TRIỀU NGUYÊN
Dãy phố cổ nằm hai bên đường Thuận Hòa, nơi bày bán từ cái đinh ốc xe đạp đến những sợi dây chuyền vàng đính ngọc thạch trổ tượng Quan Âm và cả Đức mẹ Maria, treo trên các giá lót nỉ màu hổ phách lóe sáng trong tủ kính, bỗng nhộn lên bởi cái tin từ cửa hiệu cầm đồ Hòa Lợi truyền ra: Mẹ của ông chủ hiệu này đang hấp hối.
Minh họa: Thiệp Đáng
Trời cuối xuân, nhưng đợt rét đậm dạo tháng hai vẫn còn rơi rớt, khiến các lão bà, các thiếu phụ diện lên người những chiếc áo khoác đủ kiểu, màu sắc khá sặc sỡ đi lại với vẻ hấp tấp và bộ mặt đầy tư lự. Họ là bạn bè quen biết, là láng giềng của nhà Hòa Lợi muốn đến chia sẻ nỗi đau với chủ nhân. Ông bà chủ hiệu cầm đồ vốn mến khách, nên dù không biết bao nhiêu lần đã trả lời về tình trạng sức khỏe của bà cụ, việc chăm sóc thuốc thang, vẫn sẵn lòng lặp lại đến không bỏ sót một chi tiết nào bằng thái độ ân cần, thành kính hiếm thấy. Đại loại câu chuyện về người sắp tiêu diêu miền cực lạc như sau: "Bà cụ năm nay đã tám mươi mốt tuổi, nhờ Trời Phật độ trì nên dù lưng còng, da cóc nhưng rất ít khi phải thuốc men vào người. Vậy mà dạo nửa tháng nay, cụ bỗng nhuốm bệnh liệt giường. Lần lượt các bác sĩ - những người không xa lạ gì với cư dân vùng này - đều có đến thăm bệnh, kê đơn, thầy đông y nổi tiếng Sơn Tra cũng quá bộ tận nhà bắt mạch, bốc thuốc, nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm. Giờ đây, bà cụ chỉ ăn được chút cháo lỏng cầm hơi...".
Sau lời kể là tiếng thở dài không che giấu, khiến người nghe cũng ảo não không muốn gợi hỏi gì thêm. Và, nếu cần biết thêm chi tiết, thì những thứ bày biện xung quanh sẽ mách với họ.
Đặt cạnh giường bà lão là chiếc tủ thấp chân, phía trên xép những thứ mà người ta thường thấy khi đến thăm bệnh nhân: cam, chuối, sữa, các lọ thuốc... và chiếc hộp Tàu nom rất quý, được bọc hai lần bằng plastic trắng, bày cái nhãn có in hình nhân sâm to như củ cà rốt trong giỏ các bà nội trợ. Bên chiếc tủ thấp chân là cái giá ba chân đặt những chậu, ống nhổ, khăn lau và cả lọ dầu thơm đắt tiền. Đối diện với chiếc tủ, một cái ghế bành chạm trổ cầu kỳ, người ta dễ đoán ra là chỗ dành riêng cho ông Hòa Lợi ngồi chăm sóc mẹ. Ngăn phòng người ốm với dãy nhà trên hướng ra đường phố, là tấm phông to, kiểu màn che ở sân khấu ngoài trời, màu hồng phấn. Bên ngoài cái phông, mọi người đang làm lễ cầu an cho bà lão. Tiếng chuông mõ tụng kinh của vị Đại Đức như lời ru dịu ngọt chuyền sang phòng người ốm. Tất cả điều ấy nói lên các chu đáo mà chủ nhân dành cho mẹ.
Bà lão nằm ngoi ngóp. Thỉnh thoảng, cố nhích cánh tay gầy guộc, mốc meo như thanh củi treo bếp lâu ngày chỉ vào một vật nào đó trên chiếc tủ, miệng ú ớ ra chiều muốn nhờ vả điều gì. Một bà bạn già còn ái ngại ngồi lại sau khi các người khách khác được chủ nhân mời sang phòng bên, thấy thế, mới cúi sát người về phía bà cụ, hỏi:
- Uống nước chăng?
