Nét văn hóa Việt Nam qua câu thơ quốc âm 6 tiếng của Nguyễn Trãi

16:26 02/06/2008
"Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động" (Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trường ĐHTH TP.HCM, 1995, trang 19).

Sáng tạo văn chương là một thành phần của phạm trù văn hóa. Nền văn học cổ điển Việt đã có rất nhiều tác phẩm xứng danh với niềm tự hào về một dân tộc có văn hiến. Từ bài thơ thần của Lý Thường Kiệt, đến Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, đến Truyện Kiều của Nguyễn Du... là cả một niềm tự hào lớn lao của dân tộc ta. Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi được xem là áng "thiên cổ hùng văn", Truyện Kiều của Nguyễn Du được xem là kiệt tác văn chương... và tập thơ "Quốc âm thi tập" (QATT) của Nguyễn Trãi cũng được người đời đánh giá là có giá trị mở màn, đột phá trong lòng dân tộc về ý thức dùng tiếng mẹ đẻ (chữ Nôm) trong sáng tác văn chương, về thi pháp của cái hàng ngày và thi pháp thể loại.
Ý thức dân tộc là ý thức thường trực trong lòng mỗi người dân Việt , bởi vì nước ta luôn bị sự đe dọa đồng hóa dân tộc của phong kiến phương Bắc, thì chỉ có ý thức dân tộc mới giữ được bản sắc văn hóa dân tộc mình. Việt từng vay mượn chữ Hán, nhưng lại sáng tạo ra chữ Nôm. Việt cũng từng chịu ảnh hưởng của văn hóa Hoa Hạ, nhưng lại tiếp biến nó trên tinh thần dân tộc. Phạm Đình Hổ trong "Vũ trung tùy bút" cũng đánh giá về âm nhạc Việt Nam: "Tuy nhạc của ta cũng có tiếng cao, tiếng thấp, tiếng đục, tiếng trong, ra vào chuyển hợp, đủ cả năm cung bảy thanh, nhưng thuật đổi thay cung bậc, biến hóa tài tình từ điệu này sang điệu khác, thì hoàn toàn không giống bên Trung Quốc". Xem thế, thì đủ biết rằng, người Việt rất có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Họ ý thức "Hảo bả văn chương tăng quốc thể" (Phải giỏi lấy văn chương để nâng cao quốc thể - Lời của Lê Quý Đôn tiễn thám hoa Nguyễn Đình Oánh đi sứ).
Ý thức dân tộc hóa văn chương, nhân dân hóa thơ ca là ý thức về quốc thể, là vũ khí sắc bén đánh tan những luận điệu sỉ nhục của bọn đế quốc phương Bắc. Cao Hùng Trưng dám ngạo mạn ghi trong cuốn An Nam chí rằng: "nước Nam từ khi có Giải Tấn dạy bảo cho, mới biết xu thế về văn chương". Kẻ nói câu đó, chắc chắn thuộc hạng người "ếch ngồi đáy giếng". Bởi vì, văn học viết Việt tuy ra đời muộn (thế kỷ X), nhưng văn học truyền miệng đã có từ rất sớm. Và do trình độ phát triển của dân tộc không đều nhau, do truyền thống văn hóa của mỗi nước một khác, cho nên sự vay mượn thi luật ở Việt Nam với Trung Hoa là có, nhưng không có nghĩa là vay mượn nguyên xi, mà người Việt luôn tiếp biến tinh hoa văn hóa nước ngoài trên cơ sở tính dân tộc. "Tính dân tộc của loại thể không những biểu hiện ở những loại thể riêng biệt của từng dân tộc, mà còn thể hiện ở những đặc điểm khác nhau của một số thể loại gần gũi". (Phương Lựu, Tìm hiểu một nguyên lý văn chương, Nxb HKXH, HN, 1983, trang 177).
