau sự ra đời của hai Đảng bộ Cộng sản trong tỉnh gây nhiều ảnh hưởng đến các huyện vùng nông thôn Thừa Thiên. Các đảng viên cộng sản phân công nhau bằng nhiều hướng thâm nhập về vùng nông thôn để vận động, tổ chức quần chúng hướng theo nghị quyết của đảng mình. Một số thanh niên yêu nước theo xu hướng mới đang từng bước hình thành, không ngừng bổ sung thêm lực lượng cho phong trào cách mạng.

Sự hình thành các nhóm yêu nước, các nhóm cảm tình tham gia vào tổ chức tiền thân của Đảng trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu sự phát triển mới của phong trào yêu nước cách mạng theo xu hướng cộng sản ở Thừa Thiên Huế, trong đó có các chi bộ Bàn Môn (Phú Lộc), An Cựu (Huế)…

Ngày 03/02/1930, tại một địa điểm nhượng địa ở Hương Cảng, thuộc Vương quốc Anh8, một sự kiện lịch sử vĩ đại đánh dấu một bước chuyển biến to lớn trong quá trình đấu tranh giữ nước của dân tộc ta: Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời. Trong lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại diện cho Ủy ban Quốc tế Cộng sản đã nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập, Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột của chúng ta”9.

Ngày 24/02/1930, tại một cơ sở liên lạc ở Kinh đô Huế, theo sự giới thiệu của đồng chí Nguyễn Phong Sắc, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Phân cục Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Trung Kỳ, đại diện của hai Đảng bộ trong tỉnh Thừa Thiên là Đông Dương Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gặp nhau để thống nhất thành một tổ chức cộng sản. Sau cuộc gặp lịch sử này chỉ một thời gian ngắn, vào ngày 03/04/193010, tại nhà đồng chí Cháu cơ sở liên lạc của những người cộng sản ở Bến Ngự (phía sau lưng chợ Bến Ngự ngày nay), hội nghị bàn việc thống nhất hai tổ chức cộng sản được tiến hành. Hội nghị tuyên bố thống nhất hai tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng tỉnh Thừa Thiên và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn tỉnh Thừa Thiên) thành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thừa Thiên. Hội nghị thảo luận chủ yếu ba vấn đề: Tên Đảng, điều lệ các tổ chức quần chúng, chương trình kỷ niệm ngày 01/05/1930 và bầu Tỉnh ủy mới.

Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thừa Thiên có 5 ủy viên, gồm: Lê Viết Lượng, Lê Bá Dị, Nguyễn Chí Huyến, Trần Hữu Duẫn và nữ đồng chí Nguyễn Thị Lụt.

Đồng chí Lê Viết Lượng, Xứ ủy viên dự khuyết Xứ ủy Trung Kỳ được bầu làm Bí thư kiêm công tác tuyên truyền và tổ chức.

Đồng chí Lê Bá Dị được phân công phụ trách dân vận.

Đồng chí Nguyễn Chí Huyến, phụ trách trực và giao thông.

Đồng chí Trần Hữu Duẫn, phụ trách học sinh và trí thức.

Đồng chí Nguyễn Thị Lụt, phụ trách phụ vận11.

Vì các địa phương chưa thành lập được huyện ủy lâm thời nên Tỉnh ủy Thừa Thiên đã phân công các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành phụ trách các huyện. Đồng chí Lê Bá Dị, phụ trách huyện Phú Vang, Phú Lộc và Hương Thủy. Đồng chí Nguyễn Chí Huyến, phụ trách huyện Hương Trà.

Tiếp đó, từ ngày 7/04 đến ngày 10/04/1930, Tỉnh ủy Thừa Thiên họp hội nghị lần thứ nhất, thảo luận và thống nhất một số công tác chủ yếu trước mắt. Hội nghị bầu đồng chí Phạm Thị Xin và Hoàng Văn Diệm vào Ban Chấp hành, phân công đồng chí Phạm Thị Xin, phụ trách giao thông liên lạc; đồng chí Hoàng Văn Diệm làm Bí thư Thị ủy Thuận Hóa, phụ trách nội thành Huế. Đồng chí Địch phụ trách huyện Phong Điền12.

Hội nghị đã truyền đạt chỉ thị của Trung ương và của Xứ ủy Trung Kỳ về tăng cường vận động công nhân, nông dân và chuẩn bị tổ chức kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 01/05/1930. Nghị quyết đầu tiên của Tỉnh ủy Thừa Thiên nêu rõ: “Mở rộng phong trào học sinh, công nhân, nông dân chuẩn bị tổ chức ngày 01 tháng 05 trong 15 ngày từ 22 tháng 04 đến 7 tháng 05 năm 1930 để phát động quần chúng, còn ngày 01 tháng 05 thì bảo toàn lực lượng”.