Tiếng thều thào thoát ra từ cửa miệng khô róm:
- Cho tôi giọt sâm!
Người bạn già tỏ ra chẳng lạ lẫm gì với thứ mà người ốm yêu cầu. Bà tiến lại chỗ tủ, đặt bàn tay lên chiếc hộp Tàu. Nhưng đúng lúc ấy, bà Hòa Lợi xuất hiện.
- Cái gì thế?! - Bà chủ nhà kêu lên, rồi hạ giọng ngay - Xin bác cứ để cháu liệu. Chả là, mẹ cháu vừa mới uống xong. Cái gì dùng quá cũng có hại đấy, bác ạ.
- Vâng, quả đúng như vậy.
Người già nói với vẻ hối hận suýt làm một việc không hay, trong lúc cô dâu đến cạnh mẹ chồng nêm mấy cái gối hai bên đầu người ốm, như người ta vẫn quen làm mỗi khi liệm xác trong quan tài.
Không khí tang tóc bao trùm lên căn nhà. Khi tiễn xong đợt khách cuối cùng thì lũ con nhà Hòa Lợi không còn một đứa thức. Cả chị ở cũng dọn dẹp qua loa rồi đi ngủ. Ở chiếc bàn nước gần gian nhà kho nơi cất giữ hàng trăm thứ hàng của khách đến cầm, ông bà Hòa Lợi ngồi ủ rủ. Bà chủ sau tiếng thở dài, khẽ đặt bàn tay lấp lánh những vàng lên vai chồng, nói:
- Em đã nhờ cụ Trà Hoa tra cứu kỹ lại, đúng là chỉ có hai ngày Ất Sửu và Canh Ngọ mới hợp với căn mạng của mẹ. Đi vào trúng ngày trùng, con cháu gặp tai ương cất đầu không nổi.
Ông chủ ngẩng đầu lên, bất giác nhìn vào tấm chăn phập phồng ở giường mẹ, so vai lại.
- Ngày Sửu hôm nay đã qua - Bà chủ nói tiếp trong lúc dịch người ngồi sát chồng hơn - Còn ngày Ngọ phải năm hôm nữa... Tối nay, mình đổ sâm cho mẹ. Kỵ nhất là nhầm ngày Mùi, cả ngày mai...
- Cũng được. - Ông chủ nói.
Ông chủ hòa sâm vào nước, đỡ mẹ lên cho uống.
Hôm sau, bà cụ ăn được cháo, cả bát đầy.
- Ăn như ma ăn vậy đó! - Cô dâu bình luận sau mỗi lần thuật lại tình trạng sức khỏe mẹ chồng cho đám khách khứa đông hơn tiếp tục tới thăm.
Lễ cầu an vẫn tiến hành. Những người từ tâm tin tưởng Trời Phật đã trả lại sức khỏe cho bà lão. Họ được bà cụ chào đáp lễ, thậm chí còn cười và chìa tay cho mọi người nắm lúc cáo biệt. Ông Hòa Lợi có vẻ vui, nhưng cái tính lầm lì của ông chỉ để nó toát ra he hé, cũng như bộ ria thưa khó tạo nổi cái duyên cho mỗi lần nhếch mép, nên ít người đoán biết trong bụng ông nghĩ gì.
Bây giờ thì ông chủ hiệu cầm đồ đang ở bên cạnh mẹ. Bà cụ đã ngồi được, thần kinh tỉnh táo. Hình như bà vừa kể cho con trai nghe một giấc mơ của bà. Nói hình như, bởi người con để óc tận đâu còn bà mẹ thì nói những điều khó hiểu, đầy ẩn ý. Bà lão kết luận câu chuyện của mình:
- Giờ mẹ thấy người nhẹ nhõm. Mẹ còn ở lại với con cháu thời gian nữa, đúng ba con bảo: "Bà nó hãy trông nom con hộ tôi, bao giờ thuận tiện tôi đón gọi mới đi. Số bà còn thọ lắm!". Chiều nay, con dặn đứa ở nấu cho mẹ chén cháo đặc.
