Nếp sống và thân phận các bà trong nội cung triều Nguyễn

15:09 09/09/2011
PHAN VĂN DẬT Tiếp theo kỳ trước (Sông Hương số 16-85)

Ảnh: TL

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if !mso]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

Đời Minh Mạng đặc biệt có hai bà rất nhiều con vì được vua sủng ái: đó là bà Hiền phi Ngô Thị Chánh con của Chưởng cơ Ngô Văn Sở và bà Lê-tân Nguyễn Gia Thị, con của Phó vệ úy Nguyễn Gia Quý. Bà Hiền phi cậy thế được vua yêu nên hay đánh ghen với các bà khác, nhất là với bà Lê tân, nhưng vua không nghe. Hiền phi sinh hạ được 4 hoàng tử là Vĩnh tường quận vương Miên Hoàng, Phú bình công Miên Áo (cha của Hồng Tập), Hòa quốc công Miên Quân, Quảng hóa quận công Miên Uyển, một hoàng nữ mất sớm là Ngọc Thụy và công chúa An Phước.

Nhưng bà Nguyễn Gia Thị lại còn hơn nhiều vì sinh đến bảy hoàng tử (một tảo thương) và ba hoàng nữ (cũng một tảo thương), còn lại tám ngự di, sáu hoàng nam, hai hoàng nữ, đó là: Tuy An quận công, Hoài đức quận vương, Vĩnh lộc quận công, Sơn tịnh quận công, An xuyên vương và An thành vương. Nghĩa điều và Xuân lai công chúa. Trong sáu ông hoàng trên này thì đã hai ông có tước vương, một ông tước quận vương. Trong suốt triều Nguyễn, bà này có lẽ là thấm nhuần ơn mưa móc nhiều hơn cả, tuy rằng bà không được vua yêu bằng bà Ngô Thị Chánh.

Theo truyền thuyết, bà Hiền phi thường có câu nói: dù vua có thương tôi bao nhiêu đi nữa thì đến khi chết tôi cũng chỉ ra đi hai tay không mà thôi. Vì vậy, khi bà mất, vua Minh Mạng đã thân hành đến tận chỗ bà nằm và đem theo hai nén bạc, bảo kẻ phục dịch mở hai bàn tay bà ra mà để vào rồi khép lại. Vua nói: Đó, trẫm cho khanh cái này để cho khỏi ra đi hai tay không. Có người nói là hai nén vàng.

Xuống triều Thiệu Trị, nhà vua có khá nhiều con với các cung nhơn, nghĩa là những người không có cấp bậc nào trong cửu giai. Dưới triều này có một việc đáng tiếc xảy ra, gây ra cái thảm họa cho cả gia đình Hồng Bảo sau này. Nguyên bà Đinh Thị Hạnh mà theo Trương Vĩnh Ký trong Cours d'histoire Annamite, là dì của bà Từ Dũ và được tiến cung trước bà này một năm. (Bà Từ Dũ cha mẹ đều họ Phạm, vậy bà Hạnh có lẽ là một bà dì xa mà thôi, nhưng Trương Vĩnh Ký là người Nam lại sống gần thời kỳ đó chắc phải biết rõ). Tuy bà Từ Dũ vào sau nhưng lại làm đến Hoàng quý phi. Và bà cũng sinh con trước, vào năm 1824, nhưng lại sinh con gái là Diên Phước công chúa Tịnh Hảo. Qua năm sau, tức là năm 1825 (theo Ngọc Diệp) thì bà Đinh Thị Hạnh sinh ra Hồng Bảo. Mãi đến năm 1829, bà Từ Dũ mới sinh ra Hồng Nhậm, tức vua Tự Đức sau này. Nhưng theo Bùi Quang Tung (La succession de Thiệu Trị) thì một kẻ thừa tự của Hồng Bảo là Bửu Thảo, cải chính rằng Hồng Bảo sinh ngày 14 tháng 6 năm 1829 trong khi Hồng Nhậm sinh ngày 22 tháng 9 năm 1829, như vậy thì Hồng Bảo chỉ sinh trước Hồng Nhậm có hơn ba tháng thôi. Nếu bà Từ Dũ sinh con đầu là con trai thì đã tránh được bao nhiêu thảm kịch sau này.

vua Tự Đức có một bà vợ rất hay chữ là bà Lê tân Nguyễn Nhược Thị Bích. Bà này đã phê bằng chữ son vào tập thơ nôm của vua gồm khoảng trên sáu chục bài. Tập thơ này đã bị thất lạc trong hồi khói lửa đầu năm 1947.