Hướng chính của Tỉnh ủy lúc này là tăng cường tổ chức nội bộ và chuẩn bị thật kỹ mọi mặt để kỷ niệm ngày 01/05.

Ngay sau Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ nhất, ngày 24/04/1930, truyền đơn, biểu ngữ xuất hiện nhiều nơi ở Huế và vùng lân cận với nội dung kêu gọi các tầng lớp công nhân, nông dân, lao động thủ công đến thanh niên, học sinh, tiểu thương, bính lính… tham gia đấu tranh đòi giảm thuế, tăng lương, mỗi ngày làm việc 8 giờ; đoàn kết tạo thành một khối chống đế quốc, chống chiến tranh.

Lần đầu tiên cờ Đảng xuất hiện công khai đúng vào dịp kỷ niệm Quốc tế Lao động ngày 01/05/1930 tại đình làng An Cựu, trước Tòa Khâm sứ Trung Kỳ, dọc đường Paul Bert, đường Gia Long, đồn Mang Cá, Nhà máy Đèn, núi Ngự Bình, Trường Quốc Học, cửa An Hòa… Tại Phong Điền, các tổ chức cảm tình Đảng ở phía bắc và nhóm “Thanh niên yêu nước sông Bồ” ở phía nam của huyện đã tích cực hoạt động kỷ niệm ngày 01/05, bí mật rải truyền đơn, treo cờ đỏ búa liềm ở Phước Tích, Ưu Điềm, Vân Trình, An Lỗ… Bắt đầu một hiện tượng mới trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Thừa Thiên Huế13.

Cùng với việc ra nghị quyết thành lập Ban Dân vận và các đoàn thể cách mạng như: Nông hội, Phụ nữ, Sinh Hội đỏ…, tháng 06/1930, Tỉnh ủy Thừa Thiên cho xuất bản báo Con Đường Đấu Tranh, là tờ báo đầu tiên do Đảng bộ tỉnh tổ chức, đồng chí Lê Viết Lượng trực tiếp chỉ đạo nội dung. Cùng lúc ấy, Sinh Hội đỏ Thuận Hóa xuất bản tờ Học trò. Cả hai tờ báo này cùng với cuốn sách Người Cộng sản chân chính do Xứ ủy Trung Kỳ dịch của Đảng Cộng sản Liên Xô đã được lấy làm tài liệu truyền bá tư tưởng cộng sản trong học sinh, công nhân, các cơ sở cách mạng, các chi bộ Đảng ở Thừa Thiên.

D.P.T  
(SHSDB36/03-2020)

--------------
1.Trước đây, thường gọi là Việt Nam Thanh niên Cách mạng  Đồng chí hội.

2. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, Lịch sử công tác xây dựng Đảng về  tổ chức của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1930 - 2010), Nxb. Thuận Hóa, 2015, tr.11.

3. Trong đó có các đồng chí: Trần Hữu Duẫn, Nguyễn Chí Diểu,  Nguyễn Khoa Văn, Lê Bá Dị, Đồng Sĩ Bình…

4. Chưa đầy một tháng làm Bí thư, ngày 20/7/1929, Nguyễn  Đức Tịnh bị mật thám Pháp bắt, sau bị đày lên Lao Bảo. Xem Nhà đày Lao Bảo, Nxb. CTQG, 2002, tr.254.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 1  (1924 -1930), Nxb. CTQG, Hà Nội, 1998, tr.404.

6. Đồng chí Lê Viết Lượng, quê Cải Lương, Phù Lưu, Can Lộc,  nay là thôn Bắc Kinh, xã Ích Hậu, Lộc Hà, Hà Tĩnh, sinh năm 1900 trong một gia đình trung nông, thân phụ là một nhà nho yêu nước có chân trong Hội Văn thân, bị Pháp bắt giam tra tấn trong vụ chống sưu thuế ở Trung Kỳ, mất sớm. Cả gia đình đồng chí, từ ông nội, chú, anh chị em đều tham gia hoạt động chống Pháp, có 05 người hy sinh vì nước non.

7. Nguyễn Phong Sắc, Tiểu sử, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà  Nội, 2015, tr.147-148.

8. Nhượng địa Hồng Kông lúc này còn thuộc Anh quốc, đến  năm 1997 người Anh mới trả lại cho Trung Quốc.

9. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 1, Nxb. Sự thật, Hà  Nội, 1979, tr.156.