Trên tinh thần đó, chúng tôi thấy với 185 bài có xen câu thơ lục ngôn trên tổng số 254 bài trong tập thơ QATT là một bằng chứng hùng hồn về ý thức dân tộc của Nguyễn Trãi trong sáng tác thơ ca. Một con người vốn dĩ "Bình sinh độc bão tiên ưu chí" (bình sinh có chí lo trước), vốn dĩ rất ý thức về văn hóa đất nước (Duy ngã Đại Việt chi quốc, Thực vi văn hiến chi bang...), chắc chắn muốn góp phần mình trong việc dân tộc hóa một thể thơ ngoại lai, dù không thay đổi được nhiều thì chí ít cũng cấu trúc lại đôi chút hình hài để phả vào đó cái hồn vía Việt Nam.
Tại sao Nguyễn Trãi không phá cách trong 99 bài thơ chữ Hán (chỉ có 2 bài theo thể cổ thể - bài 48 và bài 87), mà phá cách vào trong 254 bài thơ chữ Nôm? Phải chăng, đã sáng tác bằng chữ Nôm - ngôn ngữ dân tộc, tác giả cũng muốn rộng đường trong tư duy, nên đã tạo nên biến thể bằng việc xen vào câu lục ngôn.
Xét đến hiện tượng câu lục ngôn trong QATT, chúng ta cũng không thể bỏ qua khái niệm: tính lịch sử của văn hóa. Bởi đặc tính này tạo cho văn hóa có bề dày, có chiều sâu, và chính nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị. Văn hóa còn có giá trị tiếp nối, nên chúng ta không xét câu lục ngôn trong QATT như là giá trị tự thân, mà xét nó trong mối quan hệ trước nó và sau nó.
Hiện tượng thơ lục ngôn có từ thời tiên Tần, lưỡng Hán (Trung Quốc), có trong văn học Triều Tiên, có trong thi ca của văn học truyền miệng Việt Nam (thơ lục bát, tục ngữ)... Trong thơ chữ Hán thời Lí – Trần, chúng tôi khảo sát, tổng cộng có 18 câu lục ngôn trong ba bài: Ở bài "Sinh tử" của Nguyễn Tuân (?-thời Lý) có 12 câu, 1 câu 6 chữ. Hai câu mở đầu trong bài "Phật tâm ca" của Trần Tung (1230 – 1291). Và một bài thơ lục ngôn 4 câu "Nhàn cư lục ngôn đề thủy mặc tướng tử tiêu cảnh" (Nhân lúc rỗi, dùng thơ 6 chữ đề vào bức tranh nhỏ) của Phạm Mại. Những sáng tác sau QATT, qua khảo sát, chúng tôi cũng thấy rằng: "Hồng Đức quốc âm thi tập" (Theo Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X-XVII, Tập II, Nxb VH, HN, 1976) có 16/24 bài có xen câu lục ngôn (tỷ lệ 66,5%), "Bạch Vân quốc ngữ thi tập" (tập thơ này có một số bài trùng với QATT, thì có 85/161 bài có xen câu thơ 6 tiếng (tỷ lệ 52,8%), 185 câu lục / 1288 câu (tỷ lệ 14,4%).