***

Các bà trong nội cung thay nhau mỗi buổi sáng, mặc áo rộng, chít khăn, đến điện Càn Thành chầu thỉnh an vua.

vua Minh Mạng có cái lầu Minh Viễn cao 24m, thường ngày vua hay ngự lên trên đó dùng thiên lý kính nhìn quanh Kinh thành và xuống cửa Thuận An để quan sát dân tình và xem thử tàu buôn đi các nước về không. Vua cũng cho phép các bà lên trên lầu để canh chừng tàu về, bà nào báo được tin trước thì được thưởng một cây lụa hoặc một cây hàng khác, cho nên các bà đua nhau lên lầu và hướng ống thiên lý về cửa Thuận.

Đến ngày đông chí, tất cả lửa trong Tử cấm thành đều phải tắt hết. Chỉ tại điện Càn Thành nhen một lò lửa thật lớn, đúng vào lúc nửa đêm cả tam cung lục viện mới mang lổng ấp đến điện Càn Thành để vua ban cho một ít lửa, ngụ ý rằng vua ban hơi ấm cho mọi người.

Đời sống trong nội cung có nhiều cái phức tạp và khác hẳn với đời sống bên ngoài. Ở đây không ai được phép nói một chữ gì xấu, gỡ, hoặc thô tục như đau, bệnh, chết, đui què, câm, điếc, phung hủi, máu me v.v… Giả sử có nuôi một bầy gà mười con mà nó chết mất ba con thì chị nô-tỳ phải trình với bà nữ quan rằng nó "vịt" hết ba con. Một cung nhân bị ốm cho về nhà dưỡng bệnh, rủi chết đi thì cũng chỉ được trình là chị ta đã đi xa rồi hoặc không còn ở nhà nữa.

Tất cả những chữ dùng về vua cũng khác với người thường: chẳng hạn vua đau thì nói là Ngài se, Ngài siết hoặc vi dạng, vi hòa. Vua ngủ là ngự ngơi, vua thức dậy là tánh, vua đi chơi là ngự dạo, vua bài tiết là canh y v.v… Phải làm cả một quyển tự điển mới ghi hết những chữ dùng riêng này.

Lại còn vô số chữ húy phải kiêng, ai phạm phải, nếu là nhẹ thì bị khiển trách, nếu là nặng thì bị đánh đòn hoặc giam cấm. Có trọng húy và khinh húy. Một điều khó hiểu hơn nữa làm cho đến thứ bậc cũng kiêng. Ông hoàng thứ hai, nếu còn sống thì gọi là Hoàng Hai, nhưng nếu đã chết thì phải gọi là Hoàng Hơi. Chỉn thì gọi là Chổi. Vì vậy, các bà mới vào nội, ít nhất là ba tháng đầu, không ai dám hở răng nói một điều gì cả.

Trong Đại Nội cũng không được nói hoàn toàn theo giọng Huế mà phải nói giọng Phường Đúc, nghĩa là nửa giọng Huế, nửa giọng Nam. Vì vua Minh Mạng sinh trưởng ở miền Nam, cho rằng nửa giọng Nam nhẹ nhàng dễ nghe, cho nên vua bắt ai nấy phải nói giọng lơ lớ nửa Nam nửa Huế. Nói một cách rõ ràng hơn là tất cả những chữ gì không có dấu sắc đều nói theo giọng Huế, còn những chữ có dấu sắc thì phải nói ngót ngót theo giọng Nam. Chẳng hạn muốn nói: Anh cho tôi mượn cái thước thì bốn chữ đầu nói như giọng Huế thường, hai chữ cuối cùng nói theo giọng Nam. Còn tại sao lại gọi là giọng Phường Đúc thì chưa được rõ. Ra ngoài thành phố, đến nhà nào nghe nói giọng này thì biết ngay là người hoàng tộc hoặc từng ở nội về. Ở Huế, khoảng mấy chục năm đầu thế kỷ, giọng nói này còn thịnh hành lắm.

Ở nội, áo quần toàn dùng màu sắc, nhất là màu đỏ và màu lục, trừ màu vàng là màu của vua. Màu đen không được dùng. Màu trắng chỉ dùng làm áo lót khi mặc áo mớ ba.

Tóc thì rẽ giữa, khi bịt cái khăn lên đầu phải để hai mái hơi vòng xuống như hình cánh cung. Bà nào trán quá cao, không để thấy hai vành tóc thì tự cho là mất hết vẻ đẹp và lấy làm bứt rứt khó chịu lắm.

