BÙI KIM CHI
Ngoài trời bao la xinh tươi bao cô gái đẹp cười trông xinh như hoa. Lập lòe tà áo xanh xanh che bông tím vàng đẹp hơn tiên nga…
Minh họa: Nhím
Một bài ca đón chào mừng hòa theo tiếng pháo đì đùng. Mừng xuân nay đã về rồi và đông đã vượt qua. Ngập trời bao tiếng chào mừng nàng xuân đã về rồi. Về gieo bao thắm tươi vui lòng ta thấy yêu đời… Xuân đã về… Xuân đã về…”. Khúc nhạc xuân dìu dặt, tươi vui, rộn rã đang dẫn hồn tôi đến với những ý tưởng dễ thương, đáng yêu trong sự chờ đợi tuyệt diệu. Tôi đang trong tâm trạng đợi chờ phút giây được gặp anh, được nhìn lại anh - người tình muôn trùng xa cách. Ngập đầy hồn tôi lúc này là cảm giác bồi hồi, rộn rã của “một người tình” dành cho “một người tình” - hạnh phúc thật đầy.
Trời nhẹ lên cao… Nắng xuân nhảy múa điệu đàng trên từng khóm hoa luống cỏ trong vườn. Ngôi vườn đẹp, cổ kính của mấy chục năm trước vẫn còn đây. Vẫn hoa, vẫn lá khoe sắc reo vui dưới nắng xuân. Tôi bâng khuâng nhìn hoa và nắng lao xao trong vườn. Tôi mỉm cười. Nắng khiêu vũ. Những bước nhảy nắng xoay lướt uyển chuyển, có lúc thật cuồng nhiệt rồi đột nhiên dịu dàng ngã người theo làn gió nhẹ, mềm mại, yêu thương. Hồn nhạc hòa trong gió xuân hây hây quyện vào nắng ấm cùng với hương và sắc hoa vẽ nên một bức tranh xuân tươi vui, rộn ràng như lòng tôi đang vui, đang háo hức tưởng tượng phút giây được gặp anh… Hân hoan tôi rời nhà đến điểm hẹn. Điểm hẹn của chúng tôi là quán cà phê có cái tên buồn nhưng dễ thương “Đắng” - nơi mà hai mươi năm trước anh từ giã tôi ra đi. Quán vẫn đẹp và thơ mộng như ngày nào. Tôi đảo mắt tìm anh. Anh đó. Tim tôi đập liên hồi. Đưa tay làm dáng vuốt mái tóc dài một thời mê hoặc anh, tôi lặng lẽ nhìn anh lòng bồi hồi. Giọng nói anh vẫn ngọt ngào. Em vẫn như xưa. Tôi cười tinh nghịch nhìn anh. Anh cũng vẫn như xưa. Tôi nói. Rồi anh nhìn tôi. Tôi nhìn anh. Đắm đuối. Mấy phút ban đầu anh và tôi chỉ ngồi… nhìn nhau. Nhạc xuân vẫn trổi lên dịu dàng, đằm thắm, ca từ tha thiết, quyến rũ: “Gió chiều thầm vương bao nhớ nhung. Người yêu thoáng qua như giấc mộng. Vui nguồn suối mơ. Những ngày mong chờ… Hãy trả lời lòng anh mấy câu. Tình duyên với em trong kiếp nào. Xuân còn thắm tươi. Anh còn mong chờ. Ái ân kẻo tàn ngày mơ…”. Anh về lúc nào? Ngập ngừng rồi anh không trả lời. Em còn giận anh? Không, em không giận anh. Em chỉ thấy tiếc. Tiếc gì? Anh hỏi, giọng thật ấm. Tôi nói nhỏ vừa đủ cho anh nghe. Này nhá, nếu ngày ấy anh không rời Huế ra đi thì bây giờ, em nghĩ cuộc sống của anh chắc chắn sẽ có nhiều màu sắc. Anh tài hoa. Nhạc sĩ là anh, họa sĩ cũng là anh rồi anh còn là một nha sĩ. Ba cái sĩ có trong người anh sẽ giúp anh có cuộc sống đẹp, đầy ý nghĩa, nên thơ và lãng mạn giữa đất trời Huế. Cầm ly cà phê đen xoay tròn trong tay, giọng anh ngậm ngùi. Cám ơn em. Anh đã đánh mất cái sĩ thứ ba (cười). Thỉnh thoảng anh có sáng tác nhạc còn vẽ thì thường xuyên hơn. Như nhớ ra điều gì đó, anh vội vàng quay người sang chiếc ghế bên cạnh đưa tay lấy tấm khung hình khá lớn, mặt trước phủ một tấm giấy hoa màu tím trao cho tôi.