Người con trai gật đầu. Nhưng khi ông ta định tìm chị ở truyền lệnh thì người vợ hiện ra trên bậc cửa nhà bếp.
- Em đã mắng chị ta về tội cho mẹ ăn quá nhiều chất mát - Người phụ nữ nhíu mày tô đậm, khiến khuôn mặt xinh xắn của mình như tách đôi ra hai mảnh, nói - Anh biết không, sáng nay, mẹ đã làm lấm cả cái chăn bông đấy.
Ông Hòa Lợi toan nói gì, thoát nhìn vợ và nhận hết vẻ khó chịu kia đè lên ngực, ém lời vào bụng. Ông ta lúc lắc đầu khi bàn tay mềm mại của vợ vuốt lên má.
Ngày thứ ba, người ốm đã đi lại được dù có phải nhờ đến cái gậy. Không còn ai nghĩ rằng bà lão sẽ đi trong lúc này. Mọi người tổ chức lễ cầu an đọc kinh sám hối. Ngoài ông bà chủ đứng lễ, bà cụ lê người ra dự, miệng lẩm nhẩm tụng niệm như một Phật tử, tuy suốt đời bà chẳng được quy y.
Đó là buổi cầu an cuối cùng. Sau đó, bà cụ kiên quyết vứt đi cái gậy. Bà khom người xuống tạo thành hình dấu hỏi đổ dồn toàn thân vào đầu năm ngón chân, nơi tạo hóa cốt dành cho con người bám lên mặt đất, và bước quanh phòng với tất cả sự phấn chấn của người ốm dậy. Thử thách mà bà dành cho sự kiện lớn lao này, là việc đốt nén hương cắm lên bàn thờ chồng, người đã bỏ bà lẻ loi ngót ba chục năm trời. Bà dướn người lấy hương từ một cái lọ nhỏ. Những que hương run bần bật khi chúng được đốt ở chiếc đèn thấp chân. Chúng đang lần tới, lần tới chỗ có đặt tấm ảnh và cái bát cổ tàn hương lạnh lẽo vắt quanh, nằm chính giữa chiếc kệ lớn. Bỗng chúng hoa lên và bắn tung ra. Chiếc đèn rơi nhào, đánh toang lên nền. Ông bà Hòa Lợi chạy đến. Lũ cháu xúm quanh. Bà cụ được bế vào giường mình, miệng thều thào:
- Do kệ thờ cao quá, chứ mẹ vẫn khỏe kia mà!
Sự thật thì bà lão bị đau ê ẩm các khớp xương, nặng nhất là chỗ thắt lưng đến không ngồi dậy được.
- Mời ngay bác sĩ Châu! - Ông chủ thốt lên - Có khả năng mẹ bị trật khớp lắm.
- Từ từ xem sao - Bà chủ lắc đầu - Chẳng vội gì mà...
Ông chủ quay đi. Lát sau, ông phóng xe ra đường.
Buổi tối, bà lão lên cơn sốt, hồ cháo không vào lọt một hạt. Bà Hòa Lợi bận tính toán với một khách hàng lắm lời tới chuộc đồ, đến khá khuya. Ông chủ về còn trễ hơn. Ông nghe tiếng mẹ rên ư hử định ghé tới, nhưng đôi chân níu lại, nó quịu xuống: ông đã uống quá nhiều rượu! Và tất nhiên, ông cũng không biết rằng, người mẹ có ý dùng tiếng rên để gọi mình. Bởi từ chập choạng tối đến giờ, bà vẫn lặng im, chịu đựng sự hành hạ của những cơn đau, cơ hồ như ai luồn đường chỉ qua xương. Bà lão thèm được uống thuốc, dù đó là chén thuốc bắc đắng như ngải hay những viên tân dược mượt mà. Bà không bộc lộ điều này với nàng dâu, vì biết chỉ vô ích.