Đại nội chia làm hai phần: bên đền và bên cung, bên đền lấy chữ Nhân, bên cung dùng chữ Đức: Thể nhân, Hiển nhân; Quảng đức, Chương đức. Bên đền là chỗ vua ở, bên cung là chỗ Hoàng Thái Hậu ở. Qua các thời đại, cung của các bà thay đổi tên như sau: dưới triều Gia Long là Trường Thọ, năm Minh Mạng đổi làm Từ Thọ, năm Tự Đức đổi làm Gia Thọ, năm thành Thái đổi làm Ninh Thọ. Vua Khải Định cho chữ Ninh Thọ xấu vì người ta thường có câu: Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục, nên mới đổi ra là Diên Thọ. Mặc dầu hai chữ thọ rất khác nhau, nhưng đọc lên vẫn nghe rất chối tai.

Bên cạnh cung có Trường du tạ để cho các bà ra ngồi chơi, hóng mát hoặc câu cá. Sau ngày vua Khải Định, các bà từ bà Tân trở xuống đều phải lên ở Ứng Lăng, sau hai năm lại được về ở cung Diên Thọ phục dịch Hoàng Thái Hậu. Chiều chiều các bà lại ra ngồi Trường Du Tạ và đọc quyển Tuyết hồng lệ sử, bản chữ Hán của Từ Chẩm Á. Đây đều là những quyển sách chép tay, nhờ người chép lại.

Lại có một cái chùa với vài ni cô để các bà ngày ngày nghe tiếng tụng kinh niệm Phật cho khuây niềm tục lụy.

Sau khi mất, các bà được thờ riêng hoặc thờ chung tại một số đền thờ. Bà Đức bi Lê thị, tức là bà Đệ tam cung, mẹ của Quảng oai công và Thường tín quận vương, được thờ ở đền Đức Phi, tại xã Phú Xuân, huyện Hương Trà, bà Hiền phi Ngô thị mà ta đã từng nói đến nhiều, được thờ tại đền Hiền phi, cũng tại xã Phú Xuân, bà Gia phi Phạm thị, mẹ của Thọ xuân vương, được thờ tại đền Gia Phi, ở Đông Trì Thượng ấp ngoài kinh thành, một số đông các bà khác từ bậc Tân, Tiếp dư xuống Mỹ nhân, Tài nhân được thờ tại các đền Ý Thục ở vườn Thư Xuân, phía tây kinh thành và Lệ Thục ở vườn Thanh Phương nằm ở bờ phía tây sông Hộ Thành, trong kinh thành Diên cung tân Tống thị triều Gia Long, được thờ ngoài cấm giới lăng Thiên Thọ.

***

Về các việc giao thiệp giữa vua và các bà thì có thái giám và các nữ quan.

Dưới triều Tự Đức, thái giám có 70 người, một số cắt lên ở các lăng, mỗi lăng chừng ba người, còn lại thì phục dịch ở Đại nội. Thái giám có năm đẳng: Thủ đẳng, Thứ đẳng, Trung đẳng, Ái đẳng và Hạ đẳng. Một điều lạ là các thái giám cũng nhiều ông có vợ.

Các nữ quan làm việc dưới quyền của thái giám và gồm có năm bậc: Quản sự, Thông sự, Thừa sự, Tùy sự và Tùng sự. Thường thường họ là những người trong Tôn thất, những thiếu phụ góa chồng, hoặc những người chán cảnh chồng con và đều có đôi chút học thức. Nữ quan có một số nô tỳ phục dịch thuộc về Hạ đẳng và gồm có bốn hạng là Lão tỳ, Thị tỳ, Nô nhân và Nê nhân.

Sau này, tự do hơn, nên thị vệ cũng được giao thiệp với các bà, thị vệ gồm có năm đẳng, từ ngũ đẳng đến nhất đẳng. Vào khoảng cuối triều Nguyễn, thị vệ gồm có 65 người, đặt dưới quyền điều khiển của một Thông quản và một Quản lãnh. Hai chức này ngang hàng với Thượng thư và được gọi là Thị vệ đại thần.