- Đây, anh tặng em. Tuy hai mươi năm xa em thật. Một khoảng thời gian thật dài, không gian xa cách vời vợi nhưng em luôn ở trong anh.
Tôi dạ và nhận tranh. Tôi đoán đây là một tác phẩm hội họa của anh mà người trong tranh có lẽ là tôi - một thời Tôn nữ của riêng anh. Không hiểu tôi đoán có đúng không nhưng dự đoán của tôi là có cơ sở bởi vì ngày ấy tôi thường xuyên có mặt trong tranh của anh. Khi thì “Thiếu nữ với hoa mai” tặng tôi nhân dịp xuân về, khi thì “Thơ ngây” quà tặng sinh nhật của tôi và cũng có lúc lại là “Nữ hoàng Cleo”, có lẽ lúc đó tôi là một Cleo sắc sảo qua hình ảnh của cô đào Elizabeth Taylo dưới mắt anh. Tôi bâng khuâng nhớ về ngày ấy - thuở “tình yêu vỡ vụn”.
Cuộc tình của tôi đẹp nhưng đầy trắc trở. Tôi, một đứa con gái đẹp của Huế với cái tên lạ, khá dễ thương - Tôn Nữ La Khê. Mọi người đều nói như thế nhưng phải cái tội “đẹp nhưng gò má cao là gái sát phu”; đó là lời bình phẩm “dễ sợ” của cái xứ Huế nhỏ bé này về tôi. Có đôi lúc tôi cảm thấy buồn và thật sự cô đơn mặc dù bên cạnh tôi vẫn có anh. Anh vẫn đi bên đời tôi dệt cho tôi những tia nắng ấm ngày xuân, thổi vào hồn tôi những làn gió thu mát mẻ dịu ngọt của Huế và cứ thế anh đã phải chịu bao điều tiếng ác của thiên hạ khi yêu tôi. Một lần đến chơi nhà anh, trước khi vào cửa tôi đã giật mình nghe lén được câu chuyện giữa mẹ anh và anh.
- Mi mà lấy hắn thì đời mi “tiêu”. Uổng công mạ đẻ con ra, nuôi con khôn lớn cực khổ con ơi!
Anh cãi lại:
- Răng mà “tiêu” hả mạ?
- Rứa mi không thấy gò má hắn cao.
- Mạ cứ cho con lấy hắn, thử con có chết không thì biết liền.
Tiếng mạ anh hốt hoảng: “Ui cha, đừng, đừng nói bậy con ơi! Thôi, thôi không bàn cãi nữa. Mạ nói không là không”.
Nghe được đến đó, tai tôi ù lên, tim tôi đập mạnh và nhảy lung tung, mồ hôi vã ra. Tôi giận run người quày quả rút lui… Một buổi chiều gió lạnh, mây vắt ngang trời màu khói hương, tôi hẹn gặp anh. Tôi trao cho anh lá thư mà suốt một đêm dài không ngủ tôi đã viết cho anh những điều mà tôi thấy cần phải nói với anh. Anh thật sự ngạc nhiên và bàng hoàng khi cầm thư của tôi trong tay. Mắt anh u hoài. Có chuyện gì không thể nói với anh được hay sao mà phải viết thư. Có gì quan trọng không em? Anh cứ đọc thư em rồi sẽ rõ nhưng phải chờ đến tối mới được đọc à nha.