Như vậy, việc xen vào 432 câu lục ngôn trong 1380 câu của 185 bài (gồm 160 bài theo thể thất ngôn bát cú và 25 bài theo thể thất ngôn tứ tuyệt) là một việc làm có ý thức của Nguyễn Trãi. Phải chăng QATT muốn đi theo hướng kiệm lời – "Thơ phải được ý ở ngoài lời. Trong thơ hàm súc vô cùng thì mới là tôn chỉ của người làm thơ, cho nên ý thừa hơn lời thì tuy cạn mà vẫn sâu, lời thừa hơn ý thì tuy công phu mà vẫn vụng. Còn như ý hết mà lời cũng hết thì không đáng là người làm thơ vậy" (Ngô Lôi Pháp); muốn học tập cổ thi, và đặc biệt muốn vận dụng câu thơ dân gian vào trong câu thơ viết để góp phần bảo tồn nét văn hóa dân tộc? Việc sử dụng câu lục ngôn vào bài thơ với một tần số lớn như thế (72,8%), chứng tỏ rằng "Chỉ có khi nào anh hiểu luật thì anh mới có thể tự cho phép mình có ngoại lệ hoặc phát triển luật mới" (Johames Robert Becher).
Có giả thiết cho rằng: câu lục ngôn có khả năng do biến âm tiếng Việt cổ mà chuyển thành; kl, t'l/tr, tl, bl/s, km/m... (theo Trần Xuân Ngọc Lan – Dấu vết về tổ hợp âm đầu trên chữ Nôm, TCNN, số 3/1984, bl/tr (theo Bùi Văn Nguyên)...
Hiện tượng âm dính nay vẫn còn rớt lại trong cách phát âm của một ít người già ở vài địa bàn nhỏ hẹp vùng sâu vùng xa (như một vài nơi ở huyện Tuyên Hoá – Quảng Bình còn nói cây t'le – cây tre, con t'lâu – con trâu).
Âm dính, biến âm là một thực tế có trong tiếng Việt cổ, nếu có chứng tích trên chữ Nôm thì có thể có ảnh hưởng đến câu văn, câu thơ. Tuy nhiên, điều đó đã ảnh hưởng thế nào đến cơ số câu thơ QATT thì đến nay vẫn chưa có một công trình nào khảo cứu trực tiếp, giải quyết thấu đáo.
Chúng tôi xin đưa ra một số ví dụ về câu thơ hội đủ 7 tiếng trong QATT lại mang trong nó ít nhất là một tiếng có phụ âm đầu là âm dính:
Ví dụ 1:           "Thế sự người no ổi tiết bảy,
Nhân tình ai ủ cúc mồng mười" (Bài 22)
Ví dụ 2:           "Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc,
Nước chảy âu khôn xiết bóng non" (Bài 49)
Ví dụ 3:           "Trư  độc, trư  tham, trư  bạo ngược
Có nhân, có trí, có anh hùng" (Bài 132)
Ví dụ 4:           "Chớ người trọc trọc chớ ta thanh
Lấy phải thì trung đạo ở kinh" (bài 156)...
Trong 4 ví dụ nêu ra ở trên, những tiếng in nghiêng đều là những tiếng có phụ âm đầu là âm dính (m,s,tr...) Vậy, sẽ giải thích như thế nào cho thỏa đáng hiện tượng câu thơ QATT vừa đủ 7 tiếng, vừa có một số tiếng mang trong mình nó phụ âm đầu là âm dính của tiếng Việt cổ (?). Mặt khác, các công trình khảo cứu chỉ mới tìm ra một số tiếng Việt cổ có phụ âm đầu là âm dính, trong lúc tiếng Việt có đến 17 phụ âm đầu.
Tiếng Việt cổ đã trưởng thành dần qua thời gian và qua giao tiếp của cộng đồng người Việt. Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Đại La. Đến thời Nguyễn Trãi, Thăng Long đã trải qua 4 thế kỷ con người của 4 phương 8 hướng tụ hội về. Lẽ đương nhiên, do nhu cầu giao tiếp, tiêu chuẩn, trước nhất là phải ăn nói cho tròn vành rõ tiếng, ngôn ngữ chốn đế đô sẽ loại bỏ dần những yếu tố khó nghe, khó nói, khó viết... Nguyễn Trãi là người ý thức rất rõ về nền văn hiến Đại Việt, hẳn là ông sẽ rất thận trọng trong việc dùng chữ, đặt câu sao cho vừa bảo tồn vừa làm giàu lên nét văn hóa truyền thống.