10. Những ngày đầu thành lập và xây dựng Đảng bộ Thừa  Thiên (hồi ký viết tay) của đồng chí Lê Viết Lượng, Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng TW Đảng và Kho Lưu trữ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, phông tài liệu trước 1945, viết: “Địa điểm họp ở Bến Ngự (ở phía ven làng An Cựu, bỏ 03 ngõ vào ngõ 4C tức là trong xóm nữ đồng chí Cháu”. Chúng tôi đi thực địa thì xóm ấy nằm sát chợ Bến Ngự, phía sau Tòa Tổng Giám mục Huế ngày nay. Xóm “nữ đồng chí Cháu” chính là cơ sở của Thị ủy Thuận Hóa từ lúc thành lập thị ủy đến Cách mạng tháng Tám 1945.

11. Ban Chấp hành Đảng bộ Thừa Thiên Huế, Lịch sử Đảng bộ  Thừa Thiên Huế, Tập I, Nxb. CTQG, 1995, tr.86.

12. Lê Viết Lượng Những ngày đầu thành lập và xây dựng  Đảng bộ Thừa Thiên (hồi ký viết tay), TL lưu tại Kho Lưu trữ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, phông tài liệu trước 1945.

13. Lịch sử công tác xây dựng Đảng về tổ chức của Đảng bộ  tỉnh TT.Huế, Sđd, tr.19.  




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN THỊ THANH…Núi Thuý Vân và chùa Thánh Duyên vì trước kia được xem là một trong những thắng cảnh của đất Thần Kinh nên các Chúa và các vua Nguyễn thường về đây thưởng ngoạn và làm thơ phú ca ngợi. Tuy nhiên, nổi tiếng hơn cả vẫn là những bài thơ được khắc trong hai tấm bia - một dựng trong chùa, một dựng dưới chân núi…

  • HỒ VĨNHĐồi Vọng Cảnh nằm cách thành phố Huế 7km về phía tây nam, vùng sơn phận này gồm nhiều núi đồi gối đầu lên nhau trong một khu vực rộng khoảng 2.400 ha diện tích đất tự nhiên. Về mặt địa hình của ngọn đồi, từ vị trí của tấm bia cổ Lý Khiêm Sơn (núi gối hậu của Khiêm Lăng - Tự Đức) kéo dài lên Vọng Cảnh là một dãy liên hoàn.

  • NGUYỄN QUANG HÀChùa Huyền Không Sơn Thượng tan trong non xanh và lá xanh. Dẫu đang còn tranh tre mộc mạc, nhưng thanh thoát, duyên dáng và thảnh thơi như lòng người ở đây. Đúng như nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh tâm sự: “Cảnh là tơ duyên của đời”. Đến Huyền Không Sơn Thượng cảm giác đầu tiên của tất cả du khách là thấy lòng mình ấm lại.

  • MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHChùa Linh Mụ đẹp quá, nên thơ quá. Nói vậy cũng chưa đủ. Nó tịnh định, cổ kính, an nhiên, trầm mặc. Nói vậy cũng chưa đủ. Phải nói nó là một bài thơ Thiền lồng lộng giữa không gian mây nước, giữa khói sương, giữa mênh mang dâu bể và lòng người. Nó là bức tranh thủy mặc thuộc họa phái Sumiye, Nhật Bổn, mà, nét chấm phá tuy giản phác nhưng lung linh, ảo diệu; vượt thời gian và đi vào vĩnh cửu. Nó là bài kinh vô ngôn, tuy không nói một chữ, mà đã làm lắng đọng trăm ngàn xôn xao của cuộc thế; và, gợi nhắc vô biên cho con người hướng đến điều chân, lẽ thiện...

  • NGÔ MINHHuế trên 350 năm là thủ phủ Chúa Nguyễn Đằng Trong và Kinh Đô của Đại Việt đã tích tụ nhân tài, vật lực cả quốc gia tạo ra một hệ thống Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc và nổi tiếng như nhã nhạc, lễ hội dân gian, văn hóa ẩm thực... Trong Di sản văn hóa ẩm thực Huế, Văn hóa ẩm thực Cung đình là bộ phận tinh hoa nhất, giá trị nhất!

  • HÀ MINH ĐỨC                   Ký Sau chặng đường dài, vượt qua nhiều đồi núi của vùng Quảng Bình, Quảng Trị, khoảng 3 giờ chiều ngày 25/9/2003, đoàn chúng tôi về đến thành phố Huế. Xe chạy dọc bờ sông Hương và rẽ vào khu vực trường Đại học Sư phạm Huế. Anh Hồ Thế Hà, Phó Chủ nhiệm khoa Văn; chị Trần Huyền Sâm, giảng viên bộ môn Lý luận văn học cùng với các em sinh viên ra đón chúng tôi. Nữ sinh mặc áo dài trắng và tặng các thầy những bó hoa đẹp.