Suốt quãng đường dài đi bên anh tôi suy nghĩ thật nhiều. Hay là ta xa anh, tôi tự hỏi. Trong trạng thái trầm tư, mắt anh đăm đăm nhìn xuống đất. Hai đứa tôi mỗi người là một thế giới riêng. Đúng là một buổi chiều buồn. Không gian như chùng xuống trùm lên vạn vật một màu lam huyền. Con đường Hàng Đoác thơ mộng tiễn chiều xuống dần dần cùng với bước chân lặng lẽ của anh và tôi. Tay bỏ túi quần. Dáng anh thật nghệ sĩ. Âm thầm, âm thầm như một cung đàn không tên. Anh là một đứa con trai hiền lành, đa tài, rất có hiếu với mẹ; trai Huế đa số là như thế thời của chúng tôi. Mẹ anh một đời tần tảo nuôi con, sau anh còn có đàn em bốn đứa đang tuổi ăn học; bà là một phụ nữ sắc sảo, lịch sự có vẻ mến tôi khi tôi đến chơi nhà tuy nhiên là phụ nữ Huế bà khó chấp nhận cuộc tình của chúng tôi chỉ vì tôi có “đôi gò má cao rứa là gái sát phu”. Tôi thông cảm bà nhưng lòng cay đắng. Rồi một chiều xuân anh và tôi ngậm ngùi chia tay… Em vẫn khỏe? Tôi giật mình giọng buồn xa vắng. Dạ, em vẫn khỏe vẫn “bên đời quạnh hiu” vì “gò má cao”. Rồi tôi mỉm cười ngước mắt nhìn anh cay đắng. Còn anh? nghe nói, vẫn “bên đường lẻ bóng” (nghe cải lương dễ sợ). Anh xót xa gật đầu, nói nhỏ qua tai tôi. Chúng mình làm khổ nhau. Đúng là ngày ấy mạ anh có nhận xét về em như thế thật, nhưng quyết định cuối cùng vẫn là của anh. Chỉ tại em tự ái rồi không thèm gặp anh nữa. Tôi nguýt yêu anh. Rứa không phải “không bàn cãi nữa, mạ nói không là không”. Ừ, mạ anh có nói thế nhưng em cố chấp và nóng nảy quá. Giọng anh trầm buồn. Tôi thương quá. Không ngờ lời của mạ anh nói tôi đã để tâm và nhớ nằm lòng, chờ có dịp là tuôn ra dù thời gian và sự việc xảy ra đã khá lâu. Không hiểu như vậy là tôi có quá đáng không nhưng suốt hai mươi năm qua tôi đã sống những tháng ngày cô đơn, khắc khoải nhìn thời gian trôi như suối tóc dài buồn bã sợi nhớ sợi thương đau khổ vô cùng. Không hiểu trong khoảng thời gian xa tôi, anh đã nghĩ thế nào về tôi, về người con gái một thời đã cùng anh đan kết những dấu xưa đầy kỷ niệm đẹp, ngọt ngào xen lẫn đắng cay. Tôi lặng lẽ nhìn sâu vào mắt anh. Ngỡ ngàng như giấc chiêm bao. Tim tôi đang khóc. Tôi định ôm chầm lấy anh. Nhưng không. Anh đắm say nhìn tôi. Vẫn màu mắt ấy, màu của nắng ấm ngày xuân, của tơ trời ngày hạ, của lá đổ ngày thu và của ngày đông sầu muộn như cuộc tình buồn mấy chục năm trước của anh và tôi. Anh có màu mắt đẹp, quyến rũ như mắt con gái mà một thời tôi đã say mê màu mắt ấy. Em vẫn nhớ và nghĩ về anh? Tôi giật mình, giọng trầm tĩnh, dứt khoát. Dạ. Em có nghĩ về anh, nhớ anh, nhưng em không còn yêu anh nữa. Giọng anh lạc đi. Anh không tin. Đó là quyền của anh. Cả hai chúng tôi đều im lặng giữa chiều xuân bâng khuâng, bâng khuâng buồn và bâng khuâng hoài cảm. Tôi trầm ngâm. Gió chiều xuân lành lạnh. Cái lạnh nhè nhẹ làm tê tái lòng người. Tôi mơ màng nhìn lên trần nhà nơi đó có vẽ cảnh chiều vàng êm ả của mùa thu Huế - mùa thu tôi đến cùng anh, cũng tại nơi này vào một chiều xuân có nắng vàng phai tôi và anh chia tay để rồi hôm nay trời cũng rải nắng vàng phai khắp nơi và… tôi gặp lại anh. Anh dìu tôi ra đứng dưới cội mai lão. Tôi khóc. Cố nén cảm xúc, tôi cười chua chát, ngẩng mặt lên trời đón ngọn gió xuân thênh thang ve vuốt đôi gò má của tôi. Một đứa con gái hiền lành, thùy mị, một Tôn nữ nết na rồi bây giờ là một “thiếu nữ lớn tuổi” dịu dàng, đằm thắm như thế này đây thì “sát” được ai. Tôi lại mỉm cười nhủ thầm cùng anh. Anh yêu, em mãi mãi vẫn là người yêu của anh nhưng mong anh thông cảm, mãi mãi em sẽ không phải là người phụ nữ đi bên đời anh. Em chỉ là em gái anh thôi - người em sầu muộn. Nước mắt tôi lăn dài trên má. Những giọt nước mắt ẩn uất âm thầm đã nhỏ giọt. Anh ơi, anh có hiểu cho em và cả những ai đó nữa vô tình hay cố ý đã khoác lên người em chiếc áo “sát phu” rồi bình thản dẫn em băng qua tuổi xuân để đến bây giờ:
“Tình xưa đã lỡ
Áo xưa đã phai màu
Tóc xưa
Giờ đã nát nhàu thời gian”(*)
B.K.C
(TCSH348/02-2018)
--------------------
(*) Thơ Nguyễn Phi Trinh.