Hơn nữa, đưa câu thơ lục ngôn vào thơ thất ngôn, Nguyễn Trãi còn đưa luôn vào câu thơ ấy sự cải biên nhịp thơ. Nhịp cố hữu của thơ thất ngôn Đường thi là nhịp chẵn lẻ 4/3 hoặc 2/2/3. Nhịp chẵn lẻ là nhịp âm dương được kết hợp với cơ số 7 tiếng, cơ số 7 vốn là một vòng số màu nhiệm ứng với nhiều chuyện ở đời. Câu thơ 7 tiếng vững chãi, cố định, quen thuộc trong thi pháp cổ điển, câu thơ 7 tiếng có ưu thế ngoại đối trong vị trí các cặp câu đối xứng, nhưng lại hạn chế trong phép nội đối, bởi số âm tiết lẻ. QATT vẫn lấy nhịp chẵn / lẻ làm nền: Nhịp 4/3: 1304/1408 câu, nhịp 2/2/3: 11/1408 câu, tổng cộng 1315/1408 câu (tỷ lệ 93%).
Nhưng, trong số 432 câu lục ngôn có các dạng nhịp cơ bản sau đây: nhịp 2/2/2 có 156 câu (tỷ lệ 36/1%), nhịp 3/3 có 246 câu (tỷ lệ 59,3%), nhịp 2/4 có 19 câu (tỷ lệ 4,4%),  nhịp 4/2 (tỷ lệ 1,4%) nhịp 1/5 có 5 câu (tỷ lệ 1,2%).
Nhịp 3/3 thiết lập trên cơ sở mã đối xứng của thi ca nói chung, của thành ngữ, tục ngữ dân gian nói riêng. Khi mã đối xứng xuất hiện thì tạo ra quan hệ và nảy sinh tư duy. Thơ Đường hay bởi lẽ nó tạo ra quan hệ, gợi mở tư duy. Nhịp thơ 3/3 làm nhịp câu thơ chậm lại, cân đối, hài hòa, có sức khái quát cao, có tính triết lý sâu sắc. Tính chất hoàn chỉnh cân đối của các câu lục đưa đến cho các nhịp đôi của câu thơ cái vẻ trọn vẹn của một tư tưởng gẫy gọn, rất thích hợp để khẳng định một sự thực của lí trí hay của tâm trạng. Câu lục có nhịp 3/3 sử dụng phép đối thì ý tưởng càng rõ, lúc này tận dụng được cả phép nội đối lẫn phép ngoại đối (ưu thế hơn so với câu thơ 7 chữ). Ví dụ: "Đại địa dày/ Nam nhạc khỏe, Cửu tiêu vắng/Bắc thần cao" (Bài 66), hai câu thơ này đã được Hoài Thanh bình luận: "Một lần nữa ta lại gặp những câu thơ sáu chữ và lần này những câu thơ ấy, với nhịp điệu ấy, đã tăng thêm rất nhiều chất rắn rỏi, đanh thép, chất khỏe của ý thơ: đất càng dày núi càng khỏe, chín tầng trời càng vắng, sao Bắc thần càng cao". Cho nên, trong QATT câu lục loại nhịp 3/3 nằm rất nhiều vị trí: ở dòng 1, ở dòng kết, hoặc ở liên 2, liên 3 của bài thơ – tạo cảm giác mạnh về nội dung biểu đạt. Ví dụ:"Ngỏ cửa nho / chờ khách đến, Trồng cây đức/ để con ăn" (bài 27), hay "Đạp áng mây/ôm bó củi, Ngồi bên suối / gác cần câu" (Bài 41), "Mài chăng khuyết / nhuộm chăng đen" (Bài 69)...
Mã đối xứng không phải là đặc điểm riêng của ngôn ngữ văn học Việt Nam, nhưng lúc cắt bớt một tiếng của câu thơ thất ngôn, đưa vào đó nhjp 3/3 cân xứng, Nguyễn Trãi đã vận dụng thế mạnh của nhịp 3/3 trong câu thơ dân gian để tạo nên câu thơ lục ngôn đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Loại nhịp này, trong quốc âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chiếm một tỷ lệ là 62,7% (116/185 câu), Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có đến 80/1627 câu lục có nhịp 3/3 (tỷ lệ 4,9%).
