Chiều ngày 23 Tết, nhà nào cũng làm cỗ cúng và đốt pháo giòn giã tiễn đưa ông Táo! Có lẽ không có ai trên đời và cả trong huyền thoại lại được sự đưa tiễn long trọng và đồng loạt khắp thần dân đến vậy trước một chuyến "đi công tác định kỳ" hàng năm như ông Táo!
Vậy Táo quân là ai? Xin lượm lặt đôi điều hầu bạn đọc ngày Tết.
Người Trung Quốc gọi Táo quân là thần Táo. Người xưa tạo ra lửa rất khó, nên có nơi phải giữ lửa quanh năm suốt tháng không cho tắt. Họ xem lửa là một thần vật. Lửa mang đến cho mọi nhà ánh sáng, cuộc sinh tồn và ấm áp nên họ cảm kích thờ phụng. Họ vẽ ra một vị thần Táo tưởng tượng để thờ. Đó là ý kiến của một nhà nghiên cứu văn hóa ở Đài Loan, khi tìm hiểu về huyền thoại Táo quân.
Theo Đào Trung Ẩn: "Sách Chu Lễ chép Ông Táo tên là Chúc Dung, một hiền nhân Trung Quốc cổ đại. Còn sách Hoài Nam Tử thì cho rằng ông ta chính là vua Hoàng Đế, một trong năm Ngũ Đế thời cổ Trung Quốc, có công khai sáng việc thuốc men và nấu nướng! Sách Ngũ Kinh dị nghĩa thì lại chép ông Táo tên là Tô Cát Lợi. Còn theo sách Giá Dương Tạp Tử thì ông tên là Ổi và có dáng xinh đẹp như thiếu nữ"! Còn trong dân gian Việt Nam có lưu truyền câu chuyện tình rất cảm động về nguồn gốc Táo quân. Chuyện rằng có đôi vợ chồng quá nghèo khổ, gặp nạn phải ly tán mỗi người một nơi, người vợ tìm chồng mãi không được đành đi lấy chồng khác, đời sống lúc này khá hơn. Một hôm có người ăn mày đến nhà xin ăn. Người vợ nhận ra chồng cũ, toan kêu lên, nhưng lại sợ người chồng mới, đành cho ăn no và bảo ra đống rơm mà ngủ! Người chồng cũ sau quãng thời gian lang thang đi ăn xin để tìm vợ, nhận ra vợ mình, nhưng ngại người chồng mới nên đành chấp nhận ngủ trong đống rơm để được "một đêm gần vợ". Người chồng mới đi săn được con thú về, đốt đống rơm để thui. Rơm cháy, nóng bỏng thân thể, nhưng người chồng cũ vẫn cam chịu chết cháy vì sợ chui ra sẽ làm người vợ khó xử. Người vợ thấy vậy đau lòng quá nhảy vào đống lửa cứu, nhưng bị chết theo! Người chồng mới không hiểu sự việc ra sao, thấy vợ chết thê thảm quá, thất vọng nhảy vào lửa cũng chết. Hôm ba người lên tới Trời, Ngọc Hoàng cảm phục tình chồng nghĩa vợ của họ, bèn phong cho làm Táo Quân, coi sóc việc dương gian. Mỗi năm một lần lên trình báo với Trời. Có lẽ đầu rau có 3 ông là vì thế!
Trong quan niệm của dân gian, Táo quân là người đạo đức, công tâm chính trực, có thể thông đạt tới trời. Nên vào dịp cuối năm người ta thường thấy Táo quân làm sớ tâu việc xấu tốt ở trần thế một cách trung thực để đèn trời soi xét. Báo Tết nào cũng in "Sớ Táo quân" là vì thế. Người Việt còn có tục xin ông Táo làm bố nuôi con trai mới đẻ cho đến năm mười tuổi. Ở các hàng quán, chợ Tết ở nước ta từ xưa tới nay có tục bán đồ hàng mã như mũ áo Táo ông, ba ông đầu rau bằng đất v.v... Những mặt hàng này có sức tiêu thụ rất lớn. Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam đều có nhiều bài thơ nói về Táo quân. Chuyện rằng, vào đời Tống (Trung Quốc), Lã Mông Chính thi đỗ tú tài nhưng cảnh nhà rất nghèo, vẫn quyết chí học để thi tiến sĩ. Ngày đưa ông Táo về Trời, Lã không còn đồng tiền nào! Lã đến hàng thịt với ý định mua chịu vài lạng thịt về cúng ông Táo. Anh chủ hàng thịt đi vắng, chị vợ ở nhà nghe chuyện Lã, động lòng bán thịt, cho nợ. Nào ngờ giữa lúc vợ chồng Lã đang luộc thịt cúng, anh hàng thịt xồng xộc vào nhà, thản nhiên vớt miếng thịt trong nồi mang về, vì cho rằng Lã khó mà trả được nợ. Bị khinh rẻ, Lã ngậm ngùi "cúng" ông Táo một bài thơ.