  • BĂNG SƠN           Tuỳ bútDòng sông Hồng Hà Nội là nguồn sữa phù sa và là con đường cho tre nứa cùng lâm sản từ ngược về xuôi. Dòng sông Cấm Hải Phòng là sông cần lao lam lũ, hối hả nhịp tầu bè. Dòng sông Sài Gòn của thành phố Hồ Chí Minh là váng dầu ngũ sắc, là bóng cần cẩu nặng nề, là những chuyến vào ra tấp nập... Có lẽ chỉ có một dòng sông thơ và mộng, sông nghệ thuật và thi ca, sông cho thuyền bềnh bồng dào dạt, sông của trăng và gió, của hương thơm loài cỏ thạch xương bồ làm mê mệt khách trăm phương, đó là sông Hương xứ Huế, là dòng Hương Giang đất cố đô mấy trăm năm, nhưng tuổi sông thì không ai đếm được.

  • PHAN THUẬN THẢO                Chiều chiều trước bến Vân Lâu                Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,                Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông.                Thuyền ai thấp thoáng bên sông,                Đưa câu Mái đẩy chạnh lòng nước non.                                              (Ưng Bình Thúc Giạ)

  • LÃNG HIỂN XUÂNChẳng hiểu sao, từ thuở còn thơ ấu, tôi đã có một cảm nhận thật mơ hồ nhưng cũng thật xác tín rằng: Chùa chính là nơi trú ngụ của những ông Bụt hay bà Tiên và khi nào gặp khó khăn hay đau khổ ta cứ đến đó thì thế nào cũng sẽ được giải toả hay cứu giúp!

  • BÙI MINH ĐỨCNói đến trang phục của các Cụ chúng ta ngày xưa là phải nhắc đến cái búi tó và cái khăn vấn bất di bất dịch trên đầu các Cụ. Các Cụ thường để tóc dài và vấn tóc thành một lọn nhỏ sau ót trông như cái củ kiệu nên đã được dân chúng đương thời gọi là “búi tó củ kiệu”. Ngoài cái áo lương dài, cái dù đen và đôi guốc gỗ, mỗi khi ra đường là các Cụ lại bối tóc hình củ kiệu và vấn dải khăn quanh trên đầu, một trang phục mà các cụ cho là đứng đắn nghiêm trang của một người đàn ông biết tôn trọng lễ nghĩa. Trang phục đó là hình ảnh đặc trưng của người đàn ông xứ ta mãi cho đến đầu thế kỷ thứ 20 mới bắt đầu có nhiều biến cải sâu đậm

  • MAO THUỶ THANH (*)Tiếng hát và du thuyền trên sông Hương là nét đẹp kỳ thú của xứ Huế. Trên sông Hương có hai chiếc cầu bắc ngang: cầu Phú Xuân và cầu Trường Tiền nhưng trước đây người dân Huế thường có thói quen đi đò ngang. Bến đò ở dưới gốc cây bồ đề cổ thụ, nằm đối diện với trường Đại học Sư phạm Huế. Một hôm, tôi và nữ giáo sư Trung Quốc thử ngồi đò sang ngang một chuyến. Trên đò đã có mấy người; thấy chúng tôi bước xuống cô lái đò áp đò sát bến, mời chúng tôi lên đò.

  • VÕ NGỌC LANBuổi chiều, ngồi trên bến đò Quảng Lợi chờ đò qua phá Tam Giang, tôi nghe trong hư vô chiều bao lời ru của gió. Lâu lắm rồi, tôi mới lại được chờ đò. Khác chăng, trong cảm nhận tôi lại thấy bờ cát bên kia phá giờ như có vẻ gần hơn, rõ ràng hơn.

  • HỒNG NHUTôi vẫn trộm nghĩ rằng: Tạo hóa sinh ra mọi thứ: đất, nước, cây cỏ chim muông... và con người. Con người có sau tất cả những thứ trên. Vì vậy cỏ cây, đất nước... là tiền bối của con người. Con người ngoài thờ kính tổ tiên ông bà cha mẹ, những anh hùng liệt sĩ đã mất... còn thờ kính Thần Đất, Thần Nước, Thần Đá, Thần Cây...là phải đạo làm người lắm, là không có gì mê tín cả, cho dù là con người hiện đại, con người theo chủ nghĩa vô thần đi nữa! Chừng nào trên trái đất còn con người, chừng đó còn có các vị thần. Các vị vô hình nhưng không vô ảnh và cái chắc là không vô tâm. Vì sao vậy? Vì các vị sống trong tâm linh của con người, mà con người thì rõ ràng không ai lại tự nhận mình là vô tâm cả.