***

Sau cùng, còn một việc này nữa, tưởng cũng nên nói luôn. Như ai cũng biết, một khi đã vào nội thì không ai còn được tiếp xúc với đàn ông nữa. Khổ nỗi các bà sống tù túng trong cung, lại thường hay đau ốm mà thầy thuốc chỉ có các quan Ngự Y, toàn là đàn ông cả mặc dầu họ đã đứng tuổi. Vậy mỗi khi có một bà bị bệnh thì phải làm thế nào? Ngày xưa thì sao không rõ nhưng ngay dưới triều Khải Định, mỗi khi có một bà đau thì bà ấy cứ nằm trong mùng, ngoài mùng còn có một bức màn nữa. Bên ngoài người ta để một cái ghế đẩu cho bà ấy thò tay ra và để lên. Một quan Ngự y có tuổi, khăn áo chỉnh tề, đến chẩn mạch, một bên có một thái giám, bên kia có một bà Quản sự đứng chứng kiến. Nhưng sợ quan Ngự y đụng đến tay bệnh nhân thì hai làn da sẽ chạm vào nhau, nên người ta đã cẩn thận lấy một mảnh lụa mỏng để quấn vào cườm tay người bệnh, rồi quan Ngự y mới ấn mấy ngón tay vào mảnh lụa ấy.

Trong phép chữa bệnh đông y có vọng, văn, vấn, thiết. Thế mà đây vọng là xem bề ngoài con bệnh ra sao cũng không, văn là nghe giọng nói con bệnh ra sao cũng không, vấn là hỏi xem con bệnh nghe trong mình đau như thế nào cũng không nốt, ta thấy các bà trong nội cung ngày xưa hay mất sớm thì cũng không lạ gì.

Trên đây là chỉ nói một phần nhỏ về đời sống các bà trong nội cung, nhưng có lẽ cũng đem lại được một ý niệm về đời sống ấy như thế nào. Bài này cũng chẳng dám có tham vọng nào hơn.

15-8-1985
P.V.D.
(17/2-86)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • THANH TÙNG Trong các bậc mẫu nghi thiên hạ ít ai được như Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ. Bà là người mẫu mực về đức hạnh, yêu thương dân, nuôi dạy con giỏi và biết đối nhân xử thế; khi cần biết tham gia việc triều chính đúng mức, hiệu quả.

  • LTS: Đoạn trích dưới đây nằm trong cuốn sách “Sauvenirs de Hue” (Hồi ký về Huế) do tác giả người Pháp Michel Đức Chaigneau viết vào năm 1867. Ông sinh ở Huế năm 1803 và mất ở Pháp năm 1894, trừ một thời gian trở về nước Pháp, ông đã sống ở Huế 21 năm.

  • HOÀNG TRUNG THÔNGAnh Hải Triều Nguyễn Khoa Văn sống một cuộc đời đấu tranh cho cách mạng, cho Đảng, cho nhân dân. Tôi được đọc anh từ những bài viết chống nghệ thuật vị nghệ thuật, chống duy tâm và cả lý thuyết cho rằng nước ta không có chế độ phong kiến.

  • LTS: Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của Đạm Phương nữ sử (1881- 2011), 85 năm ra đời Nữ Công Học hội Huế (15.6.1926 - 15.6.2011) do bà Đạm Phương sáng lập, ngày 18.6 tới đây, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa Thiên - Huế và Viện Văn học Việt Nam sẽ tổ chức Hội thảo khoa học về Đạm Phương nữ sử. Đây là cuộc hội thảo về Đạm Phương nữ sử lần đầu tiên, và được tổ chức ngay tại Huế, quê hương của Bà.

  • PHAN VĂN DẬT Một ngày dựa mạn thuyền rồng Cũng bằng muôn kiếp ở trong thuyền chài.

  • NGUYỄN CƯƠNG Trong giới tu hành và phật tử ở miền Nam từ trước đến nay không mấy ai không biết đến thiện danh và công lao đóng góp cho đạo, cho đời của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không.

  • NGUYỄN PHƯỚC BẢO QUYẾNXưa nay, trong văn học nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng, Huế được nói đến rất nhiều, nhất là với những người con của Huế trong đó có những hoàng tử của triều Nguyễn đặc biệt là các hoàng tử của triều vua Minh Mạng.

  • L.T.S: Ông Nguyễn Hải Âu quê ở Hà Nam Ninh. Năm 1941 ông đi lính bị đưa sang Pháp rồi sang Alger. Ở Pháp và Alger ông tham gia lãnh đạo phong trào phản chiến nên bị đưa sang Calcutta, không cho hồi hương.

  • TRẦN THỊ NHƯ MÂNTrong số những phụ nữ ở Huế mà tôi được gặp lúc thiếu thời, có một khuôn mặt tôi nhớ mãi, không những vì có nhiều quan hệ gần gũi với tôi, mà một lúc nào đó đã có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời tôi. Đó là bà Đạm Phương.