Tải mã QRCode
MINH CHUYÊN (Tiếp Sông Hương số 12-2008)
MINH CHUYÊN (Tiếp theo và hết)
LÊ HUỲNH LÂMCó thể gọi xứ Huế là thành phố của những tiếng chuông. Sự khởi đầu của một ngày, một ngày mai hun hút trong tương lai cũng như một ngày tận trong nghìn trùng quá khứ. Một ngày mà âm thanh từ đại hồng chung phát ra; vang, ngân, vọng và im bặt. Người ta gọi âm thanh đó là tiếng chuông. Vậy thì, im bặt cũng là một phần của tiếng chuông.
MINH CHUYÊNCảnh làng mới Trà Tân cuối chiều mùa đông. Con suối chảy qua nước trong veo, róc rách. Phía tây con suối cách làng chừng nửa tầm mắt là rừng Sắc Rông, đủ các loại cây tầng tầng, lớp lớp. Cánh rừng đang chìm trong sương chiều. Rừng hoang vắng, huyền bí. Người ta kể sau ngày chiến tranh chấm dứt, rừng Sắc Rông càng trở nên bí ẩn. Người chỉ có vào mà không có trở ra. Vậy mà mấy tháng gần đây lại thường xuyên xuất hiện một người đàn bà ở đó.
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGNgày xưa nhà mẹ nghèo hung, cơm không có ăn, khố không có mặc, suốt ngày lang thang trong rừng đào củ mài củ sắn kiếm cái cho vào bụng. Có ngày không tìm được chi, bụng đói lắc lư.
NGUYỄN KHẮC PHÊTrước ngày Huế khởi nghĩa 23/8/1945, có một sự kiện khiến cả thành phố náo nức vui mừng: đó là việc lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên đỉnh cột cờ Huế ngày 21/8 thay cho cờ quẻ ly. Người chiến sĩ được đồng chí Trần Hữu Dực trực tiếp giao nhiệm vụ quan trọng ấy là chàng thanh niên 25 tuổi Đặng Văn Việt (ĐVV).
NGUYỄN QUANG HÀTạp chí văn nghệ của 6 tỉnh Bắc miền Trung gồm: Xứ Thanh, Sông Lam, Hồng Lĩnh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Sông Hương có một cam kết thú vị, luôn luôn trong nỗi chờ mong là mỗi năm anh chị em trong tạp chí thay nhau đăng cai luân phiên, mỗi năm gặp nhau một lần, ở thời điểm thích hợp nhất do tạp chí đăng cai tự chọn.
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOTháng bảy, nồng nàn hương lúa mới trên những ruộng lúc mới vừa mùa gặt tháng 5, mùi rơm rạ kéo tôi ra khỏi thế giới của những đường phố xênh xang, đầy bụi và chật người. Tôi leo lên một tầng gác và nhìn về hướng quê tôi, hình dung đủ thứ nhưng nhớ vẫn là khói lam chiều với dáng mẹ tôi gầy cong như đòn gánh.
VĨNH NGUYÊNPhải nói tôi có ý định dông một chuyến xe máy ra Bắc đã lâu mà chưa có dịp. Nay có điều kiện để đi song tôi vẫn băn khoăn, không hiểu chuyến đi này mình sẽ gặp những ai đây? Hay là phải thở dài dọc đường xa với những cảnh đời khốn khó? Thôi thì tôi chỉ biết đi và đi.
VÕ MẠNH LẬP Ghi chépNhân vật Mười Hương nhiều người đã biết đến qua sách báo và đặc biệt là vùng đất Nam Bộ - Sài Gòn.
DƯƠNG THÀNH VŨTrong đêm mỏng yên tĩnh dịu dàng, một mình một cõi với ly rượu trắng, cùng mùi hương của hoa rộn ràng, huy hoàng phát tiết; tôi miên man nhớ tới cõi người đến- cõi người đi nơi xa chốn gần, thời gian tuyến tính lẫn thời gian phi tuyến tính.
