Tính đến hết năm 2018, tỉnh Quảng Nam có 379 di tích các loại, phần lớn hư hại xuống cấp do thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thời tiết khắc nghiệt...
Di tích quốc gia Phật viện Đồng Dương thành phế tích
Thiếu kinh phí
Gần 8 năm kể từ khi hội thảo “Bảo tồn, phát huy giá trị Phật viện Đồng Dương” (xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình) kết thúc với nhiều giải pháp được đưa ra nhằm trùng tu di tích quốc gia đặc biệt này. Tuy nhiên, đến nay di tích vẫn là phế tích. Cả một quần thể rộng hàng ngàn mét vuông, niên đại hơn 1.000 năm với những bí ẩn về một trung tâm Phật giáo lớn nhất Đông Nam Á vẫn bị vùi lấp chưa thể phát lộ. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu kinh phí.
Theo thống kê từ Sở VH-TT-DL Quảng Nam, từ năm 2005 - 2015, Quảng Nam đã bố trí 42 tỷ đồng để đầu tư, tu bổ 16 di tích quốc gia và 37 tỷ đồng để tu bổ, dựng bia cho 85 di tích cấp tỉnh. Dù vậy, con số trên vẫn khá ít ỏi so với số lượng các di tích cần được đầu tư bảo tồn.
Năm 2015, HĐND tỉnh Quảng Nam ban hành Nghị quyết 161 về cơ chế đầu tư tu bổ di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020 với tổng mức đầu tư 80 tỷ đồng. Trong đó, các dự án tu bổ di tích quốc gia chủ yếu từ ngân sách tỉnh. Các dự án tu bổ di tích cấp tỉnh bên cạnh hỗ trợ từ ngân sách tỉnh còn có vốn đối ứng từ ngân sách địa phương và nguồn xã hội hóa.
Sau khi Nghị quyết 161 có hiệu lực, tính đến năm 2018, toàn tỉnh đã đầu tư, tôn tạo 5 di tích cấp quốc gia, 40 di tích cấp tỉnh và dựng bia 55 di tích với tổng vốn đầu tư gần 70 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ từ ngân sách tỉnh là 40,7 tỷ đồng, nguồn huy động từ địa phương là hơn 21 tỷ đồng và huy động các nguồn khác là 8 tỷ đồng.
Ông Phan Văn Cẩm, Giám đốc Trung tâm Quản lý di tích và danh thắng Quảng Nam, cho rằng, dù Nghị quyết 161 đã tạo cơ chế và nguồn lực cho các địa phương chủ động trong công tác quản lý, bảo tồn, trùng tu, tôn tạo di tích, tránh nguy cơ sụp đổ di tích, đồng thời nâng cao nhận thức toàn xã hội về gìn giữ, bảo tồn di sản nhằm phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch tại địa phương, tuy nhiên, chừng đó vẫn chưa đủ, cần phải có một cơ chế mới về bảo tồn trùng tu các di tích trong thời điểm hiện tại và những năm tiếp theo.
Ông Cẩm nói: “Thực tế, nguồn vốn bố trí thực hiện qua các năm vẫn chưa đảm bảo theo lộ trình đề ra, mặc dù hàng năm trung tâm đã tham mưu Sở VH-TT-DL đề nghị tỉnh bố trí đủ 16 tỷ đồng để tu bổ di tích theo danh mục. Chưa kể, do nguồn vốn đối ứng từ các địa phương cho công tác tu bổ chưa nhiều và nguồn huy động đóng góp từ các tổ chức, cá nhân, tộc họ vẫn chưa có, khiến việc đầu tư tu bổ, tôn tạo các di tích gặp nhiều khó khăn”.
Cần một cơ chế mới
Không phủ nhận Nghị quyết 161 đã tạo ra cơ sở pháp lý và nguồn lực trong việc bảo tồn, tôn tạo các di tích trên địa bàn tỉnh. Nhưng với những quy định và nguồn lực phân bố khắt khe, không phải di tích nào cũng được tu bổ kịp thời. Chính vì vậy, sự chủ động của các địa phương đóng vai trò khá quan trọng.