Có người dịch như sau:
Một tô nước thịt một cây nhang
Mông Chính vợ chồng luống thở than
Phận mọn khoa này nếu chẳng trúng
Khoa sau Mộng Chính ắt không còn!
Nhờ ông Táo tốt bụng "phò trợ" khoa đó Lã thi đỗ tiến sỹ, làm đến tể tướng, tước Hứa quốc công.
Ở Việt Nam cũng có chuyện tương tự: Có anh học trò nghèo, ngày 23 tháng chạp không có gì cúng ông Táo. Anh ta bèn thành tâm lấy một thanh củi đang đỏ lửa và một chén nước lã đặt lên bàn thờ mà khấn rằng: "Một chén nước, một thanh củi, tiễn đưa Táo quân về trời. Ngọc hoàng có hỏi về chuyện nhân gian xin hãy đáp: Vạn sự dưới này chỉ vì tiền!!" (bản dịch nghĩa).
Thế mới biết ông Táo là người có phẩm hạnh, không phải loại người "hễ thấy hơi đồng là mê". Một chén nước luộc thịt, một nén nhang, thậm chí một que củi, bát nước lã cũng cúng được Táo quân và nhờ ông giúp được những việc tày đình! Có lẽ vì sự "trong sạch", "vì nhân dân phục vụ" như vậy mà bao đời nay Táo quân được trọng vọng tin tưởng đến thế chăng?
Tiếc thay trong thơ trào phúng ông Táo bị biến thành ông "quan liêu” chuyên ăn "hối lộ", và "báo cáo gian” với nhà Trời nhiều sự việc ngang trái ở trần gian!
Bài "Thách ông Táo" của Nguyễn Quang Diệu trách Táo quân "Quê hương đất khách ai buồn mặc. Rượu vía, chi rằm cụ sướng thôi. Sao việc lưu hương mong cậy tớ - Mà cơn gió bụi chẳng tâu Trời"!
Một nhà thơ khuyết danh còn đay nghiến khinh bỉ Táo quân hơn:
Cục đất ngày xưa nó thế nào?
Nay làm ông Táo chức quyền cao!
Khéo đem mặt lọ vênh vang thế
Chẳng hổ lưng khom khúm núm sao!
Ngày những giữ nồi cho ông chủ
Quanh năm kiếm chuyện mách Thiên Tào
Một mai đất lại thành ra đất
Cái đáy chõ xôi đáng giá bao?
"Thơ châm" đến thế mà ông Táo chẳng nổi giận lôi đình mà "trù dập" làm tắt lửa nhà nào cả! Có lẽ vì ông biết tỏng tòng tong các nhà thơ "mượn" ông để nói bọn cường quyền, bọn hối lộ, tham nhũng, nói láo... đang mỗi ngày nhiều đông hơn ở dương gian chăng???...
N.M.T
(TCSH60/02-1994)
Tải mã QRCode
TRIỀU NGUYÊN Từ ngữ cùng nghĩa là những từ ngữ gần nhau về ý nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh. Có ba kiểu cùng nghĩa trong tiếng Việt, là cùng nghĩa giữa từ ngữ thuần Việt (TV) với từ ngữ thuần Việt, cùng nghĩa giữa từ ngữ thuần Việt với từ ngữ Hán Việt (HV), và cùng nghĩa giữa từ ngữ Hán Việt với từ ngữ Hán Việt. Câu đối chơi chữ theo cách cùng nghĩa, có hai hình thức: tạo các từ ngữ cùng nghĩa xuất hiện trên cùng một văn bản ngắn; và cách cùng nghĩa có kết hợp với các hình thức chơi chữ khác.
PHAN TRỌNG HOÀCó thể khảo sát nghĩa của tục ngữ từ góc độ văn bản hoặc góc độ ứng dụng. Ở nước ta, việc nghiên cứu nghĩa của tục ngữ trong quá trình sử dụng không phải là một vấn đề mới mẻ, nhưng so với xu hướng này thì việc nghiên cứu nghĩa của tục ngữ ở trạng thái ổn định trên văn bản đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Thật khó khẳng định rằng trong hai cách xem xét trên thì cách nào là quan trọng hơn, vì nó không chỉ phụ thuộc vào đặc trưng thể loại của đối tượng được nghiên cứu mà nhiều khi còn tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu của từng loại đề tài và nói chung là tuỳ thuộc vào nhu cầu của hoạt động thực tiễn. Điều đáng lưu tâm là ở chỗ, khi mình đã lựa chọn hướng tiếp cận này thì đừng vì thế mà phủ nhận hướng tiếp cận kia.
TRẦN ANH PHƯƠNGĐi chơi gặp vịt cũng lùagặp duyên cũng kết gặp chùa cũng tu (Ca dao)
VIỆT CHUNGTrong 12 con giáp, con dê (Mùi còn gọi là Vị) là con vật đứng vào hàng thứ 8, trước khỉ và sau ngựa. Dê tên chữ là Dương.Dê vốn là con vật miền núi, được thuần hoá nên có thể nuôi trong nhà. Hình ảnh con dê gây được những ấn tượng với người đời một cách khó quên. Đặc biệt của loài dê là dê đực hoặc dê cái đều có râu và có sừng, bản chất hiền lành và tràn đầy sinh lực.