NHẬT HOA KHANH Mười năm những mấy ngàn ngày... (Tố Hữu: Mười năm )
TRUNG SƠNĐoàn văn nghệ sĩ Thừa Thiên - Huế (TTH) lên đường “đi thực tế” một số tỉnh phía Bắc vào lúc lễ giỗ Tổ ở đền Hùng (10 tháng 3 âm lịch) vừa kết thúc. Tiền có hạn, thời gian có hạn chưa biết sẽ tới được những đâu, nhưng ai cũng “nhất trí” là phải lên Phú Thọ thăm Đền Hùng, dù lễ hội đã qua.
ALẾCHXĂNG GRINTại Luân Đôn, mùa xuân năm 1921, có hai ngài trung niên ăn mặc sang trọng dừng chân ở góc đường, nơi phố Pakađilli giao nhau với một ngõ nhỏ. Họ vừa ở một tiệm ăn đắt tiền đi ra. Ở đó, họ đã ăn tối, uống rượu vang và cùng đám nghệ sỹ của nhà hát Đriuđilenxky đùa cợt.
PHONG LÊQuê tôi là một xã nghèo ven chân núi Mồng Gà, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Từ Hà Nội, việc về thăm quê, đối với tôi không mấy khó khăn. Hồi là sinh viên thì mỗi năm hai lần, lần nghỉ hè lần nghỉ Tết. Khi đã là cán bộ, có gia đình thì mỗi năm một lần, cả nhà dắt díu về, với hai hành trình là tàu hoả từ Hà Nội vào Vinh, rồi là xe đạp từ Vinh về nhà.
NGUYỄN TRỌNG HUẤNBạn tôi là nhà thơ. Thơ ông hay, nổi tiếng, nhiều người ái mộ. Thời buổi “nhuận bút không đùa với khách thơ”, kinh tế khó khăn, gia đình ông vẻ như cũng “rất ư hoàn cảnh”.
ĐẶNG NHẬT MINHGia đình tôi ở Huế có một cái lệ: cứ vào dịp trước Tết tất cả nhà cùng nhau lên núi Ngự Bình quét dọn, làm sạch cỏ trên những nấm mộ của nhũng người thân đã khuất. Sau đó trở về nhà thờ của dòng họ, cùng nhau ăn một bữa cơm chay. Cái lệ đó người Huế gọi là Chạp. Ngày Chạp hàng năm không cố định, có thể xê dịch nhưng nhất thiết phải trước Tết và con cháu trong gia đình dù đi đâu ở đâu cũng phải về để Chạp mộ.
DƯƠNG PHƯỚC THUMùa xuân năm Đinh Mùi, 1307, tức là chỉ sau có mấy tháng kể từ ngày Công chúa Huyền Trân xuất giá qua xứ Chàm làm dâu, thì những cư dân Đại Việt đầu tiên gồm cả quan binh gia quyến của họ, đã rời khỏi vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã theo chân Hành khiển Đoàn Nhữ Hài, vượt qua ngàn dặm rừng rậm, núi cao, biển rộng đến đây cắm cây nêu trấn yểm, xác lập chủ quyền quốc gia.
NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhững ngọn gió heo may cuối cùng đã tắt. Nắng buổi sáng hanh vàng ngoài bến sông. Hàng cây trên phố Huế đã chừng như thay lá, lung linh một màu lá tơ non, mỏng như hơi thở của bầy con gái trường Hai Bà Trưng đang guồng xe đạp đến trường. Mùa xuân đã về bên kia sông. Đã về những cánh én nâu đen có đôi mắt lay láy màu than đá. Đã về những đóa hoa hoàng mai, vàng rưng rức như một lời chào ngày tao ngộ...
TÔ VĨNH HÀCon chó Giắc nhà tôi đẹp nhưng mà hư quá. Tôi hét nó nằm thì nó cứ giương mắt ra, rồi ngồi. Tôi không cho nó chạy vào nhà vì sợ nó làm bẩn cái nền nhà vừa lau thì nó đi vòng cửa sau, khi tôi ra cửa trước. Bực nhất là ngày lễ - nói chung là những ngày có việc, bất cứ ai vào nó cũng sủa rộn ràng. Tôi thì không muốn xóm giềng để ý. Vậy mà chó có biết cho tôi đâu...