Thơ ca không chỉ có tự sự, mà còn miêu tả, biểu hiện, nên việc sử dụng câu lục ngôn – câu thơ đã có trong tục ngữ, ca dao của văn chương Việt Nam để đưa vào đó các loại nhịp 3/3, 2/2/2, 2/4, 4/2, 1/5 thì vấn đề không chỉ là ý thức dân tộc nữa, mà cái chính là từ nghệ thuật, từ mục đích của nghệ thuật. Mỗi khi câu thơ vừa cố ý kiệm lời, vừa cố ý thay đổi nhịp điệu, thì chắc chắn ở đó có dụng ý nghệ thuật của nhà thơ (trường hợp câu thơ mở đầu và kết thúc trong bài "thủ vĩ ngâm" là một ví dụ: "Góc thành Nam, lều một gian" – câu thơ nhắc lại hai lần, với nhịp 3/3, với phép đối xứng đã nhấn mạnh tình thế oái oăm, tù hãm của nhà thơ trong tình thế "góc", "lều"). Như vậy bản sắc dân tộc không phải là sự gượng ép, mà bắt đầu từ nghệ thuật. Văn hiến bắt nguồn từ nghệ thuật thì nền văn hiến đó càng trường tồn. Thế giới có những giá trị văn hóa mãi mãi tồn tại với thời gian. Ai xóa được thần thoại Hy Lạp, ai xóa được I-li-át và Ôđixê, ai quên được Truyện Kiều của Nguyễn Du...
Sử dụng câu thơ 6 tiếng, là đã phạm vào niêm của bài thơ, một ngòi bút xuất sắc như Nguyễn Trãi lẽ nào không biết điều đó? Biết mà vẫn cố ý phạm luật, vậy có thể xem đây là thể nghiệm của Nguyễn Trãi, và thể nghiệm này có thể xem là thành công ở phương diện khai phá, vượt lên lối mòn quen thuộc, vượt lên sự lệ thuộc vào một thể thơ ngoại lai, tác phẩm nghệ thuật có giá trị, trước khi trở thành của chung của nhân loại, là sản phẩm riêng biệt của con người riêng biệt. Con người đó để lại "dấu ấn" trong con đẻ của mình. Việc vận dụng các loại nhịp đa dạng trong câu lục đều nhằm mục đích phát huy hết khả năng biểu hiện nội dung của nó. "Thơ lục ngôn thể hiện nỗ lực của tác giả trên con đường tìm tòi một thể thơ dân tộc ít nhiều thoát đi Đường luật trong khi vẫn giữ phong cách chung của thơ Đường luật. Thơ Đường luật có pha lục ngôn sẽ ít thấy từ thế kỷ XVIII trở đi, vì khi ấy thể thơ yêu vận như song thất lục bát và lục bát đã đủ thành thục để đáp ứng một cách thích hợp với cảm quan về âm điệu của người Việt cũng như yêu cầu phản ánh của thơ ca Việt".
Sử dụng được câu lục ngôn ở rất nhiều vị trí trong bài thơ, với nhịp điệu hết sức đa dạng, biến ảo, chứng tỏ người sử dụng nó thành thạo trong thi pháp của mình. Việc xen câu lục ngôn vào trong bài thơ là thành công của Nguyễn Trãi trên phương diện nghệ thuật, phương diện thể loại, phương diện tinh thần. "Cái gì đã tới Việt thì cũng Việt hóa như thế nào đó và sẽ xứng đáng là con cháu Việt " (Tố Hữu, Nghiên cứu nghệ thuật số 1- 1981, trang 7).