  • MẠNH HÀTôi không sinh ra ở Huế nhưng đã có đôi lần đến Huế, khác với Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, Huế có nét trầm lắng, nhẹ nhàng, mỗi lần khi đến Huế tôi thường đi dạo trên cầu Trường Tiền, ngắm dòng Hương Giang về đêm, nghe tiếng ca Huế văng vẳng trên những chiếc thuyền rồng du lịch thật ấn tượng. Cho đến nay đã có biết bao bài thơ, bài hát viết về Huế thật lạ kỳ càng nghe càng ngấm và càng say: Huế đẹp, Huế thơ luôn mời gọi du khách.

  • VÕ NGỌC LANNgười ta thường nói nhiều về phố cổ Hội An, ít ai biết rằng ở Huế cũng có một khu phố cổ, ngày xưa thương là một thương cảng sầm uất của kinh kỳ. Đó là phố cổ Bao Vinh. Khu phố này cách kinh thành Huế chừng vài ba cây số, nằm bên con sông chảy ra biển Thuận An. Đây là nơi ghe, thuyền trong Nam, ngoài Bắc thường tụ hội lại, từ cửa Thuận An lên, chở theo đủ thứ hàng hoá biến Bao Vinh thành một thương cảng sầm uất vì bạn hàng khắp các chợ trong tỉnh Thừa Thiên đều tập trung về đây mua bán rộn ràng.

  • NGUYỄN XUÂN HOATrước khi quần thể di tích cố đô Huế được công nhận là di sản văn hoá thế giới, thành phố Huế đã được nhiều người nhìn nhận là một mẫu mực về kiến trúc cảnh quan của Việt Nam, và cao hơn nữa - là “một kiệt tác bài thơ kiến trúc đô thị” như nhận định của ông Amadou Mahtar  M”Bow - nguyên Tổng Giám đốc UNESCO trong lời kêu gọi tháng 11-1981.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU                       Bút kýXứ Thuận Hóa nhìn xa ngoài hai ngàn năm trước, khi người Việt cổ từ đất Tổ Phong Châu tiến xuống phía Nam, hay cận lại gần hơn bảy trăm năm kể từ ngày vua Trần Anh Tông cho em gái là Huyền Trân Công chúa sang xứ Chàm làm dâu; cái buổi đầu ở cương vực Ô Châu ác địa này, người Việt dốc sức tận lực khai sông mở núi, đào giếng cày ruộng, trồng lúa tạo vườn, dựng nhà xây đình, cắm cây nêu trấn trị hung khí rồi thành lập làng xã.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCSông Hương, một dòng sông đẹp, sôi nổi với những ghềnh thác đầu nguồn, mềm mại quàng lấy thành phố như một dải lụa, hài hoà tuyệt diệu với thiên nhiên xinh đẹp và hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm, đền chùa; với hàng trăm điệu hò, điệu lý; với những ngày hội vật, hội đua trải, đua ghe; với mảnh vườn và con người xứ Huế, là nguồn cảm hứng vô tận của người nghệ sĩ, thu hút sự say mê của nhiều khách phương xa. Không những là một dòng sông lịch sử, sông Hương còn là không gian văn hoá làm nẩy sinh những loại hình nghệ thuật, những hội hè đình đám, là không gian của thi ca, nhạc hoạ, là dòng chảy để văn hoá Huế luân lưu không ngừng.

  • TÔN NỮ  KHÁNH TRANG              Khi bàn về văn hoá ẩm thực, người ta thường chú trọng đến ẩm thực cung đình, hay dân gian, và chủ yếu đề cập đến sinh hoạt, vai trò, địa vị xã hội... hơn là nghĩ đến hệ ẩm thực liên quan đến đời sống lễ nghi.

  • TRƯƠNG THỊ  CÚC• Bắt nguồn từ những khe suối róc rách ở vùng núi đại ngàn A Lưới - Nam Đông giữa Trường Sơn hùng vỹ, ba nhánh sông Tả Trạch, Hữu Trạch và nguồn Bồ đã lần lượt hợp lưu tạo thành hệ thống sông Hương, chảy miên man từ vùng núi trung bình ở phía đông nam A Lưới, nam Nam Đông, băng qua những dãy núi đồi chập chùng ở Hương Thuỷ, Hương Trà, Phong Điền rồi xuôi về đồng bằng duyên hải, chảy vào phá Tam Giang để đổ nước ra biển Đông.