Quãng nửa đêm, khi cả nhà chìm vào giấc ngủ, bà lão cố gượng người dậy, nhưng chỗ xương chậu nhức buốt quá, không trở được. Vậy là bà quyết định trườn đi bằng hai tay. Bà thò đầu ra khỏi giường, đôi tay chới với trong không khí. Cách những đầu ngón tay chừng ba mươi phân, là chiếc hộp Tàu...
Sáng hôm sau, vợ chồng ông Hòa Lợi thấy mẹ nằm vắt ngang thành giường, vội ùa lại. Bà lão đã lịm người nhưng hãy còn thoi thóp.
- Hãy cố đến ngày mai, mẹ ơi! - Bà Hòa Lợi nói trong tiếng nấc.
Ông Hòa Lợi đặt lại mẹ ngay ngắn trên giường xong, nói:
- Tôi đi mời bác sĩ đây...
Khi ông từ buồng thay áo ra, người vợ ngăn lại:
- Không kịp nữa rồi, anh ạ!
Bà Hòa Lợi dùng muỗng cạy đôi hàm đã đóng cứng của bà lão, rồi ríu gọi chị ở:
- Chưng gấp hai lát sâm! Nhớ bỏ chút đường phèn!
Sau một hồi hì hục với vành xương quai hàm, cuối cùng, vợ chồng ông chủ hiệu cầm đồ cũng đạt mục đích của mình, đổ được mấy giọt sâm vào họng người ốm.
Những người láng giềng, thân quyến của ông bà Hòa Lợi kéo đến thăm đông hơn. Bàn thờ cầu an được thiết trở lại. Trong những câu trả lời khách quan tâm đến bệnh tình bà cụ, ngoài mấy điểm như các hôm trước, còn thêm hai chi tiết: "Bà đã động thổ và hiện đang cấm khẩu”. Đó là yếu tố báo cái chết cầm chắc. Chỉ có điều, người già cả khác "động thổ" bằng cách thò chân xuống đất, còn bà mẹ của ông Hòa Lợi thì bằng đôi tay của mình. Khoảnh khắc của cái chết đối với con người luôn luôn mang vẻ bí ẩn, diệu kỳ. Nó khiến người đang khỏe sững sờ hay nghi hoặc đến mức không muốn nhắc tới. Chẳng hạn như bà lão đây. Sau vài giờ kể từ phút giọt sâm vào miệng, bà tỉnh lại, miệng nhóp nhép được.
-... Sang ngày mai thì tốt, hợp căn mạng bà; còn đến ngày kia, gặp phải trùng tang - Bà chủ tâm sự với một bà bạn, cố nhấn mạnh câu này để chồng ngồi bàn bên cạnh nghe được.
- Chị nên thỉnh ở chùa cái mền Quan Âm, để Bồ Tát độ cho.
- Vâng, tôi cũng định bụng thế - Bà chủ nói khẽ - Nhưng mền Quan Âm là loại mền mỏng, giá có chục nghìn bạc, tôi còn những năm chiếc cầm chỉ ba nghìn nay đã quá hạn, mà nhà chùa lại đòi đến ba chục nghìn cơ...
- Thầy còn phải tẩm thuốc, làm phép nữa chứ?
- Vậy tội gì mình không đem cái của mình đến để thầy làm phép cho đỡ tốn. Bà bạn phật ý cáo lui.
Để bà lão đi nhằm ngày mong đợi, bà Hòa Lợi nhận công việc túc trực bên giường bệnh. Bà cụ mỗi lần hé mắt trông thấy nàng dâu, là vội vàng khép kín mí lại, hệt cây hổ ngươi gặp phải vật lạ đụng vào. Kể cả việc bà yêu cầu được bít kín lỗ tai, để khỏi phải nghe những tiếng than vãn thở dài của con dâu. Kỳ thật, với bà Hòa Lợi, đây là dấu hiệu mới của cái chết. Lập tức, bà bắn tin này cho mọi người cùng biết.