HOÀNG THỊ THU THỦY
(nguồn: TCSH số 152 - 10 - 2001)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHẠM PHÚ PHONGTri thức được coi thực sự là tri thức khi đó là kết quả của sự suy nghĩ tìm tòi, chứ không phải là trí nhớ.                       L.Tonstoi

  • TRẦN THANH HÀTrong giới học thuật, Trương Đăng Dung được biết đến như một người làm lý luận thuần tuý. Bằng lao động âm thầm, cần mẫn Trương Đăng Dung đã đóng góp cho nền lý luận văn học hiện đại Việt đổi mới và bắt kịp nền lý luận văn học trên thế giới.

  • PHẠM XUÂN PHỤNG Chu Dịch có 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào. Riêng hai quẻ Bát Thuần Càn và Bát Thuần Khôn, mỗi quẻ có thêm một hào.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNPhan Đăng Dư, thân phụ nhà cách mạng Phan Đăng Lưu là người họ Mạc, gốc Hải Dương. Đời Mạc Mậu Giang, con vua Mạc Phúc Nguyên lánh nạn vào Tràng Thành (nay là Hoa Thành, Yên Thành, Nghệ An) sinh cơ lập nghiệp ở đó, Phan Đăng Dư là hậu duệ đời thứ 14.

  • HỒ THẾ HÀLTS: Văn học Việt về đề tài chiến tranh là chủ đề của cuộc Toạ đàm văn học do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức ngày 20 tháng 12 năm 2005. Tuy tự giới hạn ở tính chất và phạm vi hẹp, nhưng Toạ đàm đã thu hút đông đảo giới văn nghệ sĩ, nhà giáo, trí thức ở Huế tham gia, đặc biệt là những nhà văn từng mặc áo lính ở chiến trường. Gần 20 tham luận gửi đến và hơn 10 ý kiến thảo luận, phát biểu trực tiếp ở Toạ đàm đã làm cho không khí học thuật và những vấn đề thực tiễn của sáng tạo văn học về đề tài chiến tranh trở nên cấp thiết và có ý nghĩa. Sông Hương trân trọng giới thiệu bài Tổng lược và 02 bài Tham luận đã trình bày ở cuộc Toạ đàm.

  • TRẦN HUYỀN SÂM1. Tại diễn đàn Nobel năm 2005, Harold Pinter đã dành gần trọn bài viết của mình cho vấn đề chiến tranh. Ông cho rằng, nghĩa vụ hàng đầu của một nghệ sĩ chân chính là góp phần làm rõ sự thật về chiến tranh: “Cái nghĩa vụ công dân cốt yếu nhất mà tất cả chúng ta đều phải thi hành là... quyết tâm dũng mãnh để xác định cho được sự thật thực tại...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG"HỘI CHỨNG VIỆT NAM"Trong lịch sử chiến tranh Mỹ, thì chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh mà người Mỹ bị sa lầy lâu nhất (1954-1975), và đã để lại những hậu quả nặng nề cho nước Mỹ. Hậu quả đó không chỉ là sự thất bại trong cuộc chiến, mà còn ở những di chứng kéo dài làm ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống Mỹ, mà người Mỹ gọi đó là "Hội chứng Việt Nam".

  • BÍCH THUNăm 2005, GS. Phong Lê vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học với cụm công trình: Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu (Nxb ĐHQG, H, 2001, 540 trang); Một số gương mặt văn chương - học thuật Việt hiện đại (Nxb GD, H, 2001, 450 trang); Văn học Việt hiện đại - lịch sử và lý luận (Nxb KHXH. H, 2003, 780 trang). Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học say mê, tâm huyết và cũng đầy khổ công, vất vả của một người sống tận tụy với nghề.

  • THÁI DOÃN HIỂU Trong hôn nhân, đàn bà lấy chồng là để vào đời, còn đàn ông cưới vợ là để thoát ra khỏi cuộc đời. Hôn nhân tốt đẹp tạo nên hạnh phúc thiên đường, còn hôn nhân trắc trở, đổ vỡ, gia đình thành bãi chiến trường. Tình yêu chân chính thanh hóa những tâm hồn hư hỏng và tình yêu xấu làm hư hỏng những linh hồn trinh trắng.

  • NGUYỄN THỊ MỸ LỘCLà người biết yêu và có chút văn hóa không ai không biết Romeo and Juliet của Shakespeare, vở kịch được sáng tác cách ngày nay vừa tròn 410 năm (1595 - 2005). Ngót bốn thế kỷ nay Romeo and Juliet được coi là biểu tượng của tình yêu. Ý nghĩa xã hội của tác phẩm đã được thừa nhận, giá trị thẩm mĩ đã được khám phá, hiệu ứng bi kịch đã được nghiền ngẫm... Liệu còn có gì để khám phá?