  • LÊ VĂN HIẾN(Trích hồi ký)

  • LND: Bửu Đình là một nhà văn có tinh thần yêu nước được các tầng lớp thanh niên thời kỳ trước ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam yêu mến. Vừa rồi, nhân đọc cuốn “Những bí mật trên Côn Đảo” của nhà văn Demario Giang Colotdo viết từ những năm 1935-1936 (xuất bản tại Paris năm 1956) - một cuốn sách ca ngợi khí tiết của những người tù cộng sản trên Côn Đảo, thấy có một chương (1) viết về Bửu Đình, tôi xin dịch để giới thiệu với bạn đọc Sông Hương. Đây là tư liệu đầu tiên giới thiệu Bửu Đình, rất mong bạn đọc và gia đình của nhà văn Bửu Đình cung cấp thêm tư liệu để chúng tôi có thể giới thiệu một cách đầy đủ về nhà văn của núi Ngự sông Hương này.

  • Vắng mặt Sông Hương suốt mấy trăng,Đuổi xong ma bệnh rước tin mừng…

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNDo Huế là Kinh đô của triều đại quân chủ ở Việt Nam, cho nên người phụ nữ Huế ngoài dân trăm họ thông thường như các địa phương khác còn có phụ nữ thuộc tầng lớp vương giả sống trong chốn Nội cung nhà Nguyễn như các bà mẹ vua, vợ vua, con gái vua, cháu vua và cung nhân.

  • TRẦN MINH TÍCHBên bờ phá Tam Giang mênh mông sóng nước, cách thành phố Huế khoảng chừng hai mươi cây số về phía đông nam có vùng đất bạt ngàn cát trắng, nơi đây trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ xâm lược là cái nôi của cách mạng, hàng bao nhiêu hạt giống đỏ được ươm mầm để nhân rộng ra các vùng đất khác, tên gọi của xã vùng cát anh hùng đó là Phú Thạnh bây giờ là Phú Đa.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNThừa Thiên Huế tự hào có Phú Xuân là Kinh đô của nước Việt dưới thời Nguyễn Huệ Quang Trung (1788-1792). Và cũng chính nơi đây đã diễn ra cuộc trả thù nghiệt ngã của dòng họ Nguyễn Phúc dành cho họ Nguyễn Tây Sơn. Do đó những thông tin lịch sử về thời đại Quang Trung và Phong trào Tây Sơn ở Huế đã bị thủ tiêu và làm sai lệch đi khá nhiều.

  • LIỄU THƯỢNG VĂNQuả thực đã nổi lên sự phong phú đặc biệt khi đứng ở góc nhìn tập trung, tế nhị, để điểm lại một số ảnh hưởng lớn, khó phai nhòa của họ, những khuôn mặt Nữ lừng danh của vùng đất Thuận Hóa.

  • TRẦN XUÂN THẢOKỷ niệm năm sinh thứ 160 của Tôn Thất Thuyết (1839 - 1999)

  • BỬU ÝKhi nghe dóng lên câu hỏi: “Người Huế, anh là ai?” có lẽ cùng chẳng ai buồn giật mình hay ngạc nhiên làm gì. Bởi lẽ cái chân dung sẽ được phác hoạ ra chắc chẳng có gì độc đáo. Ai nấy đều đã biết rồi, đã gặp rồi, đã gặp khắp nơi là đằng khác. Dù sao, đây cũng thuộc loại hình ảnh cũ kỹ trong cuốn album gia đình mà anh chị em thường táy máy giở đi giở lại vậy.

  • N. I. NIKULIN*Khi có dịp đến thăm Huế, tôi đã lang thang rất lâu khắp Kinh đô, khắp các cung điện, đền miếu, lăng tẩm kỳ bí. Ở đây tôi được thưởng ngoạn một nền kiến trúc phức tạp, tinh tế, đẹp mê hồn, ngắm nhìn phong cảnh Huế tuyệt vời từ cửa Ngọ Môn. Tôi hít thở thật sâu bầu không khí kỳ lạ của cố đô được hòa quyện bởi hơi mát của biển và dòng sông Hương huyền diệu. Và lòng đầy xúc động tôi đứng trước ngai vàng triều Nguyễn, ngẫm xem những ai đã từng ngồi trên chiếc ngai vàng này, và đặc biệt tôi nghĩ về một người trong số họ, một con người rất đỗi tài năng và có một số phận không bình thường.

  • LÊ QUANG THÁIXem chừng cái cổng gỗ vừa bình dị vừa cổ kính ở đường Nguyễn Công Trứ có tiền thân là đường Chợ Cống, trong khoảng hơn 100 năm trở lại, lần lượt thay đổi địa chỉ theo một loạt mã số 21, 27, 29, 31, 33, 47, 63... như đã nói lên tiếng lòng của dân gian trước tốc độ phát triển nhanh chóng của đô thị Huế.