TRIỀU NGUYÊNHiện tượng cùng âm xảy ra khi cùng một tổ hợp âm thanh nhưng có nhiều ý nghĩa khác nhau tương ứng, trong cùng một ngữ cảnh. Câu đối chơi chữ theo cách cùng âm có thể chia làm hai loại: lặp nhiều từ ngữ cùng âm trên cùng một văn bản ngắn; dùng một tổ hợp để biểu thị hai từ ngữ cùng âm; đồng thời, dạng cùng âm có yếu tố tên riêng cũng được xét như một loại đặc biệt.
PHẠM THỊ ANH NGATheo quan niệm thông thường, phép lịch sự bao giờ cũng có tính ưu đãi đối với tha nhân: dành cho kẻ khác một tầm quan trọng và thái độ trân trọng hơn là đối với chính bản thân. Nhưng cũng tuỳ từng nền văn hoá, mà giữa hai bên tương tác có sự cân bằng tương đối về vai vế hay không. C. Kerbrat-Orecchioni phân biệt: (1) Những xã hội ở đó quyền lợi giữa hai bên giao tiếp tương đối ngang nhau; (2) Những xã hội xem đối tượng tương tác (A: allocutaire) có được nhiều quyền ưu tiên hơn bản thân người tương tác (L : locuteur).
TRIỀU NGUYÊN1. Câu tục ngữ "Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại" được sách Kho tàng tục ngữ người Việt (Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), Nguyễn Thuý Loan, Phan Lan Hương, Nguyễn Luân; Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2002) (KT), tr 75, ghi lại, trên cơ sở 12 đầu sách có chép nó.
NGUYỄN ĐỨC TĂNGCũng như ca dao, những câu hò trong dân gian thuộc loại văn chương bình dân nên rất phổ cập trong dân chúng. Tác giả của nó có thể là những nhà thơ dân gian, thường không lưu lại tên tuổi như những nhà thơ của văn học thành văn, nhưng cũng đóng góp đời mình vào sự phát triển của ngôn ngữ thơ ca trong lãnh vực văn chương bình dân.
TÔ VĨNH HÀNhỏ nhất như con chuột và kiêu dũng nhất như con rồng, mười hai con giáp trong lịch can - chi vẫn mãi thôi thúc lẽ nghĩ suy của muôn vạn kiếp đời trong cái nghiệp tận hằng của sự hiểu và cả “sự” làm người.
TRẦN ĐÌNH SỬNgười mù đều rất đôngTranh nhau nói sự thậtVoi vốn chỉ một thânThị phi lại bất đồng…
TRIỀU NGUYÊNI. Khái quátXem xét cách sử dụng hình ảnh của một thể loại văn học là yêu cầu cần có khi tiếp cận thể loại ấy. Tình hình nghiên cứu thể loại câu đố có nhiều hạn chế so với các thể loại khác của văn học dân gian, trong đó, có vấn đề hình ảnh.
TRIỀU NGUYÊN
TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONGCho đến nay, đã có các công trình sưu tầm và biên soạn truyện cổ Tà Ôi khá đầy đặn về văn bản. Qua các công trình nầy chúng ta thấy rằng người Tà Ôi sinh sống trên dãy Trường Sơn, quần cư chủ yếu trên địa bàn hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế đang lưu giữ một kho tàng tri thức phong phú về văn học dân gian mà trong đó thể loại An xoar (chuyện cổ tích) là một thí dụ điển hình.
TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONGNgười Tà Ôi ở Việt Nam thật sự đã có một kho tàng văn học dân gian rất phong phú với các thể loại: Ca dao (Pracăm), câu đố (Pralau), truyện cổ dân gian (Axoar), tục ngữ và dân ca.
TRIỀU NGUYÊN Chùm Truyện ngụ ngôn
HẢI TRUNGVào thời Hán, ở Trung Quốc, có một vị tướng tên là Đậu Thao, do phạm trọng tội nên bị vua Hán đày biệt xứ ra biên ải. Vợ của tướng quân này là Tô Huệ là một phụ nữ bình dân sống bằng nghề dệt lụa. Từ ngày Đậu Thao bị đày ra biên ải, ngày đêm vò võ ngóng tin chồng, nhưng ngày tháng cứ nối nhau qua mãi mà vẫn biệt âm vô tín.
TRIỀU NGUYÊN 1.Trong cấu tạo nhan đề của thơ văn Hán Nôm, ở dạng danh ngữ, có hai hình thức thường gặp: danh từ trung tâm biểu thị thể loại (như: Hịch tướng sĩ văn - Trần Quốc Tuấn, Ngọc tỉnh liên phú - Mạc Đỉnh Chi, Thượng kinh kí sự - Lê Hữu Trác, Hoàng Lê nhất thống chí - Ngô Gia văn phái, Hạ Châu tạp thi - Cao Bá Quát,...).
TRIỀU NGUYÊN(tiếp theo)