Chiếc mền Quan Âm được thỉnh về cùng lúc với áo mũ và vải liệm. Bà lão được thay quần áo mới, đắp mền mới - chiếc mền quá hạn chuộc, vừa được ban phép - đội mũ mới, mang đôi bít tất cũng mới! Lát sau, ông Hòa Lợi còn cho khiêng về một cỗ đại quan, đặt ngay chỗ đang dùng làm phòng khách. Tiếng chuông mõ tụng kinh đều đều không dứt...
Bà lão vẫn thoi thóp.
Còn sáu giờ nữa là đến ngày Canh Ngọ. Dù thuốc men, kể cả sâm đều đã ngưng, không cho bà cụ uống từ buổi trưa, mạch hãy còn vượng. Bà Hòa Lợi buông cổ tay mẹ chồng, mặt lộ vẻ lo lắng. Bà khom người xuống đầu giường, nói thầm:
- Trước sau gì mẹ cũng ra đi. Vậy xin ngày mai mẹ hãy lên đường, chớ sang ngày trùng e con cháu...
Bà không nói tiếp được, bởi thoáng thấy bóng chồng xuất hiện, và nữa, nếu bà lão đi nhằm ngày trùng thật, thì quả không biết bao nhiêu là rối rắm. Phần bà lo chồng con bị Trùng vặn cổ, phần phải mời thầy trừ yểm tốn kém vô cùng, phần khác không kém quan trọng, là miệng thế gian nhân đó mai mỉa nghề nghiệp của gia đình. Nghĩ tới đây, bà cảm thấy uất nghẹn, tức tối. Bà ngoảy người bước vào phòng dùng bữa cơm chiều.
Bà lão ngáp, tay chân khẽ động. Chị ở bỗng xuất hiện. Nhanh nhẹn và chính xác, cứ mỗi lần bà lão há miệng ngáp, chị cho ngay vào một muỗng nhỏ chất nước sền sệt, màu hồng nhạt. Đó là chút sâm mà chị thừa cơ hội hoảng hốt của ông bà chủ hồi sáng đã cất để dành. Khi bà chủ gọi, thì tiếng đáp của chị đang ở bếp. Chị vừa quay xuống, để đi ngược trở lại phòng ăn.
Những đợt cầu nguyện, khách khứa nối nhau cho tới nửa đêm, khiến ông bà Hòa Lợi mệt nhoài. Dẫu vậy, nàng dâu vẫn luôn ở cạnh mẹ chồng.
Sáng hôm sau, bà lão hãy còn ngoắc ngoải. Tất cả cảnh cũ được lặp lại ở mức độ chung nhất cho đến gần hết ngày. Ông Hòa Lợi nằm ngủ ngay tại phòng khách, bên cỗ quan tài, đám con đã trèo lên gác, chị ở lặng thinh dưới căn bếp. Bà Hòa Lợi liếc đồng hồ: mười một giờ bốn lăm. Chỉ chốc nữa thôi sẽ hết ngày Canh Ngọ. Sao lại không phải hôm nay, mà đợi tới mai để bao nỗi lo sợ và tiếng thị phi trùm lên gia đình? Mọi người đã chuẩn bị giúp bà cụ ra đi vui vẻ. Vợ chồng ta đã nức tiếng hiếu thảo mọi điều. Vậy mà để ngày mai thì... hỏng hết! Bà Hòa Lợi quỳ xuống, vái mẹ chồng hai vái, nói qua kẽ răng:
- Mẹ ơi! Mẹ đi ngày tốt, nghe mẹ!
Đoạn bà đưa bàn tay lên miệng mũi mẹ chồng, òa lên khóc. Và, khi bàn tay vừa chạm vào lần da của người bệnh, như một tia chớp xẹt qua tâm linh, bà Hòa Lợi kịp rụt lại, thu về...
T.N
(TCSH49/05&6-1992)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.