Tại TP Hội An, việc xây dựng cơ chế riêng trong bảo tồn di tích dựa trên nguồn thu từ vé tham quan đạt hiệu quả rất tích cực. Hiện TP Hội An có 1.429 di tích, riêng phố cổ có khoảng 1.130 di tích, bao gồm các công trình kiến trúc nghệ thuật và nhà ở. Riêng nhà ở chiếm số lượng chủ yếu với 1.069 căn.
Theo ông Nguyễn Chí Trung, Giám đốc Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An, từ năm 1995, TP Hội An đã ban hành cơ chế hỗ trợ đầu tư để bảo tồn các nhà cổ trong phố cổ với các tỷ lệ cụ thể: những di tích ở mặt tiền sẽ được Nhà nước hỗ trợ đến 60% kinh phí; trong kiệt, hẻm hỗ trợ 75% kinh phí trùng tu. Với chính sách này, đã có nhiều công trình, di tích được hỗ trợ kinh phí tu bổ kịp thời.
“Trung bình mỗi năm số tiền dành cho tu bổ các di tích này khoảng 5 - 7 tỷ đồng. Các nơi khác muốn cũng khó được vì không có tiền, còn Hội An nhờ có nguồn thu từ vé tham quan, đây có thể gọi là tái đầu tư vì kinh tế Hội An là kinh tế du lịch dựa trên nền tảng di sản văn hóa, mà đầu tư cho di sản văn hóa chính là đầu tư cho phát triển kinh tế”, ông Trung nói.
Mỗi năm, Hội An thu tiền bán vé tham quan phố cổ trên 250 tỷ đồng. Ông Nguyễn Xuân Hà, Phó Chủ tịch UBND thị xã Điện Bàn, cho rằng việc đầu tư cho công tác bảo tồn di tích là cần thiết nhưng nguồn lực đầu tư của địa phương có hạn, chưa kể kinh phí hỗ trợ của tỉnh cũng không tương xứng, tỉnh cần phải thay đổi lại cơ chế hỗ trợ nếu không các di tích sẽ nguy cấp, thậm chí sụp đổ trước khi được lập hồ sơ tu bổ.
Quay lại câu chuyện Phật viện Đồng Dương, trong một hội thảo về bảo tồn di tích mới đây, GS-TS-KTS Hoàng Đạo Kính nhìn nhận: “Phật viện Đồng Dương bây giờ đã trở thành phế tích hoàn toàn bị vùi lấp, điều này đặt ra những thử thách về nhiều phương diện như cách tiếp cận, phương pháp, kỹ thuật… Tuy nhiên, tất cả vẫn có thể làm được, vấn đề là nguồn vốn chứ không phải là giải pháp kỹ thuật”.
Tải mã QRCode
Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "
Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.