  • NGUYỄN VĂN HẠNH1. Từ nhiều năm nay, và bây giờ cũng vậy, chúng ta chủ trương xây dựng một nền văn nghệ mới ngang tầm thời đại, xứng đáng với tài năng của dân tộc, của đất nước.

  • HỒ THẾ HÀ(Tham luận đọc tại Hội thảo Tạp chí văn nghệ 6 tỉnh Bắc miền Trung)

  • LÊ GIA NINHNgày 10 tháng 10 năm 1955, Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bừng lên niềm vui, ngập trong cờ, hoa và nắng thu. Những chàng trai ngày “ra đi đầu không ngoảnh lại”, trải qua cuộc trường chinh ba ngàn ngày trở về trong niềm vui hân hoan và những dòng “nước mắt dành khi gặp mặt” (Nam Hà).

  • THANH TÙNGChống tham nhũng, đục khoét dân lành không chỉ là công việc của nhà chức trách mà còn ở tất cả mọi người dù ở chế độ xã hội nào. Các thi sĩ không chỉ làm thơ ca ngợi cuộc sống tình yêu, đất nước con người mà còn dùng ngọn bút thông qua nước thi phẩm của mình để lên án, vạch mặt bọn quan tham này.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNTrong lịch sử các nhà khoa bảng ở Việt , ít có gia đình nào cả ba ông cháu, cha con đều đỗ Trạng nguyên. Đó là gia đình Trạng nguyên Hồ Tông Thốc ở Kẻ Cuồi, Tam Công, Thọ Thành, Yên Thành, Nghệ An.

  • PHẠM XUÂN NGUYÊN1. Trước hết ta phải bàn với nhau về chữ hay, tức thế nào là một tác phẩm hay. Bởi cái hay không bất biến trong không gian và thời gian, nó vận động và biến đổi tùy theo hoàn cảnh, với những tiêu chí cụ thể khác nhau.

  • TRẦN HUYỀN SÂMRuồng bỏ - Disgrace (1) là một cuốn tiểu thuyết mang phong cách giản dị. Nhưng đó là sự giản dị của một bậc thầy về thể loại roman. Giới lý luận văn học và các chính trị gia phương Tây (2) đã đặt ra những câu hỏi có tính hoài nghi. Điều gì ở cuốn sách có độ trang khiêm tốn này đã mang lại giải Nobel cho Coetzee: Vấn đề kỹ thuật tiểu thuyết, nỗi điếm nhục về nhân cách con người, hay là bi kịch lịch sử hậu Apartheid?

  • NGUYỄN THÀNHLịch sử phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX đánh dấu bởi nhiều khuynh hướng phê bình hiện đại: phê bình ấn tượng, phê bình phân tâm học, phê bình xã hội học, phê bình mác xít, phê bình thi pháp học...

  • TRẦN LỘC HÙNG“NỒI HƠI NGUYÊN TỬ” NGĂN NGỪA THẾ CHIẾN THỨ BAChuyện kể rằng sau cuộc thử nghiệm thành công của trái bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1949, cha đẻ của nó - Igor Vaxilevich Kurchatov - đã khóc nức nở.

  • HÀ VĂN THỊNHSố 7 là một con số huyền thoại. Nếu như tính xuất xứ xa nhất, công đầu về việc “tìm ra” số 7, thuộc về người Ai Cập, cách nay ít nhất 5.000 năm. Khi hiểu được rõ ràng việc con sông Nil chia làm 7 nhánh trước lúc đổ ra Địa Trung Hải, người Ai Cập vận “lý” để tin là nó nhất định phải hàm chứa nghĩa bí ẩn nào đó phản ánh cái “tư tưởng” triết lý của Đấng Tạo hóa.