Thư Sông Hương Vậy là năm đầu của thế kỷ XXI, của thiên niên kỷ III Công lịch đã qua. Mới ngày nào đó, khắp hành tinh này còn rộ lên niềm hoang mang và hoang tưởng về một ngày tận thế ở năm 2000 bởi sự “cứu rỗi” của Thiên Chúa hoặc bởi sự “mù loà” của máy tính. Mới một năm thôi mà thế giới loài người đã qua biết bao bất trắc, xung đột, khủng bố... và máu và nước mắt! May mà đất nước chúng ta vẫn được bình yên, ổn định, phát triển theo Đường lối Đại hội IX của Đảng. May mà dân ta vẫn còn nhu cầu Văn hoá tâm linh. Văn hoá tâm linh cũng là thuộc tính của văn học nghệ thuật. Các tờ báo văn nghệ tồn tại được chính nhờ nhu cầu đó. Qua một năm nhìn lại, Tạp chí Sông Hương chúng tôi ngày một được bạn đọc tin cậy hơn, cộng tác càng nhiều hơn, thật là điều vinh hạnh. Song, ngược lại, chúng tôi cũng lấy làm áy náy vì bài vở thì nhiều mà trang báo lại có hạn, không thể đăng tải hết được, nhất là số Tết này. Ở đây, nó mang một nghịch lý chua chát, bi hài như một nhà viết kịch đã nói: “Số ghế bao giờ cũng ít hơn số người muốn ngồi vào ghế”. Ngoài sự bất cập ấy, hẳn còn có những điều khiếm nhã khác mà chúng tôi không biết làm gì hơn ngoài lời xin lỗi, lời cảm ơn và mong được thể tất. Chúng tôi xin cố gắng chăm lo tờ Sông Hương luôn giữ được sắc thái riêng, có chất lượng để khỏi phụ lòng các bạn. Dù thế giới có biến đổi thế nào đi nữa thì Sông Hương vẫn mãi mãi muốn được thuỷ chung với bạn đọc, bạn viết của mình. Nhân dịp tết Nhâm Ngọ, Sông Hương trân trọng chúc Tết các bạn sang năm mới thêm dồi dào sức khoẻ, thành đạt và hạnh phúc. S.H
Các bạn đang cầm trên tay số kỷ niệm 25 năm thành lập Tạp chí Sông Hương. Mới ngày nào đó, một ngày hè tháng 6 năm 1983, trong niềm khao khát của không khí đổi mới trong văn học nghệ thuật, Tạp chí Sông Hương số 01 ra mắt và đón nhận sự hưởng ứng của công chúng. Đó là một sự khởi đầu được mong đợi từ hai phía: người viết và bạn đọc.
Gần đây đọc các bài của Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Hùng Vĩ bàn về ba bài thơ Thu của Nguyễn Khuyến trên Văn nghệ (1), tôi thấy câu "Nước biếc trông như tầng khói phủ" trong bài Thu vịnh là câu thơ sáng rõ, không có gì khó hiểu mà lại được bàn nhiều. Mỗi người hiểu mỗi cách mà đều hiểu không đúng, chỉ vì không để ý rằng câu thơ này được viết theo lối "đảo trang".
(Nhân đọc: "Truyện Mã Phụng - Xuân Hương") * Truyện "Mã Phụng - Xuân Hương" trước đây còn được quen gọi dưới nhiều tên khác nhau, lúc là Vè Bà Phó, Vè Mã Phụng - Mã Long, khi là Thơ Mụ Đội, khi lại là Truyện Mã Ô - Mã Phụng v.v... là một tác phẩm văn học dân gian vốn được nhân dân Bình - Trị - Thiên rất yêu thích, phạm vi phổ biến trước Cách mạng Tháng Tám 1945 khá rộng.
Trên Tạp chí Sông Hương số tháng 3, nhân sự kiện Trần Hạ Tháp dành được giải A trong cuộc thi truyện ngắn của báo “Văn nghệ”, tôi vừa lên tiếng về sự “lặng lẽ” - một điều kiện cần thiết để làm nên tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị, nay lại nói điều ngược lại, vậy có “bất nhất” có mâu thuẫn không?
Trên thực tế, việc bảo tồn những vốn quý của cha ông để lại quả không phải là việc đơn giản, dễ dàng. Nhưng chúng ta sẽ không thể có sự chọn lựa nào khác bởi vì sẽ không có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nào cả nếu từ bây giờ chúng ta không biết giữ lấy những gì mình đang có.
Mang tên dòng sông duyên dáng thả mình bên thành phố Huế - SÔNG HƯƠNG, những trang tạp chí này là dòng chảy của những cảm xúc tươi đẹp trên “khúc ruột miền Trung” đất nước.
Từ xa xưa đến bây giờ, thường tục vẫn nói "sông có khúc người có lúc". Không biết Sông Hương bản báo năm rồi (năm tuổi 15) là sông hay là người? Có lẽ cả hai. Vậy nên cái khúc và cái lúc của nó đã chồng lên nhau - chồng lên nhau những khó khăn và tai tiếng!